|
|||||
|
|
|
Trong thế giới chữ nghĩa Việt ở hải ngoại, tên tuổi Linda Lê vẫnc̣n quá mới, quá xa lạ. Điều này không hẳn đúng trong thế giới chữ nghĩa Pháp ở Paris. Linda Lê đă lên đường khá sôi nổi. Cô đă tung ra ba tác phẩm liền trong ṿng ba năm 1987-89: Un si tendre vampire, Fuir và Solo (nxb La Table ronde, Paris) - ba tác phẩm sau này được cô xếp vào “loại tiền sử bởi v́ chúng không c̣n là một phần của đời sống tôi nữa.” (1) Cô được chú ư đến kể từ tác phẩm thứ tư, quyển Les évangiles du crime do nhà xuất bản Julliard ấn hành năm 1992. Tiếng Nói (Voix) theo thứ tự là tác phẩm thứ tám. Quyển Calomnies là tác phẩm duy nhất của cô được dịch ra Anh ngữ (Slander, nxb University of Nebraska Press, 1996). Nhưng tiếng tăm của Linda Lê có chiều rộng khác. Jack A. Yeager - tác giả quyển The Vietnamese Novel in France (1987) – tại Hội nghị Thường niên của tổ chức Association of Asian Studies họp tại thành phố San Diego, CA, tháng Ba, 2000 đă đặc biệt giới thiệu cô qua bài viết Linda Lê’s Literary Project in France. Trên liên mạng, một kỳ thú khác, tôi đọc được bài luận văn tiến sĩ của Nancy Milner Kelly đă mang trường hợp Linda Lê và Marguerite Duras ra so sánh trong khi đi t́m thực tiễn và ư nghĩa của lưu vong và chủ nghĩa thực dân trong mối liên hệ giữa Sài G̣n với Paris. (2) Linda Lê sinh năm 1963 ở Đà Lạt trong một gia đ́nh cha Việt, mẹ Pháp. Trả lời phỏng vấn của Catherine Argand trên tạp chí Lire. (3) Đà Lạt với cô là những ngày tháng êm đềm trước khi chiến tranh đă đưa đẩy gia đ́nh cô về Sài G̣n năm 1969. Sài G̣n dưới mắt của cô bé 6 tuổi, là “một ḷ lửa.” Tất cả mọi thứ đổ nhào kể từ đó. “Tôi bỏ lại thiên đường tuổi thơ và bước vào địa ngục.” Cha mẹ cô không c̣n thuận thảo. Ở đó cô khởi đầu có cái nh́n thậtđen tối về đời sống. Ở đó cô nh́n thấy được sự điên loạn, và cái chết. Ở đó cô cũng khám phá ra mối liên hệ vợ chồng là mối liên hệ của chiến tranh. Hai năm sau ngày Sài G̣n đổi tên, bốn chị em cô cùng với mẹ rời Việt Nam sang Pháp. Người cha ở lại. H́nh ảnh người cha trong tác phẩm của Linda Lê trở thành một nỗi ám ảnh lớn không rời từ lần chia tay đoạn ĺa sau cùng đó. Cô không c̣n có dịp nào để gặp lại người cha cô yêu mến kia (cô là người gắnbó với cha nhất trong bốn chị em). Ông chết năm 1995. Cô sống trong cuộc khủng hoảng cùng cực với ư tưởng tự tử lởn vởn trong đầu. Người cha đó mất đi, cô mất đi một độc giả lư tưởng “bầu trời trở thànhsa mạc, thế giới không c̣n Thượng Đế.” Cũng trong thời gian hai năm trời ngay sau cái chết đó, cô cưu mang quyển Les Trois Parques “trong trạng thái cô đơn tuyệt đối và tự nguyện.” Trong Tiếng Nói, người cha đó xuất hiện bên giường cô trong tấm áo choàng bốc lửa hỏi “Sao con không cứu cha?” Bài luận văn tốt nghiệp của Nancy Milner Kelly nhấn mạnh đến yếu tố lưu vong trong những tác phẩm mang tính cách tự truyện của Marguerite Duras và Linda Lê ở hai chiều ngược. Duras sinh ra và lớn lên ở Đông Dương, một thuộc địa. Lê lớn lên ở Pháp, mẫu quốc. Thực dân / bị thực dân, thuộc địa / hậu thuộc địa là những khái niệm đă được khai thác và diễn giải khá nhiều trong văn chương và là đề tài sẽ c̣n tiếp tục được nói tới (đồng ư / không đồng ư). Lưu vong trong văn chương lộ rơ hơn. Sự chuyển dịch trong không gian dường như đóng lại “nơi này” (ici) và phải mở ra ở một “chốn khác” (ailleurs) trong tác phẩm. Yếu tố thời gian v́ thế cũng hiển hiện bởi một quá khứ vẫn c̣n nằm trong hiện tại và một hiện tại vẫn chưathanh toán xong quá khứ (passé présent / présent passé). Đông Dương trong tác phẩm của Duras, và Việt Nam trong Linda Lê. Cái dấu vết đó không thể tách rời. Với Linda Lê, Việt Nam cô cưu mang trong ḷng như một bào thai chết - C’est surement le Vietnam que je porte comme un enfant mort, cô trả lời phỏng vấn như thế. Nhưng cũng một Linda Lê đó lại hoàn toàn phủ nhận ư tưởng đi t́m trong tác phẩm một sự phê phán hay một bức tranh nào đó về xă hội hay một thời đại. (3) Cô muốn đạt đến cái kích thước phổ quát trong những điều được viết ra. Cô không muốn dừng lại ở tự truyện. Cô muốn cái chết của người cha phải trở thành một cái chết biểu trưng, tiêu biểu cho mọi cái chết. Cô muốn phá vỡ mọi khuôn mẫu kể chuyện thông thường. Và như thế Tiếng Nói đă ra đời trong sự bất thường của chữ nghĩa. Chuyện xảy ra trong một nhà thương điên là điều bất thường đầu tiên. Sự pha trộn trong tiếng nói giữa tác giả / người kể chuyện / nhân vật là một bất thường khác. Đó là thế giới của những người bị bỏ quên, không đầu đuôi được tường thuật bằng lối kể chuyện ngoài trật tự thời gian. “Tôi bị ám ảnh bởi những nhà văn điên loạn hay sống trong nỗi lo sợ trở thành điên loạn như Holderlin, Nerval, Artaud, Byron...” Linda Lê đă nói về ḿnh như thế. Tiếng Nói c̣n là một thế giới tàn bạo của ác mộng, của tự tử, của cái chết, của máu me, của lửa cháy... Một thế giới ở bên lề thực tại, ở ngoài sự hiểu biết. Tiếng Nói đi gần hơn theo cách nh́n của Philippe Lejeune, tác giả quyển Je est un autre, “Người ta không viết để nói lên điều họ biết nhưng để tiến gần hơn tới điều họ chưa biết.” Yếu tính của văn chương là hư cấu. Tiếng Nói đă mở cánh cửa đi tới tận cùng bờ cơi của yếu tính đó. Jack A. Yeager ghi nhận là Linda Lê “xóa nḥa biên giới giữa tự truyện và hư cấu, giữa Pháp và Việt, giữa cá nhân và tập thể.” Một cách nói khác, cái lằn ranh giữa thực và mộng, giữa những tiếng nói (ngôn ngữ), giữa tôi và kẻ khác không c̣n nữa. Biên giới, như một khái niệm là một trong những phát minh táo bạo nhất của tinh thần hiện đại, theo George Steiner, dưới ng̣i bút của Linda Lê, không c̣n nữa. Cô đă thênh thang, một cơi đi / về, như thế. Catherine Argand mô tả Linda Lê như một người “đi trên bờ vực thẳm.” Pascale Frey phác họa chân dung cô bằng hai chữ “dữ dội và chông chênh.” Farouche et décalée, có thể nào khác hơn? Trả lời câu hỏi ước mơ ǵ của Catherine Argand, Linda Lê đáp, “Không ǵ cả. Chắc chắn là muốn được viết hoài, muốn t́m ra con chữ sau cùng, con chữ c̣n thiếu, con chữ của t́nh yêu chúng ta, của ḷng kiêu hănh chúng ta, của nỗi sợ hăi chúng ta, của vô nghĩa trong đời sống...” Và hơn thế nữa, một điều thế này, “Có thể khi người ta t́m racon chữ đó th́ đă quá muộn, lúc không c̣n viết được nữa.” Đó phải chăng là âm thanh quen thuộc ngược ngạo đáng buồn của đời sống? THƯỢNG VĂN
Chú thích: (1) Pascale Frey, Linda Lê, farouche et décalée. Lire, Mai 2002. (2) Nancy Milner Kelly, The Saigon-Paris Connection: Marguerite Duras and Linda Lê – Exile and Colonialism. http://wwwlib.umi.com/dissertations/preview_page/ 3103296/3 (3) Catherine Argand, Linda Lê. Lire, Avril 1999. (4) France-Isabelle Langlois, Entre la vie et la littérature, là-bas, ici et ailleurs.
Atlternatives, 4 Juin 2002.
|
|
|