|
||
|
Saul Bellow sinh năm 1915 ở Lachine, Quebec, là người con thứ tư và sau cùng của một gia đ́nh di dân Nga gốc Do Thái. Họ đặt chân đến Canada lập lại cuộc đời mới và không được may mắn lắm ở quốc gia mới này. Người cha, Abram, thất bại liên tục trong mọi dự tính thử thời vận. Người mẹ, Liza, mộ đạo, chỉ muốn đứa con út của ḿnh trở thành hoặc là một giáo sĩ Do Thái hay một nhạc sĩ vĩ cầm. Phần Bellow, ông tự chọn cho ḿnh một định mệnh khác. Năm 8 tuổi, ông bị bệnh nhiễm trùng khí quản nặng và phải nằm ở bệnh viện Royal Victoria ở Montréal trong sáu tháng liền. Đó là thời gian ông đọc khá nhiều sách, đọc mọi thứ ông có thể chạm tay vào, từ Kinh Tân Ước, Uncle Tom’s Cabin cho đến chuyện khôi hài. Ông khám phá ra nhiều điều từ lần sống xa nhà đó: căn cước Do Thái (họ chịu trách nhiệm trong/trước cái chết của Jesus), cái chết (phải đối diện với sự ra đi sau cùng và thường xuyên của nhiều trẻ em trong khu ông nằm; cảm giác thoát chết khi ra khỏi bệnh viện) và ư tưởng phải làm một điều hệ trọng hơn sau này. Năm 1924, gia đ́nh ông dời về Chicago. Đời sống họ khấm khá ra. Chicago sau này đối với ông trở thành như một London của Dickens, một Dublin của Joyce. Saul Bellow bắt đầu cầm viết rất sớm trước sự phản đối của cha ông (“Viết rồi xóa đi. Con gọi đó là nghề nghiệp hay sao?”) Người mẹ ở về phía ông nhưng bà mất lúc ông 17 tuổi. Cha ông lập lại gia đ́nhh sau đó. Ông có cảm giác được thả lỏng và choáng váng trước tự do bất ngờ này. Saul Bellow vào Đại học Chicago năm 1933. Hai năm sau ông phải đổi sang trường Northwestern v́ nơi đây học phí rẻ hơn. Ông muốn theo ngành văn chương nhưng lại đổi ư v́ ư hướng bài Do Thái trong phân khoa Anh ngữ của trường. Sau cùng ông tốt nghiệp danh dự ngành nhân chủng và xă hội học vào năm 1937. Ông đi vào thế giới chữ nghĩa sau đó trong một số việc làm như tham gia vào W.P.A. Federal Writer’s Project ở Chicago để viết tiểu sử cho các nhà văn miền Trung Tây và gia nhập vào ban biên tập của Encyclopaedia Britannica để soạn thảo cho loạt sách Great Books của Mortimer Adler. Cuối thập niên 1930, ông đến New York, sinh sống trong khu Greenwich Village. Ông viết truyện và điểm sách. Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra. Ông mắc chứng thoát vị (hernia) và được miễn nhập ngũ. Trong thời gian này ông hoàn thành hai tác phẩm: quyển Dangling Man (1944) và The Victim (1947). Quyển đầu tiên là câu chuyện về sự vong thân của một thanh niên Chicago chờ đợi lệnh nhập ngũ. Quyển sau mang đề tài bài Do Thái và chịu ảnh hưởng của nhà văn Nga Dostoyevsky. Sau này ông gọi hai tác phẩm đó là bằng cấp “MA và PhD của tôi.” Ông tin rằng hai tác phẩm này thể hiện thời tập sự viết của ông, được viết văn hoa nhưng cốt chuyện yếu và chịu ảnh hưởng quá nặng nề theo khuôn mẫu văn chương Âu châu. Năm 1948 Saul Bellow được tổ chức Guggenheim trợ cấp tài chính và lên đường sang Paris. Thủ đô văn chương thế giới thời hậu chiến không hoàn toàn có cái hấp dẫn của thế hệ các nhà văn Mỹ đă đặt chân đến trước ông như Hemingway, như Henry Miller. Nước Pháp bị thất trận (trong vài tuần lễ trước nước Đức) và thắng trận (với sự giúp đỡ của Anh, Hoa Kỳ) đă chẳng thấy vẻ vang hay vinh dự ǵ. Paris của năm 1948 vẫn c̣n phải sống trong chế độ khẩu phầu bánh ḿ và than. Paris thời ông đến là thời của tạp chí Les Temps Modernes, của Sartre mà ông đánh giá là “đă hiểu hiểu về chủ nghĩa Marx và chính trị tả phái ít hơn tôi đă hiểu thời c̣n là học sinh trung học.” Dù ǵ đi nữa đó là nơi ông đă viết câu đầu tiên cho tác phẩm xuất bản năm 1953, quyển The Adventures of Augie March. Đó là bước ngoặt trong sự nghiệp văn chương ông. Một tác phẩm bán chạy nhất đầu tiên và thực tế đă xác định vị trí nhà văn của ông từ đó về sau. “Tôi là người Mỹ, sinh ra ở Chicago”, câu mở đầu đó không chỉ mang thành phố Chicago lên bản đồ văn chương thế giới mà c̣n đánh dấu sự vươn vai của thế giới chữ nghĩa ở Mỹ sau một thời gian quá dài núp bóng văn chương Âu châu. Tác phẩm đă mang lại cho Saul Bellow giải National Book Award đầu tiên trong năm 1954. Ông c̣n nhận thêm hai giải văn chương này sau đó: quyển Herzog (1964) và quyển Mr. Sammler’s Planet (1969). Giải Pulitzer đến với ông chậm hơn vào năm 1975 với quyển Humboldt’s Gift. Quyển Herzog c̣n mang lại cho Saul Bellow giải International Literary Prize năm 1965 và ông là người Mỹ đầu tiên nhận được giải này. Năm 1968 Pháp đă trao cho ông giải Croix de Chavalier des Arts et Lettres là giải thưởng cao quư nhất dành cho những người không phải công dân Pháp. Cũng trong năm đó, thánng Ba, ông nhận thêm giải B’nai B’rith Jewish Heritage Award dành cho “tuyệt tác trong văn chương Do Thái.” Ông cũng là một tên tuổi văn chương đầu tiên được trao giải America’s Democratic Legacy Award of the Anti- Defamation League of B’nai B’rith. Giải văn chương Nobel đến với Saul Bellow năm 1976. Ông được coi là người đă khởi đi từ những chỉ dẫn cổ điển của Maupassant, Henry James và Flaubert nhưng “điều đáng lưu ư trong câu chuyện không phải là những hành vi bi kịch, đôi khi thô bạo mà là cái ánh sáng phả vào nội tâm của nhân vật chính.” Nhân vật trong tiểu thuyết Saul Bellow thường là h́nh ảnh của một kẻ mất chân đứng hay một kẻ cố gắng t́m một chỗ đứng trong khi lang thang qua thế giới đang lung lay sụp đổ. Giải Nobel đă đặt Saul Bellow vào hàng ngũ của Ernest Hemingway, của William Faulkner, những nhà văn Mỹ đi trước ông. Những nhân vật đó, trong truyện của Saul Bellow, phát xuất từ quan niệm “Văn chương là tự truyện cao cấp” thường là sự hỗn hợp giữa chính đời sống ông và đời sống của những người ông quen biết. Humboldt là h́nh ảnh của nhà thơ Delmore Schwartz. Henderson được xây dựng trên Chandler Chapman, con trai của nhà văn John Jay Chapman. Gersbach, người chồng bị cắm sừng trong quyển Herzog là giáo sư Jack Ludwig, con người thực sự trong đời sống đă quyến rủ vợ ông thời đó. Quyển Revelstein (2000) là câu chuyện của Allan Bloom, bạn thân ông. Năm 1993, sau nhiều năm trời sinh sống ở Chicago và dạy học ở Đại Học Chicago, ông vĩnh viễn rời bỏ thành phố này. Có nhiều lư do giải thích sự ra đi này. Nhiều bạn thân ông qua đời trong đó có cả Allan Bloom và ông “mệt mỏi phải đi qua lại trước những căn nhà của những người bạn đă chết.” Ông dọn về Boston và dạy học ở Đại Học Boston sau đó. Cái chết của Saul Bellow đă là dịp cho giới cầm bút trên thế giới lên tiếng. Nhiều người nh́n thấy ở đó dấu hiệu của một thời đă qua. David Brooks trên New York Times (số 10 tháng Tư) tin rằng thể hiện tốt đẹp nhất của văn hóa Mỹ đă có thời là sự “bắt chước, thích nghi hay bài bác h́nh thức và tư tưởng của Âu châu.” Điều này, theo ông, giải thích được lư do tại sao nhân vật chính của quyển Herzog đi t́m ư nghĩa của thế giới bằng cách ngồi viết thư cho Martin Heidegger. Người Mỹ giờ đây không c̣n mấy quan tâm đến việc người châu Âu nói hay viết ǵ nữa. Ông đặt ngay câu hỏi để chứng minh cho điều vừa viết: quyển sách nào đang được nói tới ở Berlin? Ai là Francois Truffaut trong thời của chúng ta? Bài viết có cái kết luận đáng sợ. “We’re living in a unipolar culture, and it’s lonely at the top.” John Powers trên LA Weekly (số 15 tháng Tư) nhắc nhở chúng ta bên cạnh cái chết của Saul Bellow là những cái chết khác gần đây của Susan Sontag, Johnny Carson, Arthur Miller, Hunter S. Thompson, George F. Kennan, Philip Johnson. Người viết nói thế kỷ XXI bắt đầu từ ngày 11 tháng Chín năm 2001 nhưng thế kỷ XX chỉ mới thực sự chấm dứt từ những cái chết nói trên. THƯỢNG VĂN
|
|
|