|
||||||
Đó là vận tốc của những ư tưởng độc ác xẩy ra trong ḷng người. Thường thường các nhà văn, do quan niệm nhân bản truyền thống, đặc biệt quan tâm đến những ư tưởng đẹp, thanh cao nơi con người. Ở Trần Thị Ngh. ngược lại, thường là những ư tưởng ác, những tính toán hèn hạ được ghi lại rất rơ ràng rành mạch. Cái nh́n nhân bản cổ điển gắn liền với tinh thần luân lư đạo đức xă hội cổ điển, không mảy may chú ư đến con người như một thực thể độc lập và tự chủ tách rời khỏi hệ thống đạo đức xă hội. Cho nên nhà văn thường đề cao tinh thần đạo đức của con người phổ quát, và khi phải mô tả những ư tưởng xấu, người ta thường hay đắp lên một lớp sơn đạo lư, hoặc sự phán đoán của tác giả, hoặc qua cách gián tiếp nào đó, chỉ cho độc giả biết: đó là một điều ác, hoặc cố gắng biện bạch cho cái ác đó bằng một cội nguồn có tính cách tâm lư xă hội. Tóm lại, cái ác trong quan niệm nhân bản truyền thống phải được giải thích để độc giả hiểu đó là điều ác mà t́m một giải pháp hướng thiện. Cái nh́n nhân bản hiện sinh, ngược lại, khảo sát con người trong tư thế độc lập, tự chủ và tương quan thiện ác cũng do chính bản ngă xác định qua phản ứng trước một t́nh thế nhất định, độc lập với hệ thống luân lư xă hội. Trong hệ thống tư tưởng hiện sinh này, con người t́m hiểu chính ḿnh và nhận diện ḿnh như một thực thể sống động, có thể độc ác mà cũng có thể thánh thiện. Ở Trần Thị Ngh. những nét ác, nét xấu trong các nhân vật được mô tả một cách chi ly. Bất chợt, nhân vật có một lúc nào đó thấy ḿnh hơi bị "tốt" th́ lập tức, cô ta hay bà ta phải xét lại xem cái tốt đó có thực không hay là ẩn sau cái tốt đó, có một hậu ư xấu xa nào. Nét đặc biệt của ng̣i bút Trần Thị Ngh. là ở chỗ đó: tạo ra những nhân vật, xưng tôi, và cái "tôi" được Trần Thị Ngh. định nghĩa như sau: "Tôi thường tham dự mọi thứ với tư cách một người không phải là tôi. Cái tôi thực sự chỉ biết ŕnh ṃ những vai tṛ do chính ḿnh thủ diễn." (Lạc Đạn, trang 104). Câu văn này giúp người đọc hiểu rơ một vài chi tiết đặc biệt trong cách đặt biệt hiệu hoặc cách tŕnh bày văn phẩm. Tỷ dụ: "Tại sao là Ngh. mà không phải Nguyệt Hồng. Tại sao b́a sau của cuốn truyện lại in tấm h́nh tác giả giơ hai tay lên che mặt?" Một sự nhị trùng nhân cách ít thấy trong văn chương; nhị hóa nhân cách không phải trong nghĩa tâm thần mà trong nghĩa sáng tác. Đó là một h́nh thức mổ xẻ hiện sinh con người trong tư thế rất đặc biệt: Tư thế Trần Thị Ngh. alias Trần Thị Nguyệt Hồng.
Cùng thời điểm ấy, một số nhà văn nữ xuất hiện như Túy Hồng, Nhă Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ.... Ảnh hưởng văn chương hiện sinh đến với họ qua ngả gián tiếp. Dường như họ không trực tiếp tiếp cận triết học hiện sinh, nhưng cái chất "tự do" trong hành động, trong lối sống, trong sự nhận thức về ḿnh, đă ngấm vào họ, vào vô thức của họ, khiến cách viết của họ khác với giọng văn lăng mạn tiền chiến: Một Túy Hồng "dửng dưng" nh́n vào đời tư của ḿnh, vào đời tư của người thân để lạnh lùng phân tích một cách cay độc, không thương tiếc. Ở đấy, không có vấn đề nào là cấm kỵ. Không có vấn đề nào là không được bàn đến. Thật sự là thế hệ nhà văn nữ miền Nam những năm 60-70 đă tạo ra một chân dung khác của văn học, ho tiêu diệt chất lăng mạn tiền chiến trong cái nh́n ngổ ngáo, mỉa mai, trần trụi của con người hiện sinh, tự do phân chất bản thể của chính ḿnh. Nguyễn Thị Hoàng viết Ṿng Tay Học Tṛ, phá những cấm kỵ của xă hội, về sự cách biệt tuổi tác giữa cô giáo và học tṛ, trong t́nh yêu. Thụy Vũ, Nhă Ca, với những cách khác nhau, đều đưa ra những cái nh́n mới về người phụ nữ: tự giải phóng ḿnh khỏi những công thức và đạo lư xă hội. Quan niệm về cá nhân cũng đă rơ ràng hơn. Quan niệm về thân xác cũng minh bạch hơn. Họ chủ động trong đời sống, đời sống t́nh cảm cũng như đời sống thân xác. Những ư thức sáng suốt về bản thân đưa đến thái độ: nhận xét về ḿnh một cách mỉa mai và cay độc. Đó là sự tự trào, lật đổ chính ḿnh. Lật đổ thần tượng t́nh yêu lư tưởng. Lật đổ những khóc lóc mùi mẫn về cuộc t́nh tan vỡ. Thể xác được đưa ra như một yếu tố tiên thiên (Nietzsche), đi trước t́nh cảm. Và sau sự trao đổi thể xác, người phụ nữa thường ráo hoảnh, dửng dưng, họ chôn sâu những t́nh cảm sướt mướt của ḿnh trong sự b́nh tĩnh đáng ngại. Đó là cuộc cách mạng đích thực, giải phóng người phụ nữ khỏi cơi tù chung thân của đạo đức xă hội, của những giáo điều Khổng Mạnh về tứ đức tam ṭng, nhưng đồng thời cũng đưa người phụ nữ vào đời sống xă hội một cách quyết liệt hơn. Họ không c̣n thủ phận trong gia đ́nh mà phải xông xáo ngoài xă hội, nhận các trách nhiệm về hành vi, về cách ứng xử của ḿnh. Những nhà văn nữ miền Nam, thập niên 60-70, vô t́nh hay hữu ư đă góp phần vào cuộc cách mạng của người phụ nữ, mà tại Pháp, Simone de Beauvoir là người đi tiên phong, cầm đầu ngọn đuốc tư tưởng khi bà viết tác phẩm Le deuxième sexe (Phái yếu), đặt vấn đề ư thức về bản thân như điều kiện tiên quyết của hiện sinh con người -người phụ nữ. Nhưng phải nói ngay rằng những nhà văn như Túy Hồng, Nhă Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Thụy Vũ,... phần lớn đều đă tiếp nhận hiện sinh một cách gián tiếp, nếu không muốn nói là "không cố ư". Họ vô t́nh mà hiện sinh, tạm gọi là vô thức hiện sinh. Ở cuối thập niên 70, một khuôn mặt trẻ xuất hiện: Trần Thị Ngh. Ng̣i bút của Trần Thị Ngh., lần này đích thực có ư thức hiện sinh, nghĩa là có một phong cách hiện sinh trong chiều sâu, có những nhận xét sâu sắc về bản thể, về tự do, về hành động. Về tồn tại. Và tại sao tồn tại. Trần Thị Ngh. dùng lối viết trung tính (écriture neutre) của thời đại ḿnh đang sống. Tức là bút pháp lạnh lùng, không cho t́nh cảm nhuộm hồng, nhuộm xanh bầu trời, mà tác giả trải t́nh huống lơa thể trong tư thế nguyên khai để phơi bày sự thực.
Sinh năm 1948. Năm 1968 tại Sài G̣n, vừa đúng hai mươi tuổi. Trần Thị Ngh. bắt đầu viết văn năm hai mươi tuổi, năm mà tuổi trẻ toàn cầu tỉnh dậy với cách mạng mùa xuân 1968 (Mai 68). Truyện ngắn của chị đăng rải rác trên các tạp chí: Văn, Vấn Đề, Thời Tập, Thời Văn và được giới cầm bút chú ư ngay. Sau chọn thành một tập đem in, mang tên Những Ngày Rất Thong Thả, do nhà Trí Đăng tại Sài G̣n in năm 1975, nhưng chưa kịp phát hành th́ gặp biến cố 30/4/1975. Im lặng trong hơn hai mươi năm. Đến năm 1988, Trần Thị Ngh. xuất hiện lại trên văn đàn với những truyện ngắn mới. Ng̣i bút sâu sắc và từng trải hơn. Đặt ra những vấn đề khó khăn hơn trong thân phận con người. Như vấn đề thân xác. Vấn đề tự tử. Vấn đề tội ác v.v... Viết ít nhưng viết kỹ. Hành tŕnh văn học của Trần Thị Ngh. trải dài qua những thăng trầm của thời đại. Xuất phát từ mạch sống của xă hội miền Nam những năm 60, một xă hội mở cửa cho những luồng tư tưởng đối chọi nhau, từ Mác Xít đến Hiện Sinh, và giới trẻ miền Nam, những năm 68, đă có những phản ứng bất ngờ đối với chiến tranh, đối với t́nh yêu và tội ác. Sự đoạn tuyệt với cổ điển nơi Trần Thị Ngh. mở ra trên nhiều b́nh diện: - Thứ nhất là sự nhận diện bản thân, đưa đến ư thức con người tự do và độc lập; - Thứ hai, nhân diện tính chất nhạt nhẽo và chán chường của cuộc đời. Những nhận diện này đưa đến việc đặt vấn đề: Đời đáng sống hay không đáng sống. Và tự tử là một chủ đề. Nhận diện tội ác là một chủ đề nữa trong tác phẩm Trần Thị Ngh. Những chủ đề này sẽ lần lượt được tŕnh bày trong truyện dài Lạc Đạn và các truyện ngắn của Trần Thị Ngh. Nếu đem cái tôi của Trần Thị Ngh. để đối chiếu với quá khứ lăng mạn tiền chiến mà ở đó cái tôi cá nhân đă được đề cao, th́ người ta thấy rằng cái tôi tiền chiến vẫn là một cái tôi cổ điển bị ràng buộc bởi xă hội, bởi lễ giáo gia đ́nh và bởi chính bản thân con người chưa trút được những ràng buộc của thành kiến nẩy sinh từ môi trường đạo đức xă hội. Ở thời điểm mà triết thuyết hiện sinh có ảnh hưởng lớn trong đời sống tinh thần của tầng lớp trí thức, và đi sâu hơn vào đời sống xă hội, th́ ư thức cá nhân đi xa hơn: Con người ư thức được sự tự do của ḿnh, ư thức cá nhân này độc lập với thành kiến xă hội, độc lập với tất cả những sự áp đặt của các quyền uy hữu h́nh hay vô h́nh xung quanh. Ở đây là "sự tự do tự bản thân, do bản thân mà ra", chứ không phải là sự tự do bao cấp do cha mẹ hoặc xă hội hay chính quyền cho phép. Từ ư thức tự do này nẩy sinh mầm mống "hoang mang" và tuyệt vọng nơi con người. Truyện dài Lạc Đạn và các truyện ngắn của Trần Thị Ngh. ít nhiều đưa ra những nhân vật có tính cách ư thức tự do như vậy. Nhân vật chính trong truyện dài Lạc Đạn -có thể hiểu như một Nguyệt Hồng âm bản- Dĩ nhiên là các hoàn cảnh sống có thể khác nhau, nhưng những suy nghĩ, những cách ứng xử trước hoàn cảnh của nhân vật chính phải là của một Nguyệt Hồng, một sinh viên hai mươi tuổi những năm 60-70, theo đợt sống mới, vừa đọc Bonjour Tristesse (Buồn Ơi Chào Mi) của Francoise Sagan. Nhưng cô sinh viên Nguyệt Hồng này đi xa hơn Francoise Sagan trong chiều sâu của ư thức. Nguyệt vượt khỏi đợt sóng mới hời hợt đương thời để có những suy nghĩa sâu sắc về bản thân. Nguyệt ư thức được vấn đề tự do phát xuất tự bản thân. Một Nguyệt rất phương Đông đối chọi với xă hội Việt Nam c̣n nhiều cổ lệ. Nguyệt trong Lạc Đạn t́m cách sống tự lập, độc lập. Và trách nhiệm với lối sống đó, Nguyệt ư thức được thân xác là ḿnh chứ không phải của cha mẹ; thân xác là ḿnh, ḿnh muốn trao ḿnh cho ai, vào lúc nào là do ḿnh quyết định, chứ không phải do "cha mẹ đặt đâu con xin ngồi đấy" như trong giáo dục cổ điển. Nguyệt kể: "Tôi là một người có tâm sự, nh́n cuộc đời bi quan và với chút ít học thức hiểu biết nhờ sách vở tôi làm bộ khinh miệt đời sống, sống buông thả liều mạng, làm như tôi là một người đang bị nhiễm hóa bởi tất cả những cái đó rồi đột ngột tôi gặp t́nh yêu. Dự mầu nhiệm cải biến tôi thành ngọt ngào nhỏ nhẹ. Tôi làm như thể tôi không thể sống thiếu Dự. Thực ra tôi ư thức được hết những chuyện này." (Lạc Đạn, trang 38). Nếu chúng ta chú ư đến câu văn trên đây th́ thấy người viết -hay là Nguyệt-, nhân vật chính, rất tỉnh táo khi nhận diện những hành động của ḿnh. Những chữ "làm như tôi", "tôi làm như", "tôi làm bộ" v. v... và cuối cùng là "Thực ra tôi ư thức được hết những chuyện này", tóm lại là ǵ? Là cái chuyện t́nh yêu mà Nguyệt kể ra ở đây, là một chuyện do chính nàng dựng lên, muốn cho cái anh chàng có tên Dự kia biết là nàng đang yêu anh ta. Nhưng thực sự Nguyệt yêu một người khác. Nguyệt yêu Trường, người anh rể họ. Trường dạy học, làm văn và làm báo. Nhưng Nguyệt lại chọn Dự, một lính thủy quân lục chiến mặc đồ rằn ri, một mẫu người hùng thời đại, cho cuộc gặp gỡ thân xác lần đầu. Và cuộc thử nghiệm này gần như vô cảm. Nguyệt viết: "Tôi nằm ngửa ngó ngược lên trần. Đêm ngoài tầm hiểu biết. Má ngủ chưa má. Má biết con đang ở đâu với ai không. Đêm ở xa má lo lắng. Không ai kéo chăn lên ngực con, má xót xa nghe con ho rúm ró vặn vẹo..." (Lạc Đạn, trang 43) Như vậy th́ ư thức "thân xác là ḿnh" và "ḿnh muốn trao ḿnh cho ai là tùy ḿnh" của Nguyệt, không hề chối bỏ t́nh mẫu tử. Mẹ cha là tác giả của thân xác, cũng như nhà văn là tác giả của tác phẩm. Nhưng khi tác phẩm đă ra đời rồi, nó trở thành một thực thể độc lập, nó có một đời khác không c̣n tùy thuộc vào tác giả nữa. Con người cũng là một tác phẩm nghệ thuật. Cha mẹ là tác giả. Nhưng khi đă vào đời, đă trưởng thành, nếu muốn thực sự trưởng thành, cá nhân con phải ư thức được rằng cuộc đời là cuộc đời của ḿnh, thân xác là thân xác của ḿnh. Nó không c̣n tùy thuộc vào sự quyết định của cha mẹ nữa. Mặc dù con phải cắt rốn. Con phải cai sữa, để trưởng thành. Điều này rất đớn đau. Nguyệt trong Lạc Đạn là một cá nhân như thế, tự do và ư thức được sự tự do của ḿnh. Nguyệt độc lập. Tự lập thân. Thử những cuộc t́nh khác nhau, kể cả sự đồng tính, với Thắm. Người yêu thực là Trường, đứng ngoài, góp ư, đôi khi an ủi, đôi khi khích lệ. Đôi khi phân tích những hành động của Nguyệt. Tất cả xẩy ra một cách rất thẳng thắn và lạnh lùng. Nguyệt thường cắt đứt những đoạn đời của ḿnh bằng một số nhận thức sáng suốt, đại loại: "Tôi bỏ cư xá trước hết v́ cảm thấy không thể tiếp tục đời sống hợp quần trong đó tôi xả thân bằng thiện chí giả dối. Chỉ là một cái vỏ mà thôi. Tôi tưởng tôi hạnh phúc với Thắm nhưng rơ ràng là mọi người đă đến với nhau với ít nhiều tư lợi." (Lạc Đạn, trang 68) Nguyệt cũng nhận thức được những khó khăn trong nếp sống tự do và độc lập của ḿnh: "Tôi phải đi lang bang kiếm tiệm ăn tiện đường đi về dù ở Huế đàn bà con gái ngồi quán một ḿnh kể như được coi là phi thường" (trang 68). "Những ngày về chỗ ở mới (một ḿnh) mới thấy ḿnh hoàn toàn độc lập không cần phân bua chuyện chi với ai, không ai ḍm ngó xét nét." (trang 69). Nguyệt nhận định về luân lư xă hội, tức luân lư cộng đồng: "Soeur Giám Đốc hể hả giảng những bài luân lư luyến ái sùi bọt mép." (trang 67) Tuy nhiên sự tự do và độc lập đó phải trả giá: "Có những đêm tôi nằm im chịu trận, cố sua đuổi cơn sốt thịt da nhen nhúm, đùa đẩy hết những cảm giác có thể nhớ lại, đă được biết qua một lần ở đâu đó." (trang 69) Nếu muốn nh́n về khía cạnh "nam nữ b́nh quyền", th́ rơ ràng Nguyệt không đ̣i hỏi nữ quyền. Nàng thừa thông minh để hiểu: về quyền lực không thể đ̣i hỏi mà họ cho, mà Nguyệt xác định con người b́nh quyền bằng chính hành động. Xă hội Việt trong tiểu thuyết, từ trước đến nay người ta chỉ thấy những người đàn ông đi lang thang một ḿnh, rồi đi ăn cơm tiệm một ḿnh, về nhà trọ một ḿnh. Bây giờ xuất hiện một nhân vật nữ làm những chuyện "phi thường" như vậy. Bây giờ tức là khoảng năm 68-70. Khi Trần Thị Ngh. viết Lạc Đạn. Không phải chỉ có một ḿnh nhân vật Nguyệt trong Lạc Đạn là có ư thức tự lập mà hầu như những nhân vật nữ khác đều ít nhiều có cá tính như thế. Chính bà mẹ của Nguyệt trong Lạc Đạn là một mẫu người "tự lập", "tự xác định" trong xă hội cổ. Cuộc đời bà truân chuyên, trải qua những thăng trầm đổi đời. Tây đô hộ rồi kháng chiến bùng nổ. Con bà đi theo cách mạng. Bà là mẹ chiến sĩ, nuôi bộ đội. Rồi gia đ́nh bà bị liệt vào hạng cường hào, đấu tố... Tất cả những xô đẩy này đă đưa ông Chính, chồng bà, đến chỗ nghiện ngập, gần như điên dại, nhưng bà Chính không hề bị quật ngă, bà vẫn đứng vững nuôi con, nuôi mười một đứa con đến khi không c̣n đứa nào cần đến bà nữa. Đó là một người đàn bà của thế hệ trước, thấm nhuần đạo lư thánh hiền nhưng tự ḿnh thoát khỏi hoàn cảnh để đứng vững, để tự lập, làm cột trụ cho gia đ́nh khi người chồng đă phải đầu hàng hoàn cảnh. Tóm lại ư thức về bản thân không phải là sản phẩm của xă hội hiện đại hoặc triết lư hiện sinh. Nó tiềm ẩn trong con người ở những bà Trưng, bà Triệu, ở những bà vợ Tú Xương, "quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng". Nhưng trong thời cổ điển, những ư thức về bản thân ấy chỉ được hiểu và tŕnh bày, khai triển dưới con mắt vụ lợi của xă hội: hoặc là liều ḿnh cứu nước như bà Trưng, bà Triệu, hoặc là xả thân nuôi gia đ́nh như bà Tú Xương mà quên đi mặt thật của nó: đó là những người phụ nữ đă trực tiếp nhận thức được phần trách nhiệm của ḿnh như một thực thể độc lập, không phụ thuộc vào một thứ quyền uy nào, lại càng không phải là những kẻ ṭng phu, mà thật ra là họ được phu ṭng trong cái nghĩa rất cụ thể ở các tác phẩm của Trần Thị Ngh. Tính chất phái yếu (deuxième sexe) của phái nam được thể hiện trong những thực tại đôi khi rất khôi hài, ví dụ trong truyện ngắn Người Thuận Tay Trái, một công tử, con một, có dáng d?Artagnan hiện đại, được người vợ tả như sau: "Ngay đêm tân hôn chàng khóc. Sao vậy? Nhớ má. Tôi dỗ dành, ngủ đi, mai tôi đưa ông về nhà trọ thăm bà già." (Truyện Ngắn Trần Thị Ngh., trang 78). Hoặc trong Lạc Đạn, ông Chính, cha Nguyệt, là trường hợp ṭng thê cổ điển: một thứ Tú Xương không văn tài. Rồi đến Trường, Dự, Tấn v.v... những người yêu hoặc người không yêu của Nguyệt đều là những kẻ "phụ tùng", hoặc là họ ngồi nh́n Nguyệt hành động để góp ư như Trường, hoặc họ chỉ là những thử nghiệm của Nguyệt như Dự và Tấn. Tóm lại, dưới cái nh́n của Trần Thị Ngh. xă hội dường như đảo ngược, tầng lớp được coi là độc quyền độc trị trong gia đ́nh, tức là "phái nam phái mạnh" bị trở thành "deuxième sexe", phái yếu, với tất cả các hệ lụy của nó. Từ sự lạnh lùng nh́n nhận "bản thân", xuất phát sự lạnh lùng nh́n cuộc sống, nhận thấy những nhạt nhẽo vô bổ trong cuộc sống hàng ngày: mọi cử động thể xác hay tinh thần của ḿnh, của người, dường như chỉ là những vai tṛ đóng vội, diễn dở, sự chán đời xẩy ra triền miên, từ tuổi nhỏ. Một Trần Thị Ngh. trong âm bản. 11 tuổi uống thuốc ngủ lần đầu. 16 tuổi viết nhật kư, bắt đầu yêu và thù gia đ́nh. 17 tuổi, uống thuốc ngủ và ngủ một ḿnh trong pḥng hai ngày không ai biết. Tóm lại nhiều lần tự hủy mà không chết. Đề tài tự tử, xoay đi xoay lại nhiều lần trong tác phẩm của Trần Thị Ngh.. như một phương cách xử lư đối với thân xác. Đó là một cái nh́n tuyệt vọng, vô cùng tuyệt vọng đối với nhân sinh.Nhưng do một đẩy đưa nào đó của hoàn cảnh, mọi chủ mưu tự hủy đều thất bại. Dường như hành động tự hủy thân xác không thể có trong điều kiện nhân sinh, ít ra là đối với Trần Thị Ngh. Song song với vấn đề tự hủy, tội ác cũng được nêu ra trong tác phẩm. Không phải dưới khía cạnh cáo trạng buộc tội mà tŕnh bày một cách thản nhiên, những hành tŕnh đưa đến tội ác. Truyện ngắn Pḥng Cho Thuê mô tả tội ác của một bà già không chịu nổi tính chất quân phiệt của người chồng, t́m cách giải quyết vấn đề. Truyện ngắn Khoanh Vùng là một tội ác khác, tội ác ẩn dụ của một người đàn bà t́m cách giết tiếng gà gáy, ẩn dụ những loại phóng thanh công cộng máy móc như tiếng gà gáy nửa đêm về sáng, bức bách người ta phải thức dậy để nghe trong giấc ngủ. Ở truyện ngắn Lexomil, kẻ giết người không chịu được "tiếng ồn rầm rĩ" suốt ngày đêm do một "mụ" hàng xóm có quyền uy gây ra. Truyện của Trần Thị Ngh. đặt ra những vấn đề xă hội và con người, sự tự do của con người trong xă hội áp đặt hiện tại trong chiều hướng bi quan nhất. Ở hai truyện ngắn mới nhất, Tuyệt Tác và Chín Biến Khúc Quanh Tuyệt Tác, đề tài được nhà văn khai triển hoàn toàn khác. Đó là một h́nh thức liêu trai mới: quan hệ giữa họa sĩ và tác phẩm, một quan hệ dục tính. Vừa Tú Duyên, vừa Dorian Grey. Một sự gặp gỡ Tú Duyên Giáng Kiều hiện đại. Với tính chất trung tính, văn phong gọn và sắc, nhà văn nói lên cái năo trạng nhầy nhụa của người nghệ sĩ trong cơn hỏa mộng sáng tác. Trần Thị Ngh. có thể là một trong những nhà văn giầu hướng sáng tạo nhất trong khoảng thời gian gần đây. Chị đưa ra những chủ đề rất khác nhau về những vấn đề trầm trọng của con người. Nhược điểm duy nhất là giọng của nhân vật c̣n quá gần gũi với mẫu người và với tiểu sử tác giả. Dù sao chăng nữa, người đọc tiếp nhận ở chị một hướng sáng tạo nhiều chiều mà hiện nay rất ít thấy hiện diện trong văn học Việt Nam. THỤY KHUÊ
|
|
|