|
||
|
Bấy giờ là buổi trưa ở toà báo nơi tôi làm việc, trong lúc chờ đợi tới giờ họp của toàn thể nhân viên để nghe cuộc bàn giao quyền sở hữu tờ báo giữa chủ cũ, công ty Omaha World Herald, và chủ mới, Ottaway Newspapers Inc., một subsidy của công ty Dow Jones, chủ nhân của tờ Wall Street Journal, với giá là 144 triệu Mỹ kim. Từ ngày tôi vào làm việc với tờ The Record, từ vai tṛ một copy editor chuyển qua điều hành thư viện của pḥng tin tức, đây là lần thứ hai, trong ṿng chưa đầy 10 năm, tờ báo được mua đi bán lại, thành ra tôi không nao núng như những người vào làm việc dăm bẩy năm trở lại đây. Họ nao núng cũng một phần v́ t́nh h́nh kinh tế không được sáng sủa lắm, đặc biệt từ sau vụ khủng bố của không tặc ngày 9 tháng 11 năm 2001 ở New York và Washington D.C., tiếp theo là chiến tranh ở Afghanistan và rồi Iraq, với tin nhiều tờù báo đă phải sa thải bớt nhân viên để cắt giảm chi phí. Nh́n số điện thoại của người gọi trên cái khung Caller ID của máy điện thoại, tôi nhận ra số area code của Bandon, nghĩ thầm chắc Palle vừa cho nối xong đường giây điện thoại trong căn nhà vừa xây xong mới dọn vào được chưa đầy hai tuần sau sáu tháng tá túc tại quán trọ Cái Bàn Đá của mẹ con chị Lệ, và đang gọi tôi để chúc mừng sinh nhật của tôi trễ một ngày. Cả ngày hôm qua, sinh nhật 59 của tôi, tôi chờ điện thoại của anh mà không thấy, đă hơi buồn, song đoán có thể anh đang bận trang hoàng nhà mới. Người gọi tự giới thiệu là một sĩ quan cảnh sát của thành phố Bandon. “Người ta t́m thấy ông nhà nằm trên sàn nhà, có lẽ cũng đă nằm đó tới hai ngày,” viên sĩ quan cảnh sát nói. “Nhà tôi bị sao vậy?” tôi hồi hộp hỏi. “Chúng tôi chưa biết. Hiện ông nhà nằm trong nhà thương Bandon chờ thử nghiệm. Chúng tôi cần biết ông nhà có những vấân đề sức khoẻ ǵ để bác sĩ tiện chẩn bệnh,” viên sĩ quan nói. Tôi cho viên cảnh sát biết về các vấn đề sức khỏe của Palle mà những ngưới ở tuổi trên dưới 70 thường khó tránh: áp huyết và cholesterol cao, bố mẹ người Đan Mạch đều chết v́ bị stroke, và một cái bệnh có từ trước khi chúng tôi lấy nhau 27 năm về trước, đó là bệnh đau dạ dầy mà hễ bị áp lực của cuộc sống hoặc ăn uốâng không cẩn thận là lại bị nó hành. Tôi hỏi viên sĩ quan cảnh sát Palle c̣n tỉnh không th́ được biết là c̣n, nhưng không nói được nhiều và mạch lạc lắm. Đây là lần đầu tiên chồng tôi, một người năng động và nói năng lưu loát hùng biện rơi vào trạng huống đó – tôi vẫn đùa bảo anh phải làm luật sư mới phải, thay v́ là làm kiến trúc, nhưng luật sư, cùng với các chính trị gia và người làm nghề bảo hiểm, là thứ anh ghét nhất. Tôi có thể h́nh dung ra sự bất măn của anh v́ bỗng dưng phải nằm bẹp một chỗ. Có lẽ là bị tim và kế đó là bị mất nước v́ nằm trên sàn nhà không ai hay tới hai ngày, viên sĩ quan cảnh sát nói, chứ không phải stroke. Tôi thở ra, ít ra không phải stroke, có nghĩa là ít nhiều sẽ bị liệt sau đó. Tôi gọi nhà thương nhưng được biết Palle đang ở trong pḥng chờ thử nghiệm, không nhận điện thoại được. Tôi gọi cho cháu trai lớn, Tony, ở San Diego báo tin và bảo nó gọi cho hai con em, một đang theo học khoá y học pḥng ngừa ở trường của Hải Quân cũng ở San Diego, và một làm nghề viết văn ở Austin, Texas. Tôi cho Tony biết là tôi sẽ lên đường đi Bandon sớm ngày mai. Tin Palle phải vào nhà thương là tin lần đầu tiên xảy ra trong gia đ́nh tôi, nên dù không ai nói ra nhưng chúng tôi thảy đều có linh tính về một sự rất bất thường. Tôi cũng cho cháu biết tôi phải nán lại sở để dự buổi họp v́ báo vừa bán cho chủ khác, sáng mai mới lên đường đi Bandon được. Tôi nghe nó kêu lên, “Oh, no, not the same time… Liệu… có sao không, mẹ?” “Chắc không sao đâu,” tôi trấn an con. “Từ sau biến cố 9-11, trong khi nhiều báo sa thải nhân viên để cắt giảm chi tiêu, tờ báo của mẹ chưa hề cho một ai nghỉ việc, mà c̣n mướn thêm phóng viên v́ mở thêm hoặc khai triển thêm văn pḥng địa phương nữa. Giữ nhân viên và tiếp tục dùng… kỹ thuật lỗi thời để giảm chi tiêu là ‘tôn chỉ’ của tờ báo, con đừng lo.” Rồi tôi dặn thằng con bảo các em nó đừng vội lên Bandon lúc này, để chờ xem t́nh h́nh của Palle ra sao đă. Có thể sẽ không có ǵ trầm trọng hết, tôi bảo con và cũng tự trấn an. Tôi đi họp mà như người đi trên mây, thấy hững hờ với những ǵ đang diễn ra quanh ḿnh. Có lẽ phần lớn cũng tại đă tiên đoán là sẽ không có thay đổi ǵ quan trọng xảy ra ngay. Tôi nhớ tới lần đổi chủ lần trước khi tờ báo được công ty Gannett bán cho hăng Omaha World Herald vào năm 1994 với giá 75 triệu Mỹ Kim, viên phóng viên thương măi được cử viết bài về việc tờ báo đổi chủ, và đấy là lần thứ hai ông phóng viên này được chứng kiến cảnh báo đổi chủ (lần trước nữa là lúc tờ báo được chủ trước nữa bán lại cho Gannett), nói trong buổi họp ṭa soạn, “Ít ra báo chỉ đổi chủ thôi, chứ không phải đóng cửa.” Bà executive editor quay sang tôi, hơi mỉm cười nhưng có nét lo âu, nói chắc là chị quen với cảnh báo chí bị đóng cửa, nhớ tới quá khứ làm chủ nhiệm báo ở Sàig̣n trước 1975 của tôi. Tôi hơi mỉm cười thay lời đáp lại. Vài tháng sau th́ bà executive editor, cũng là mentor và bạn tôi, bị văng chức v́ bất đồng chính kiến với ông chủ nhiệm mới vừa trẻ lại vừa là đảng viên đảng Cộng Ḥa có khuynh hướng bảo thủ. Tôi chỉ bị cô lập, hoặc có thể là do ấn tượng là minh thiếu sự hỗ trợ kỹ thuật để làm việc, chứ không bị văng, có lẽ v́ tôi chỉ là một thứ giám thị tép riu, và v́ cái nghề lưu trữ và sưu tầm tài liệu của tôi không phải là thứ nghề ai cũng thích làm và làm nổi v́ tỉ mỉ và dính dáng tới kỹ thuật hơi nặng, lại “thiếu vinh quang”, một thứ “unsung heroine”. Người ta khi nghĩ tới làm báo là nghĩ tới những ng̣i viết có thể thay đổi hay cải cách xă hội, chính trị, đời sống, hay ít ra là một vài cá nhân. Khi ôm sách trở lại trường chính thức học về ngành báo chí ở tuổi mới chớm bốn mươi, tôi cũng c̣n mơ cao lắm. Bây giờ th́ tôi như con ngựa hoang đă thuần thục, biết thân biết phận, hài ḷng với việc ḿnh làm, đặc biệt từ ngày có thêm phương tiện Internet, với một chân lư đơn sơ: Càng những nghề chả ai muốn là cái nghề cho ḿnh đươc cái “an ninh nghề nghiệp”. Vả lại, tôi đă trở thành một thứ “ma cũ” ở tờ báo này rồi, chả ai “bắt nạt” được tôi nữa. Chỉ c̣n vài năm nữa tôi sẽ về hưu, sẽ dọn lên Bandon với Palle và sẽ thực hiện vài dự án tiểu thuyết vẫn ôm ấp. Palle cũng c̣n muốn thấy tôi trở lại với hội hoạ. Anh nói ở Bandon có nhiều hoạ sĩ sống và vẽ. Tôi đáp để tôi xem xem sao, nhưng cũng quá ư thức là “mười ngón tay bắt được của trời” ngày nào đă rơi rụng theo năm tháng rồi. Sau buổi họp tôi vào gặp ông editor-in-chief và ông managing editor tŕnh bày lư do tôi phải đi Bandon sớm hơn dự tính một tuần. Hai ông chúc tôi lên đường bằng an và Palle chóng b́nh phục. Buổi tối hôm ấy tôi sắp xếp hành trang, qua dặn ḍ bà hàng xóm Carol sát vách về việc tôi phải đi Bandon, và trao cho bà ch́a khoá nhà để pḥng hờ. Carol chúc tôi mọi sự tốt đẹp. Đó là lần thứ hai tôi trở lại Bandon, và là lần đầu tiên tôi gặp Chị Lệ, người mà tôi có cảm tưởng như đă quen biết từ lâu lắm rồi. Cũng như lần trước đến đây với Palle để t́m một nơi về hưu và đồng thời thực hiện giấc mơ của hai vợ chồng, đó là được sống gần biển, nơi tôi ghé trước tiên là Quán Trọ Cái Bàn Đá của Chị Lệ ở ngay bên bờ biển. Gọi là Quán Cái Bàn Đá v́ ở gần đó, không xa bờ là mấy, có một ḥn đá lớn bằng phẳng trông như mặt một cái bàn, trên đó đủ mọi loài chim biển về làm tổ xướng hoạ râm ran cả một góc biển. Lần ghé kỳ trước tôi không gặp Chị Lệ v́ nghe nói chị đi San Francisco dự đám cưới của con trai lớn, nay làm việc ở vùng San Jose. Con gái út của tôi, Christina, t́m ra cái quán trọ này hồi c̣n đi học ở Đại Học Humboldt ở cực bắc của California. Khi nghe nói chúng tôi sẽ đi Bandon, cháu nói nên ghé thuê pḥng ở Quán Trọ Cái Bàn Đá. “Mẹ sẽ thích chỗ đó v́ bà chủ là một người Việt Nam, rất dễ thương,” cháu nói, hào hứng sôi nổi, như bản tính cháu vớí nửa gịng máu trong ngướ có nguồn gốc dân Viking và nửa kia của con cháu các Bà Trưng Tirệu. Tôi cũng sinh ṭ ṃ. Một người Việt, mà lại là đàn bà, làm chủ một cái quán trọ ở một cái tỉnh heo hút, ít ai biết tới bên bờ biển ở tây namTiểu Bang Oregon. Đa số người Việt ở Mỹ thích tụ tập ở những nơi nào có đông người Việt, hoặc ít ra gần nơi có đông người Việt cư ngụ để – đây là điều theo tôi khá quan trọng — tiện việc chợ búa hay tiệm ăn Việt Nam pḥng hờ lúc làm biếng nấu ăn. Sống đời sống Mỹ, đi xe Mỹ (đă hẳn là phần lớn là nhập cảng rồi, nhưng là sản xuất cho phù hợp với sở thích và luật lệ của Mỹ), ở nhà Mỹ, nói tiếng Mỹ, làm việc với Mỹ, nghĩ và cả nằm mơ cũng bằng tiếng Mỹ, quen với luật pháp và trật tự Mỹ, như thế đă cả gần ba chục năm, như tôi, nhưng không thể không vẫn phải… ăn cơm Việt. Thế mà Chị Lệ lại chọn sống ở Bandon mà thống kê gần đây nhất cho biết là chỉ có… ba người là Việt Nam – tôi tự hỏi không biết ngoài chị Lệ th́ hai ngướ Việt kia là ai? Chả lẽ là hai thằng con lai Đức của chị Lệ? — hỏi làm sao tôi không ṭ ṃ về chị được. Tôi đoán chắc mỗi lần xuống San Francisco cách đó trên 500 dặm, Chị Lệ chắc phải mua về cả thùng xe mắm muối gạo và các thứ gia vị để nấu đồ ăn Việt. (Chỉ về sau này tôi mới biết, khi cần ít nước mắm, v́ đi vội nên không mang theo các thứ gia vị nấu đồ Việt, sang hỏi mượn chị và được biết chị… không dùng nước mắm v́ ăn chay trường.) Nhưng đấy là sự ṭ ṃ lúc đầu khi nghe con gái út nói về Chị Lệ. Gần đây, từ ngày vợ chồng tôi bán cái nhà ở trên rừng gần Coloma, nơi khởi đầu phong trào Gold Rush nổi tiếng đă thay đổi California vào năm 1849, và là nơi chúng tôi đă cư ngụ trên hai mươi năm, và Palle dọn lênthuê pḥng ở Quán Trọ Cái Bàn Đá trong khi chờ ngôi nhà hưu trí được xây cất, tôi thường nghĩ tới Chị Lệ như một người thân quen dù chưa gặp, v́ sự gần gũi giữa chị và Palle trong thời gian sáu tháng Palle ở trọ trong quán. Chị Lệ dáng người nhỏ bé, gầy g̣ và có nét mặt thật buồn, nhất là đôi mắt như chứa đựng cả một trời u uẩn, nói giọng miền Nam. Hỏi ra mới biết chị thua tôi một tuổi, nhưng tôi đă quen gọi chị là Chị Lệ. Chị đoán ra tôi ngay khi tôi dừng xe trước văn pḥng quán trọ và đẩy cửa bước vào. Chúng tôi ôm nhau chào hỏi. Cậu con trai thứ hai của chị, Alex, cũng có mặt trong văn pḥng. Alex lai Đức, chỉ giống chi Lệ ở nét u uẩn trong đôi mắt, ngoài ra khó t́m thấy nét Việt Nam ở người thanh niên cao lớn có nhiều nét Tây phương này. Palle vẫn kể với tôi về Alex, nhất là khi anh thấy Christina và Alex có vẻ thân thiết với nhau trong một chuyến cháu về phép lên thăm bố và cũng ở trọ tại quán chị Lệ. “Hồi chiều em có kêu vô nhà thương ở Bandon để tính đi thăm ông nhà th́ họ cho biết đă chuyển ổng qua bệnh viện ở Coos Bay lớn hơn và có nhiều phương tiện hơn,” Chị Lệ bảo tôi. “Để em sửa soạn đưa chị vô thăm ổng. Em cũng vô thăm ổng luôn v́ từ bữa qua tới giờ em chưa đi thăm. Alex có đi thăm ổng rồi trước khi họ chở ổng đi sang nhà thương ở Coos Bay.” Từ văn pḥng quán trọ ngó chếch về phía tay trái bên kia đường có thể nh́n thấy ngôi nhà tiền chế một tầng khá rộng sơn trắng c̣n mới của chúng tôi nằm sau một ngôi nhà hai tầng ngó thẳng ra biển. Không thể là nhà của ai khác v́ tôi nhớ miếng đất đă mua và mấy tấm ảnh Palle e-mailed cho tôi khi ngôi nhà vừa được chở từ xưởng ở miền Bắc Oregon xuống thành ba miếng và được ráp lại. Tôi cũng nhớ cả nhưng cú điện thoại và e-mails anh gửi cho tôi, nói về cuộc đánh vật với bọn nhà thầu tắc trách, thiếu lương tâm chức nghiệp, và việc anh phải nhờ tới cơ quan hữu trách cấp tiểu bang can thiệp, bắt nhà thầu phải sửa những chỗ không đúng với luật nhà tiền chế, mỗi một ngày trễ hẹn là bị phạt 50 Mỹ kim. E-mail cuối cùng anh gửi cho tôi và các con trước khi bận rộn với việc dọn vô nhà mới và chờ mắc điện thoại để có thể lên Internet, mặc dù sau đó chúng tôi tiếp tục liên lạc bằng điện thoại lưu động: Ngày thứ Năm, 27 tháng Ba năm 2003 Mẹ nó và xấp nhỏ, Bữa nay năm người thợ tới thay vách và sửa lại cửa sổ ở bức tường bên đông, mai họ sẽ làm tới bức tường bên tây, có lẽ sẽ làm việc luôn cả thứ Bẩy. Cũng vào ngày thứ Bẩy, một nhà thầu khác sẽ tới sửa lại máy đo nước v́ đă đặït quá thấp trong một cái hộp, VÀ cũng trong ngày thứ Bẩy bố sẽ trả nốt số tiền c̣n lại, nhận ch́a khoá nhà và dọn vô nhà mới. Alex sẽ giúp bố dọn đồ từ nhà kho, đăïc biệt là mấy tấm nệm mà một ḿnh bố dọn không xuể. Việc đầu tiên bố sẽ làm là sắm một cặp máy giặt và xấy (anh vẫn than phiền với tôi về việc phải đi ra nhà giặt công cộng), kế đó là một cái máy truyền h́nh có màn ảnh phẳng (cái máy truyền h́nh cũ hôm dọn nhà lên Bandon, anh người Việt giúp dọn nhà hỏi có bán anh ta mua, Palle bèn tặng cho anh ta luôn) … Tôi có thể h́nh dung ra cảm giác bị g̣ bó tù túng của Palle trong thời gian sống trong căn pḥng quán trọ. Khi anh cho biết đă dọn vô nhà mới, tôi thở ra nhẹ nhơm. Không ở gần Palle nhưng tôi cũng có thể h́nh dung ra ảnh hưởng của cuộc đánh vật với bọn thầu khoán trên sức khỏe, nhất là cái dạ dầy vốn đă từ lâu bị chứng ulcer hành, của anh. Nhưng tôi vẫn hy vọng không tới nỗi nào v́ anh đă về tới “quê nhà”, là biển cả mà anh đă sinh ra và lớn lên với nó, đă từng ao ước theo ngành hàng hải nhưng không được toại nguyện v́ bà cụ thân sinh không muốn cậu con trai duy nhất đi xa sống một đời lăng du phiêu bạt. Bà cụ không dè rằng sau khi tốt nghiệp đại học với cái bằng thương măi, Palle bỏ xứ đi Canada, nói là đi giang hồ cho biết, rồi qua San Francisco và ở đó tới khi dọn về Sacramento nhận chân công chức với Bộ Quốc Pḥng Mỹ, nơi chúng tôi đă gặp nhau. Chị Lệ thay đồ xong ra, thấy tôi đang nh́n về phía nhà của chúng tôi, th́ lên tiếng hỏi tôi có muốn ghé qua nhà. Tôi đáp để đi nhà thương trước v́ sợ hết giờ vào thăm v́ lúc ấy đă gần tối. Trên đường tới nhà thương cách Bandon khoảng 30 dặm, Chị Lệ kể với tôi là khi xe cấp cứu tới chở Palle đi, “em đứng ở trước nhà, khi người ta đưa ổng ra, thấy em ổng c̣n nhấc cái ống dưỡng khí ra khỏi miệng rồi vẫy em nói, ‘Hi, Le.’” Chị Lệ cũng không biết ǵ nhiều hơn là những điều tôi biết qua viên cảnh sát đă gọi tôi hôm qua. Lần đầu tiên tôi thấy Palle nằm trong nhà thương, lại là khu intensive care, giây nhợ chằng chịt. Anh mở mắt ra khi Chị Lệ ghé tai anh gọi, bảo có tôi tới thăm. Anh nh́n tôi một hai giây rồi lại nhắm mắt lại, v́ kiệt sức. Anh kêu khát nước, thều thào nói họ không cho ăn uống ǵ, chỉ tiếp nước biển, v́ đang thử nghiệm. Chị Lệ thấy hộp nước táo để trên một cái khay bên giường th́ mở ra cho anh uống bằng ống hút. Chị Lệ có vẻ thành thạo trong việc chăm sóc người bệnh, nói v́ chị đă từng nuôi bệnh, trong khi tôi lúng túng chẳng biết làm ǵ ngoài việc nắm tay Palle. Với tiếng được tiếng mất, anh kể là anh bất tỉnh không biết là bao lâu, khi tỉnh ra phải mất một lúc thật lâu mới lết ra tới cửa mở cửa cho con chó Kee Kee ra. Về sau này tôi được bà hàng xóm ở phía sau nhà qua hỏi thăm và cho biết khi chồng bà thấy con chó chạy tới chạy lui mà không thấy Palle, v́ thường cứ thấy chó th́ thấy chủ và ngược lại, nên ông tới gơ cửa sau, không nghe trả lời, gơ cửa trước cũng không thấy động tĩnh, nên sinh nghi và gọi 911. Một lúc anh hỏi tôi, mắt vẫn nhắm nghiền, giọng nhỏ, “Mẹ nó có lái xe mới lên không?” Tôi đáp là có, và anh nói, “Vậy tốt.” Từ mấy tháng nay chúng tôi đă bàn với nhau là tôi cần thay cái xe của tôi đă cũ, sợ bị hư xe dọc đường bất tiện, nhất là đối với đàn bà. Tôi bảo anh ráng khoẻ để lái thử xe mới của tôi, một cái xe hybrid, vừa chạy xăng vừa chạy điện, v́ tính tôi vừa tiết kiệm lại vừa khá quan tâm tới môi sinh bị ô nhiễm, và Palle lại rất say mê kỹ thuật. Hết giờ thăm bệnh, Chị Lệ và tôi xuống cafeteria của nhà thương ăn tối qua loa v́ từ sáng tới giờ tôi chưa thực sự ăn ǵ, cứ nghĩ tới Palle hai ngày nằm trên sàn nhà không ai biết là lại ứa nước mắt. Ăn xong chúng tôi không biết làm ǵ khác ngoài việc trở lại Bandon, luôn thể chờ con gái út Christina đang trên đường tới sau khi đă nhờ Hội Hồng Thập Tự can thiệp với Hải Quân cho nghỉ phép v́ việc gia đ́nh khẩn cấp. Trên đường về Chị Lệ bảo tôi, trong giọng nói có cái ǵ như ngậm ngùi, “Ông chồng chị là một người rất tốt. Ổng có vẻ quư chị lắm, kể cho em nghe về chị với mấy đứa nhỏ hoài. Hôm nhận được h́nh chị với mấy cháu gái mặc áo dài Việt Nam trong một cái đám hỏi, ổng đem ra khoe với em, có vẻ hănh diện lắm. Em hỏi ổng sao làm nhà chi mà lớn vậy, ổng nói để có chỗ cho mấy cháu lên ở chơi nữa. Ổng nói chị giỏø\i lắm, chị làm báo, viết văn lại vẽ nữa. Ổng có vẻ thương chị lắm.” Tôi hỏi lại, “Thật hả chị?” trong khi nghĩ bụng, Palle vẫn vậy, ít chịu để lộ t́nh cảm của ḿnh, làm như bị mắc cở, và khoác lên ḿnh cái vẻ bất cần nhưng lại mong manh dễ vỡ. Nhận xét của chi Lệ khiến tôi thấy vui buồn lẫn lộn. Những khác biệt văn hoá, nề nếp suy tư và khát vọng riêng tư đă tạo một hố ngăn giữa hai đứa tôi. Tuy vậy giữa chúng tôi như vẫn có một sợi giây vô h́nh cột buộc vào nhau. Là một người không tin ở số mệnh mà tôi chỉ có thể giải thích liên hệ của chúng tôi là do định mệnh. Dù vậy, từ mười năm nay viện lư do nhu cầu việc làm của tôi, tôi dọn ra và Palle và tôi mỗi người một nhà một tỉnh, chỉ gặp nhau vào cuối tuần vào các ngày lễ hoặc nghỉ phép, đồng ư ngầm là không đả động ǵ tới điều ǵ có thể tạo nên xung đột, tóm lại đồng ư là bất đồng ư. Nhưng trong tiềm thức, chúng tôi h́nh như mong một cuộc “trùng phùng.” Có thể là ở Bandon bên biển cả, nơi quy tụ của mọi con sông, có con đă tưởng khô cạn, tới khi thấy biển … “Ông chồng chị bảo chị tính khi về hưu th́ sẽ chỉ ở Bandon vài tháng mỗi năm thôi, c̣n những tháng c̣n lại chị tính về Việt Nam hoặc đi du lịch,” Chị Lệ nói. Tôi nghĩ bụng không biết c̣n điều ǵ nữa mà Palle chưa kể cho Chị Lệ nghe trong thời gian sáu tháng ở trọ quán Cái Bàn Đá mà có lẽ h́nh ảnh Chị Lệ đă gợi anh nhớ tới tôi. “Th́ tính vậy, nhưng tính là một chuyện, tới lúc về hưu có sức để thực hiện hay không lại là chuyện khác,” tôi đáp. Để khỏi phải nói thêm về ḿnh, tôi gợi chuyện Chị Lệ.
Chị Lệ đi làm nuôi con, nhưng bị bệnh tâm thần, nên có lẽ v́ vậy mà bị mất quyền giữ con. Ráp nối nhưng điều đứt quăng chị kể với tôi th́ hai đứa con của chị được ông chồng đem về nuôi ở Bandon. Và h́nh như đó là lư do Chị Lệ chung với người em gái mua lại quán trọ Cái Bàn Đá, gồm khoảng trên hai chục pḥng trong dăm bẩy cái nhà kiểu cabin ở sát bờ biển, để kinh doanh đặng được gần gũi với hai con. Chị Lệ đă dần dà mua lại cổ phần của ngướ em, và cuối cùng th́ sang tên cái quán trọ cho hai con trai, sang tên luôn cả vài căn, gọi là vacational rentals, dành cho gia đ́nh hoặc những người đi nghỉ không thích ở quán trọ thuê. Chị không nói nhưng tôi hiểu v́ sao chị ở lại Bandon mặc dù quanh đây chẳng có ai là người Việt. Tôi nghĩ chị muốn chứng tỏ với người đàn ông đă bỏ rơi chị là chị một ḿnh cũng có khả năng và của cải để lại cho các con. Nhưng cuộc vật lộn đơn độc ấy đă để lại cho chị một ánh mắt buồn khiến đôi khi tôi không dám nh́n lâu. Lúc này, chị nói, chị chỉ ao ước có thể đi tu. Chưa thấy chị nói tới cắt mớ tóc dài tới cuối lưng, có lẫn nhiều sợi bạc. Chị vẫn hằng ngày dùng thuốc an thần. Chị bảo với tôi là các con chị không muốn chị đọc báo hay nghe tin tức thời sự v́ không muốn chị bận tâm tới điều ǵ khác. Chị Lệ thích làm vườn, nên suốt ngày, nhất là khi thời tiết tốt, chị loay hoay bên những luống hoa ở trước quán trọ, miệng hát nho nhỏ những bài hát tiếng Việt loại b́nh dân. Nơi luống hoa trước cửa văn pḥng quán trọ có hai pho tượng, một Phật và một ông thánh của đạo Thiên Chúa, v́ Chị Lệ theo cả hai đạo.
Lần đầu tiên bước vào căn nhà mới hoàn tất c̣n nực mùi sơn và thảm mới, tôi thấy ngổn ngang trên sàn nhà là những khung ảnh gia đ́nh. Tôi cúi xuống thu dọn những khung h́nh. Đây là tấm h́nh mầu sepia chụp hai đứa tôi trong bộ đồ mượn của tiệm chụp h́nh, kiểu của những người pioneers tây tiến khẩn hoang hồi cuối thế kỷ 19, chụp ở Virginia City, Nevada. H́nh chụp sau khi chúng tôi làm hôn thú ở Reno, sau có mấy tháng tôi chân ướt chân ráo tới Mỹ lánh nạn Cộng Sản rồi gặp Palle sau một bài viết đăng báo The Sacramento Bee vào mùa hè năm 1975, về đời sống trong trại tị nạn và ước vọng vươn tới của tôi. Đây là h́nh cái khung nhà ở trên đồi gần Coloma dưới cơn mưa tuyết hiếm hoi, nơi chúng tôi, với ít nhiều lăng mạn, lập lại cái nếp sống mà tôi gọi là “những ngưới khẩn hoang hiện đại” để nuôi dậy con cái xa dời ảnh hưởng của đời sống tiêu thụ. Đây là h́nh gồm cả gia đ́nh, với cả mấy người bạn trai và gái của các con tôi chụp ở Coloma vào năm 1998, lần đầu tiên và cuối cùng gia đ́nh tôi họp mặt đông đủ. Tôi ưá nước mắt khi đoán Palle chắc đang trang hoàng nhà để đón tôi th́ có lẽ bị động tim, rồi té bất tỉnh nằm một ḿnh trên sàn nhà tới hai ngày.
Những ngày lưu lại ở Bandon để thu vén việc nhà, không ngày nào tôi không gặp Chị Lệ. Tôi thấy ánh mắt của chị buồn hơn, làm đôi khi tôi có cảm tưởng ḿnh đang bơi trong đó, và do bản năng sinh tồn, tôi t́m cách thoát ra, và càng thấy thương và gần gũi với chị hơn. TRÙNG DƯƠNG
|
|
|