|
||
|
Mới chỉ cuối Thu, Aix-en-Provence bỗng dưng sụt sùi mưa băo, thốc buốt những lưỡi gió Mistral. Khách sạn Moulin quen thuộc không c̣n pḥng trống, đành tạm trú gần trung tâm thành phố hơn. Pḥng đọc tài liệu (salle de lecture) thưa vắng hơn lệ thường. Những nhân viên quen mặt cũng đều đă hai thứ tóc. Tôi được miễn tiền lệ phí vào cửa (dù chỉ nhỏ thôi, nhưng là một cử chỉ ưu ái cho khách phương xa). Chỉ cần một buổi đủ để ghi lại các thay đổi kư hiệu cần thiết (dùng cho các cước chú). Tôi dùng th́ giờ c̣n lại đọc và làm phóng ảnh những hồ sơ trước kia chỉ chép tay, hoặc c̣n nhiều điểm chưa rơ ràng. Một số tư liệu tham khảo nhiều năm trước bị hư hại, chỉ c̣n biết dựa theo ghi chép hoặc phóng ảnh có trong tay. Những văn thư viết trên giấy mỏng (pellure) không c̣n được làm phóng ảnh. Bản đồ hay phóng đồ hành quân cũng vậy, phải qua một kỹ thuật làm phóng ảnh khác, không những tốn kém mà c̣n mất nhiều thời gian. Phóng đồ chiến dịch đánh phá, truy đuổi lănh tụ Cần Vương Phan Đ́nh Phùng của Khâm mạng Nguyễn Thân, cùng các cộng sự viên như Nguyễn Đĩnh, Lê [Tựu] Khiết, Ngô Đ́nh Khả năm 1895-1896, chẳng hạn, tôi chỉ nhận được sau ngày trở lại Houston. Dù rất đáng công chờ đợi-lần đầu tiên người đọc sẽ có ư niệm rơ ràng về vùng phân chia lănh thổ hoạt động của các Tán tương Nguyễn Đĩnh, Tán lư Lê [Tựu] Khiết, Thương biện Ngô Đ́nh Khả, hay vị trí các đồn bót Pháp, và chi tiết các địa danh “Ngàn Trươi,” “Ngàn Sâu,” “Vụ [Vũ] Quang,” v.. v... thường quá trừu tượng trong các báo cáo của các viên chức Pháp. (Nhiều năm trước, tôi đă làm phóng ảnh biên bản khai quật mộ cụ Phan Đ́nh Phùng trong khu vực trách nhiệm của Ngô Đ́nh Khả, đại diện cá nhân Khâm mạng Nguyễn Thân, tại miền Tây Bắc Quảng-b́nh, rời mang về Hà-tĩnh cho người biết mặt nhận diện, kể cả giáo mục Trung, cùng các hương chức, cựu chiến hữu và thân nhân lănh tụ Cần Vương Phan Đ́nh Phùng, và hai báo cáo tháng 12/1895 và 1/1896 của Khâm sứ Ernest Brière từ nhiều năm trước, để giải quyết một lần và măi măi nghi án “đào mộ” cụ Phan Đ́nh Phùng mà tác giả Trần Trọng Kim nêu lên). Tại Trung Tâm Văn Khố Hải Ngoại (CAOM), vào giờ chót, c̣n may mắn được phép tham khảo một số tư liệu chưa giải mật trong kho Conseiller politique (Cố vấn chính trị), giúp bổ túc ít chi tiết về các vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, Bảo Đại, hay Hoàng thân Cường Để. Chỉ đáng tiếc, tấm h́nh quí hiếm của cựu hoàng Duy Tân - với khuôn mặt xương xương, cặp kính cận kiểu cổ, và bốn vệt vàng trên cầu vai quân phục - không được phép in lại. Tư liệu này chỉ được giải mật năm 2009. Đây là một trong hai tấm h́nh do Trung tá Regondeau, Trưởng Pḥng Nghiên cứu Nha Quân nhân Thuộc địa (SEITC) của Bộ Chiến Tranh Pháp đích thân chụp. Regondeau là người có trách nhiệm “chăm sóc” Hoàng tử Vĩnh San những ngày cuối cùng ở Paris, kể cả việc cho thư kư giúp Hoàng tử đánh máy mọi thư từ gửi bằng hữu hay Bộ Thuộc Địa. Kiểu h́nh này, đă ố vàng thời gian, được gửi cho Linh mục/Cao Ủy Georges Thierry d’Argenlieu hai tấm, sau cái chết của cựu hoàng ngày 26/12/1945, kèm theo một bài viết của Regondeau trên tờ Climats, dưới bút danh Claude Artois, về cái chết cho nước Pháp của “Zuy Tân,” con người nhỏ bé, nặng chưa tới 40 ki-lô, nhưng toàn thân là một khối nghị lực sắc bén, năng động.
Nhân chuyến du khảo này - có bào huynh Vũ Ngự Triệu đồng hành - chúng tôi làm việc tại Thư viện Quốc Gia Pháp, tức Thư viện Francois Mitterrand. Chi nhánh “báo chí” của Thư viện, một kho tàng chưa được các chuyên viên về Việt Nam tận dụng, mới dời từ Versailles về Quận XIII Paris cùng những sưu tập ấn loát phẩm khác. Ngoài các tựa Thành tích biểu Hành chính An-Nam (Bulletin administratif d’Annam) và Công báo (Journal Officiel) Pháp cũng như Đông Dương, chúng tôi chú trọng vào ba tờ Nam Phong, Tiếng Dân, và La tribune indochinoise (Diễn đàn Đông Dương), cùng làm phóng ảnh các tư liệu trước kia chỉ ghi chép những điểm chính yếu. Những buổi tối se lạnh trên căn gác nhà Trần Tôn Trí lưng triền đồi Succy-en-Brie, có dịp so sánh những bài viết trên Nam Phong, xuất bản ở Hà-nội, của Phạm Quỳnh, Tiếng Dân ở Huế của Huỳnh Thúc Kháng, và La tribune indochinoise tại Sài-g̣n mà Nguyễn Phan Long và Bùi Quang Chiêu là đồng Giám đốc chính trị, cùng các báo cáo của viên chức Pháp về cuộc đảo chính cung đ́nh 2/5/1933 - đúng hơn, một cuộc thay ngựa giữa ḍng của nhóm Albert Sarraut-Pierre Pasquier - mới hiểu tại sao Phạm Quỳnh trở thành đối tượng của sự hằn thù quá mức của giai tầng trung gian bản xứ đương thời. Ngoài sự thăng tiến vượt bực từ một nghị viên Bắc Kỳ lên hàng thượng thư ở Huế, việc Phạm Quỳnh, hoặc một cây bút nào đó của Nam Phong, ví Viện Cơ Mật do Nguyễn Hữu Bài làm “Tể tướng” - hay, Tổng lư Nội các - từ 1925 tới 1933 chẳng khác ǵ “một cái tiểu nha môn” của Ṭa Khâm sứ Huế, đă đủ khiến chủ bút Nam Phong biến thành tử thù của thế lực Ki-tô đang thống trị giai tầng trung gian ở An-Nam. Và, thế lực này có ảnh hưởng bao trùm toàn Đông Dương. Ngay đến tờ Tiếng Dân cũng xa gần, nhẹ nhàng nhắc nhở Phạm Quỳnh về chuyện “được và mất,” chẳng nên lấy đó làm kiêu ngạo. Riêng Nguyễn Phan Long quả xứng đáng là phát ngôn viên của Nguyễn Hữu Bài -không những đả kích cuộc “đại cải cách” của Pasquier là tồi dở, ác độc với các cộng sự viên cũ (tức nhóm Nguyễn Hữu Bài), mà c̣n chỉ trích cả những việc như Phạm Quỳnh ch́a tay ra trước cho Bảo Đại bắt.
Chúng tôi cũng làm việc tại văn khố Hội Truyền Giáo khoảng hai tuần. Đây là lần thứ hai được tham khảo tư liệu ở rue du Bac. Chúng tôi chú trọng vào Giám mục Paul Puginier tại Tây Ầàng Ngoài (1868-1892), đại chủng viện (Collège Général) Pinang ở Malaysia, cùng các báo cáo về những cuộc Lương-Giáo tương tàn trong thập niên 1880 tại các giáo xứ miền Trung. Một số tư liệu này nằm rải rác ở Aix-en- Provence, Bộ Ngoại Giao, Văn khố trung ương Pháp, cũng như các văn khố Hải quân và Lục quân. Tại rue du Bac, các thư tín của Giám mục Puginier tập trung thành một hồ sơ - nhưng chỉ có từ 1874 tới 1892 - và đă chụp microfilm, nên việc làm phóng ảnh dễ dàng. Chúng tôi làm phóng ảnh những tài liệu chính yếu, khoảng hơn 100 trang viết tay khổ lớn được viết trong giai đoạn 1885-1892. Các tư liệu này cô đọng những “tin tức t́nh báo và suy tư” của Puginier sau phần tư thế kỷ ở giáo phận Tây Đàng Ngoài. Khảo sát lại các tư liệu trên, chúng tôi có dịp xác tín những ghi chép của ḿnh trước đây về kế hoạch Ki-tô hóa dân Việt của Giám mục Tây Đàng Ngoài - nếu không phải đại đa số giáo sĩ - và những auxiliaires hay courtisans bản xứ như Trần Lục, Lê Văn Bá, Tạ Văn Phụng, Nguyễn Hữu Bài, v... v... Dù chưa hẳn đă đồng ư với lối lập luận đầy lạc quan của Puginier - như, “thêm một giáo dân Ki-tô, bớt đi một kẻ thù của nước Pháp,” hay “niềm tin tôn giáo sẽ bảo vệ những người phục vụ Pháp,” khiến họ vô nhiễm - chúng tôi cũng đă nhờ một chuyên viên dịch qua Việt ngữ, hy vọng sẽ cung cấp thêm tài liệu hữu ích cho các nghiên cứu gia tương lai. Và, để như Puginier nhiều lần khẳng định trong những “mật báo và suy tư” gửi quan tướng viễn chinh Pháp, cho lịch sử thẩm giá.
Quan trọng hơn cả là việc nghiên cứu tại văn khố Bộ Ngoại Giao trên Quai d’Orsay, và Văn khố Bộ Lục Quân tại Chateaux de Vincennes. Tại Quai d’Orsay, ngoài kho Mémoires et Documents, Asie (101 tập) quen thuộc, chúng tôi làm việc trên các nguồn tư liệu về miền Nam Việt Nam, từ 1954 tới 1964. Những chi tiết ít nhiều liên quan đến thời Các Vua Cuối Nhà Nguyễn trong kho tài liệu Cambodge-Laos-Vietnam - như chính sách chống lại Hội Truyền giáo Pháp của Tổng Giám mục Ngô Đ́nh Thục từ năm 1956, một kết quả khó tránh của khuynh hướng tự trị từ thập niên 1920; sự lạnh nhạt của Vatican với Ngô Đ́nh Thục vào tháng 9/1963 (Giáo Hoàng Paul VI hủy bỏ một buổi triều kiến dự định vào ngày 9/9); hay, chính sách công khai cổ vơ việc cải đạo Ki-tô của chính phủ Ngô Ầ́nh Diệm (1954-1963) - khiến chúng tôi phải cắt ngắn thời gian dự trù làm việc tại Aix-en-Provence. Những tư liệu mới tham khảo c̣n giúp minh giải vài “tin đồn” hay “huyền thoại” lịch sử cận đại.
Mặc dù không và chưa ai đưa ra được một tư liệu nào chứng minh Tổng thống Diệm chống đưa lính chiến đấu Mỹ vào miền Nam, nhưng vài ba người đă tạo nên huyền thoại này suốt gần 4 thập niên. Tư liệu trong kho Cambodge-Laos-Vietnam ghi nhận Ngô Đ́nh Diệm, ít nữa cho tới ngày 7/11/1961, không những muốn đón nhận quân chiến đấu Mỹ và các nước bạn, mà c̣n tuyên bố đại đa số dân miền Nam tán thành việc này. Trong một cuộc tiếp kiến Đại sứ Roger Lalouette của Pháp, Tổng thống Diệm c̣n tuyên bố rằng theo sự ḍ xét của riêng ông, đa số dân miền Nam ủng hộ việc tham chiến của quân Mỹ. Thời gian này, Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ cũng tuyên bố tương tự với Lalouette. Và, những người tham khảo tư liệu Bộ Ngoại Giao Mỹ, đều chưa quên việc Bộ trưởng Quốc Pḥng Nguyễn Đ́nhThuần - theo lệnh của Ngô Đ́nh Diệm - cũng yêu cầu Mỹ can thiệp cho quân chiến đấu Mỹ, hoặc hai sư đoàn Đài Loan tăng viện cho Việt Nam Cộng Ḥa. Như thế, những lời tuyên bố chống Mỹ vào đầu năm 1963 của vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu chỉ nhắm vào các cố vấn quân sự Mỹ sau khi Ngô Đ́nh Nhu đă bí mật gặp nhiều đại diện Cộng Sản, kể cả Phạm Hùng, người sẽ trở thành Bí thư B-2 từ năm 1967, với hy vọng thấu cáy, chống lại áp lực cải tổ chính trị và nhân sự-nhất là việc bắt Tổng Giám Mục Thục cùng hai vợ chồng Cố vấn Nhu rời nước.
Chưa có tư liệu nào chứng minh được liên hệ giữa cuộc tranh đấu của Phật giáo và sự “giật giây” của Cộng Sản. Ngô Đ́nh Diệm cũng không xa lạ với sự đàn áp có chủ tâm này. Nhân chứng đương thời, kể cả Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm, khẳng định Tổng thống Diệm biết rất rơ mọi diễn biến, từ chính sách kỳ thị Phật giáo do Ngô Đ́nh Thục chủ trương tới cuộc đàn áp của Đặng Sĩ tối ngày 8/5/1963 ở Huế-khiến 7 người tử thương, kể cả hai thiếu nhi bị xe blinder (tuần thám) cán chết-nhưng vẫn gọi Tướng Lê Văn Nghiêm, Tư lệnh Quân Đoàn I, vào Sài-g̣n, đích thân cho lệnh “văn hồi trật tự,” và phải nhận lệnh từ Ngô Đ́nh Cẩn. Khi Tướng Nghiêm từ chối đàn áp tăng ni, Phật tử, Ngô Đ́nh Diệm giao cho Đại tá Đỗ Cao Trí nhiệm vụ trên; và rồi phong Trí lên Thiếu tướng vào tháng 7/1963 để thay Tướng Nghiêm nắm Tư lệnh Quân khu I. Gặp nhiều trở ngại kỹ thuật (như hai máy photocopier đều bị hư trong chiều cuối cùng ở Paris), nhưng nhờ nhiệt t́nh và sự ưu ái của nhân viên văn khố, chúng tôi vẫn làm được một số phóng ảnh quan trọng. Sử dụng chung với tư liệu văn khố và tư liệu Bộ Ngoại giao Mỹ, các tư liệu Ngoại giao Pháp này giúp tái dựng sự thăng tiến và rồi tuột dốc chết người của chế độ Ngô Đ́nh Diệm (1954-1963). Đồng thời, có thể an tâm hiệu đính những tập c̣n lại của bộ Việt Nam Niên Biểu. Quan trọng hơn, những tư liệu mới được tham khảo tạo thêm những khoen nối vững vàng cho chu tŕnh Ki-tô hóa và giải Ki-tô đề cập trong Các Vua Cuối Nhà Nguyễn. Văn khố Lục quân Thời gian làm việc tại Văn khố Lục quân Pháp tại Chateaux de Vincennes, ngoại ô Paris, cũng bị cắt giảm v́ những tư liệu mới t́m thấy tại Quai d’Orsay. Nhờ được phép đặc biệt tham khảo các tư liệu Pḥng nh́ Pháp để có thể so sánh với tài liệu của chính phủ Cộng Sản Việt Nam hiện nay, chúng tôi đọc khá nhiều hồ sơ đáng giá, từ cái chết của Nguyễn B́nh, tới vai tṛ của Hội Công Giáo yêu nước, hay những cán bộ đặc vụ (phản gián) kỳ cựu như Albert Phạm Ngọc Thảo, v.. v... Tôi cũng làm phóng ảnh vài số báo viết tay cùng ít tờ Tiếng Súng Kháng Địch và Kháng Địch của Quân Khu IX (Cà-mau) mà nhà văn Xuân Vũ, tác giả trường thiên Dấu Chân Xuôi Ngược, từng cộng tác trong thời kháng chiến đă xa.
Thực ra, việc hiệu đính Các Vua Cuối Nhà Nguyễn chưa hoàn tất theo ư định. Dẫu bản thảo c̣n khiếm khuyết, chúng tôi vẫn mạo muội công bố Phần II của bộ Các Vua Cuối Nhà Nguyễn này. Hơn hai mươi năm làm việc khó thể bảo ngắn, và một tác phẩm hoàn hảo chỉ hiện hữu trong ước mơ. Đại cương, những khoen nối đă đầy đủ cho sự tái dựng giai tầng trung gian bản xứ thượng lưu trong giai đoạn nghiên cứu. Đáng tiếc chăng là chưa được tham khảo các Châu bản nhà Nguyễn, một kho tàng tư liệu vô giá-dù trên đại thể, các tư liệu này đă được dịch qua Pháp ngữ, hoặc công bố đó đây. Thêm nữa, dù nhiều nghi án lịch sử vẫn c̣n là nghi án - từ sự lưu đầy của Thành Thái tới cuộc xuất giá của Duy Tân - phải nhiều thập niên sau mới có hy vọng t́m được đáp án. Đây là sự khiếm khuyết nhức đầu của người nghiên cứu nuôi tham vọng san định lịch sử cận và hiện đại nước nhà. Để phần nào bổ khuyết, tôi công bố tiếp nhiều phụ bản Pháp và Việt ngữ để làm sáng tỏ hơn những chi tiết trong sách. Một số phụ bản - như chứng từ về cái chết của Phan Đ́nh Phùng - được in ngay trong phần văn bản; trong khi đa số tư liệu khác in ở phần cuối tập 2 và 3. Nhiều phụ bản cũng không tiện in lại toàn bộ, v́ không cần thiết. Một số tư liệu quí, hiếm - như các thư từ của các giáo sĩ - xin tạm gác lại cho bộ Việt Nam Niên Biểu: Tập II: Các tổ chức tôn giáo & chính trị. Tầm quan trọng của biến cố cung đ́nh ngày 2/5/1933, một cuộc thanh trừng ít người tường tận, khiến chúng tôi dành cho phần Phụ bản ở cuối tập 3 số trang khá lớn trích từ báo Nam Phong. Các Phụ bản không xếp theo thứ tự thời gian, mà tùy theo mức quan trọng. Trong Phụ bản 9 về Thành Thái và Duy Tân, chúng tôi cho in lại các tư liệu chính yếu của tập Lá bài bí mật của de Gaulle: Hoàng tử Vĩnh Sang (1900-1945), v́ biên khảo trên đă tuyệt bản và nội dung được sử dụng hầu như toàn bộ trong hai chương “Duy Tân: Vua Làm Loạn”, và “Nước Pháp thiếu may mắn?” Hai tư liệu mới công bố liên quan đến pḥng Thành Thái là lá thư năm 1916 của Bửu Lân gửi XLTV Toàn quyền Charles, đ̣i Vĩnh San phải bồi thường 10,000 francs phí tổn di chuyển chỗ ở từ Cap St Jacques sang Réunion (để phản công lời tố cáo Bửu Lân đă thông dâm với Mai Thị Vàng); và, lá thư năm 1960, gửi từ Huế, của vương phi Nguyễn Thị Định-Hoàng sanh, tức mẹ ruột cựu hoàng Duy Tân - nhờ chính phủ Pháp ở Réunion t́m giúp cháu nội. Chọn thư của vương phi Nguyễn Thị Định để kết thúc sơ thảo Các Vua Cuối Nhà Nguyễn (1883-1945) trong hồi tưởng về lời giáo huấn của phụ thân chúng tôi, người đă khuất núi khi con trai lớn đang bị đày ải trong trại cải tạo Cộng Sản, con trai thứ hai lưu lạc, ngậm nhục mà sống xứ người sau cơn binh lửa, đám tang thiếu cả hai cây gậy theo sau quan tài - Và, cũng lời nhắc nhủ, bao lần, của thày Nguyễn Bỉnh Tuyên, người đă mở đường cho tôi vào nghiệp văn bút: “Dân giả là cội nguồn của mọi vua, quan, khanh tướng.” Một vương phi-dù ở cương vị Thái hậu, Hoàng “đích” hay Hoàng “sanh”- cũng chỉ là một người vợ và người mẹ, với những chức năng và thiên tính giống bất cứ một người đàn bà nào khác nơi thôn dă. Như thế, Phụ bản cuối cùng c̣n gợi nhắc tôi, đồng thời cũng lời ghi nhận, về sự khiếm khuyết của Các Vua Cuối Nhà Nguyễn quanh vai tṛ của các thái hậu, vương phi, cùng những liên hệ chân rết, đan rễ, giữa gia tộc và quyền lực-một chủ đề chưa được nghiên cứu tường tận.
Sự niềm nở, nhiệt t́nh của quí vị quản thủ, nhân viên văn khố, thư viện Pháp đă giúp việc khảo cứu thu nhiều kết quả. Xin ghi nhận những đặc ân của quí vị Tổng Giám đốc Văn Khố Pháp thuộc Bộ Văn Hoá, Tướng J-L. Mourrut của Văn khố Lục quân, Linh mục Gérard Moussay tại Văn khố Hội Truyền giáo, cô Vachier của văn khố Aix en Provence, và một đồng bào người Việt tại Chateaux de Vincennes. Những ân cần của các sinh viên và nghiên cứu sinh trẻ, cùng một số học giả gặp gỡ, cũng xin được ghi nhận. Quí ông Trần Thanh Hiệp, Vũ Anh Đạt, Phạm Kế Viêm, Phạm Xuân Hy, Đặng Văn Trượng, Tôn Thất Tuấn, vơ sư Phạm Gia Cầu, gia đ́nh Nguyễn Văn Nghi, Trần Tôn Trí, cùng nhiều thân hữu, dù quen biết đă lâu hay mới chỉ gặp mặt lần đầu, giúp một tháng mùa Đông Paris và Aix-en-Provence lưu lại những kỷ niệm khó quên. Đáng ghi nhớ là dù cùng cư ngụ ở Mỹ, sau gần 4 năm không gặp, bỗng nghe tin Nguyễn Xuân Hoàng mới ghé Paris. Hẹn gặp nhau tại quán ông bà Phạm Kế Viêm, nhưng chỉ hàn huyên chưa đầy một giờ đă phải chia tay. Chỉ thật đáng buồn, khi trở lại Houston, Luật sư Harold Seligman -người đă hướng dẫn tác giả trong nghề Luật hơn một năm qua, và vui vẻ chấp thuận cho tác giả tạm nghỉ một tháng để thực hiện cuộc du khảo trước khi dồn mọi nỗ lực cho nghề nghiệp mới - không c̣n nữa. Nhà thơ Đặng Hiền cũng không ghé Houston vào dịp Thanksgiving như đă hứa, v́ muốn cho tôi được hưởng trọn vẹn Lễ Tạ ơn “home, sweet home.” Những ngày cuối thế kỷ XX - trong cơn sốt Y2K của dân chúng thế giới - nh́n lại gần phần tư thế kỷ lạc đường vào thế giới sử học, nh́n lại 150 năm lịch sử cận và hiện đại nước nhà, sắp xếp lại những chồng hồ sơ đă mờ ố thời gian, bâng khuâng với sự tri nghiệm bấy lâu về sự ngắn ngủi của đời người và sự hạn hẹp của kiếp sống, thoáng dấy động những trăn trở. Bài học ố máu lịch sử Việt mấy ai đă chiêm nghiệm, học hỏi? C̣n bao nhiêu nỗ lực che đậy sự thực lịch sử bằng những tiểu xảo, man trá, bịp bợm qua kỹ thuật cung văn lịch sử, xây dựng “kỳ đài lịch sử,” hay chửi bới, mạ lÿ quàng xiên? Tàn tích của thế kỷ quốc dân Việt nấu cơm bằng nước mắt khổ đau, nhục nhằn và tang tóc c̣n di hại hậu thế bao lâu? VŨ NGỰ CHIÊU
|
|
|