|
||
|
Sinh năm 1932, tại Chaguanas, trên đảo Trinidad, gần thủ đô Port of Spain ngày nay của Cộng Ḥa Trinidad và Tobago, ông Vidiadhar Surajprasad Naipaul thuộc một gia đ́nh Ần Độ di cư từ miền Bắc Ần. Vidiadhar, tên ông, là một tên gọi hiếm có, mang ư nghĩa là người học rộng, uyên bác. Ông nội của V.S. Naipaul làm việc ở một đồn điền trồng mía c̣n cha ông vừa là nhà báo vừa nhà văn. Năm 18 tuổi ông sang Anh học tại University College của Oxford và tốt nghiệp BA năm 1953. Ông tiếp tục sống ở Anh cho đến nay và dùng cả th́ giờ vào việc viết lách, ngoại trừ một khoảng thời gian ngắn giữa thập niên 50, ông làm phóng viên tự do cho đài BBC. Ông đi du lịch nhiều nơi ở Á, Phi và Mỹ châu và hành tŕnh này đă là nền tảng chất liệu cho nhiều tác phẩm của ông sau này. Đối với nhiều người, sự chọn lựa trao giải thưởng Nobel Văn Chương cho V.S. Naipaul năm nay là chuyện "lạ và bất ngờ." Ông là tác giả lănh hầu hết các giải thưởng văn chương của Anh. Tác phẩm đầu tiên của ông, quyển The Mystic Masseur ra đời năm 1957 đă đoạt giải John Rhys Memorial. Kế tiếp, tập truyện ngắn Miguel Street (1959) của ông thắng giải Somerset Maugham. Quyển Mr. Stone and the Knights Companion (1963) thắng giải Hawthornden. Quyển The Mimic Men (1967) thắng giải W.H. Smith. Năm 1971, quyển In A Free State của ông thắng giải Booker là một giải thưởng văn chương quan trọng hàng đầu ở Anh. Trong tư thế đó, ông được đề nghị vào danh sách giải Nobel từ năm 1972 và kể từ năm đó trở đi, hầu như năm nào ông cũng được đề nghị. Năm 1980, tuần báo Newsweek in h́nh ông trên b́a và gọi ông là "Bậc Thầy của Tiểu Thuyết." Ông suưt đoạt giải Nobel trong năm 1992 là năm giải thưởng trao cho Derek Walcott. Năm 1993, ông lănh giải David Cohen British Literature cho sự nghiệp "đời người" dành cho các nhà văn Anh c̣n sinh sống. Ông c̣n được Nữ Hoàng Anh phong tước Hiệp Sĩ cho công trạng phục vụ văn chương trong năm 1990. Ông được gọi là Sir Vidia từ đó. Sau cùng, chuyện ǵ đến phải đến, dù lạ và bất ngờ hay trễ. V.S. Naipaul được Hàn Lâm Viện Thụy Điển chọn trong danh sách sau cùng gồm năm nhà văn. Danh tánh của những nhà văn khác trong danh sách này không được tiết lộ. Theo luật lệ của Hàn Lâm Viện, danh sách này chỉ được công bố 50 năm sau giải thưởng. Tuy thế, theo tin đồn chung quanh, những người này là các nhà văn Amos Oz của Do Thái, JM Coetzee của Nam Phi, Margaret Atwood của Canada và Philip Roth của Hoa Kỳ. Trên văn bản công bố cho báo chí của Hàn Lâm Viện, V.S. NaiPaul là nhà văn "tổng hợp lối kể chuyện nhạy bén và óc quan sát liêm khiết trong những tác phẩm buộc chúng ta phải nh́n thấy sự hiện hữu của những mảnh đời bị áp bức." Trước đó đă có tin đồn năm nay bởi v́ vụ khủng bố xảy ra ở Hoa Kỳ và chiến tranh sắp sửa xảy ra với Afghanistan, giải Nobel sẽ không được công bố. Ông Horace Engdahl, đại diện cho Hàn Lâm Viện, nói rằng, "Văn chương là nền tảng của cộng đồng quốc tế, rơ ràng vốn không đặt trên bạo lực hay thù hận mà mở đường cho sự hiểu biết liên đới giữa các nền văn hóa và dân tộc." Ông c̣n nói thêm trong một năm như thế này hai giải thưởng cần phải công bố là giải văn chương và giải ḥa b́nh. V.S. Naipaul là điển h́nh của một nhà văn không quốc gia, không căn cước và chính điều này có thể là lợi điểm của ông khi nh́n vấn đề và viết xuống thành tác phẩm. Câu mở đầu của quyển A Bend in the River bắt đầu bằng một câu trầm buồn tiêu biểu cho cách nh́n cuộc đời hay chính cuộc đời của ông và từ đó trở thành tiêu biểu cho văn phong của ông, "Thế giới là như thế đó; con người không là ǵ cả, họ tự cho ḿnh trở thành không là ǵ cả, họ cũng không có chỗ đứng nào cả trong thế giới đó." Ông có gốc rễ Ần xa vời, ông sinh trưởng và lớn lên ở một thuộc địa khác của Anh trong vùng hải đảo Caribbean, rồi lại sinh sống ở "mẫu quốc" Anh. Ông vong thân ở mọi nơi ông đặt chân đến, ngay cả khi quay về nguồn cội Ần Độ. Điều này dễ tạo cho V.S. Naipaul điều mà nhà văn Paul Theroux, khi c̣n là bạn thân với ông, cho rằng ông là "nhà văn duy nhất ngày nay không chịu ảnh hưởng của bất cứ ai." Nỗi ám ảnh lớn qua tác phẩm của ông là định mệnh của con người trong giai đoạn giao thời giữa thuộc địa và hậu thuộc địa. Ông nói lên được tiếng nói này không phải chỉ với tư cách thuộc địa mà c̣n từ vị trí của "mẫu quốc." Trong trào lưu văn chương hậu thuộc địa, V.S. Naipaul có chỗ đứng của riêng ông, một cơi. Vào khoảng thập niên 70, ông lo nghĩ nhiều đến khả năng của văn chương trong cuộc chạy đua bắt kịp nhịp đổi thay nhanh chóng của thế giới và bắt đầu cuộc hành tŕnh du lịch qua các quốc gia Hồi giáo. Ông hoàn thành hai tác phẩm Among the Believers (1981) và Beyond Belief (1998). Hai tác phẩm được coi như có tác dụng khốc liệt hơn rất nhiều so với tác phẩm Satanic Verses của Salman Rushdie nhưng may mắn thay ông không bị lên án tử như Rushdie từng bị. Edward Said coi hai tác phẩm này là "thảm họa trí thức" phơi bày sự không ưa thích của V.S. Naipaul đối với Hồi giáo khi ông coi đó là "niềm bất hạnh tệ hại nhất xảy đến cho Ần Độ." Tất cả bằng chứng được V.S. Naipaul thu thập trong hai chuyến hành tŕnh đều được xây dựng chung quanh sự mâu thuẫn đối kháng giữa Hồi giáo và Tây phương và điều này có mặt ở khắp nơi. Said cho rằng v́ thế tác phẩm của Naipaul "thật buồn chán và lập đi lập lại." Sự khác biệt của hai quyển sách viết cách nhau gần một thập niên chỉ là trong quyển thứ hai, Naipaul muốn chứng minh Hồi giáo là của người Á Rập, nếu anh không phải người Á Rập th́ là người đổi đạo. Trường hợp của nhiều dân tộc chẳng hạn như Mă Lai, Hồi Quốc, Iran, Indonesia. Trong trường hợp này, theo Naipaul, v́ Hồi giáo họ bị cắt đứt khỏi truyền thống, đánh mất quá khứ. Họ không được ǵ cả ngoại trừ bất hạnh, hỗn độn và bất lực thêm nữa. Said bắt bẻ điều Naipaul tŕnh bày tương tư như cho rằng chỉ có người dân sinh trưởng ở La Mă mới thực sự là một người Thiên chúa giáo La Mă thuần thành, c̣n các dân tộc khác chỉ chuyển đạo về sau và như thế họ cũng bị mất quá khứ, cũng bị cắt đứt khỏi truyền thống... Bốn trăm trang của quyển Beyond Belief, theo Said, "chỉ là thứ lư thuyết khiêu khích và phỉ báng." Said tự hỏi: "Vấn đề không phải là thật hay giả mà là tại sao một người với trí thông minh và tài năng như V.S. Naipaul lại có thể viết một quyển sách ngu xuẩn và buồn chán đến như vậy; quyển sách đầy những câu chuyện được minh họa trên cùng một luận đề sơ khai, thô lậu, không thỏa đáng và suy diễn." Said cũng tấn công các nhà phê b́nh ngợi khen tác phẩm như được viết bởi một nhà văn vĩ đại, "trong khi ông này đă trở thành một bóng ma." Nhăn quan bi quan về cuộc đời của ông không phải chỉ thể hiện trong tác phẩm. Ông nghĩ và nhiều lần tuyên bố tiểu thuyết đă chết và v́ vậy ông t́m cách điều ḥa, phối hợp giữa cách viết hư cấu và không hư cấu. Điểm quyển The Enigma of Arrival của V. S. Naipaul xuất bản năm 1987, Salman Rushdie viết: "Có một chữ tôi không thể t́m thấy bất cứ ở đâu trong văn bản của The Enigma of Arrival. Chữ đó là 't́nh yêu,' và một đời sống không có t́nh yêu hay một đời sống trong đó t́nh yêu bị chôn vùi quá sâu đến nỗi không thể đâm chồi được, tất cả là những ǵ tác phẩm này muốn nói và điều này khiến nó quá, quá sức buồn." Như năm trước giải Nobel Văn Chương được trao cho nhà văn Trung Hoa Cao Hành Kiện, năm nay trong t́nh h́nh hiện tại, người ta lại nghĩ đến khía cạnh chính trị của việc trao giải thưởng này cho V.S. Naipaul. Chính tác giả gần đây đă tuyên bố khá ồn ào về "hậu quả tai hại của Hồi giáo" trên những người đă đổi sang đạo này trong lịch sử của tôn giáo. Ông lập lại những ǵ đă được viết trong Beyond Belief cho rằng cuộc tiến quân của thế lực Hồi giáo về phương đông của Arabia đă để lại dấu ấn tàn phá trên lịch sử trong vùng hơn cả chế độ thuộc địa châu Ấu để lại nơi đây. Bênh vực cho quyết định của Hàn Lâm Viện, ông Engdhal nghĩ rằng "Những ǵ tác giả tấn công Hồi giáo là nét đặc thù của mọi nền văn hóa mà nước chinh phục mang theo, nghĩa là có khuynh hướng xóa bỏ nền văn hóa đi trước." Ông Tunku Varadarajan trên tờ Wall Street Journal (12 tháng Mười) coi đây là quyết định can đảm nhất của Hàn Lâm Viện, "vào lúc nền văn minh Tây phương đang bị các thế lực man rợ tấn công, đây là một hành vi xác quyết rơ rệt, một cách bày tỏ rơ ràng sự hỗ trợ cho một triết lư riêng biệt. Người ta có thể coi đó là một hành động ăn mừng văn hóa hay, nói cho dễ dàng hơn, một hành động thách thức." Thật ra không phải Hồi giáo là mục tiêu tấn công duy nhất của V.S. Naipaul. Năm trước ông đă lên tiếng phản kháng nội các Blair của Anh quốc. Ông coi thủ tướng Blair là người hiện "giương cao ngọn cờ đen có sọ người và hai khúc xương bắt chéo," một chính quyền "tàn phá ư tưởng về văn minh của quốc gia này." Chưa kể, trong bài trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Literary Review, Farrukh Dhondy, đầu tháng Tám, nhân dịp tác phẩm Half A Life phát hành, V.S. Naipaul đă hạ nhà văn E.M. Forster và nhà kinh tế John Maynard Keynes xuống hàng đồng tính luyến ái bóc lột người nghèo! Tác phẩm của Forster (quyển A Passage to India) bị coi là "hoàn toàn rác rưới." Forster "không biết ǵ về người Ần. Ông ta chỉ biết cung đ́nh và một vài người Ấn trung lưu và những đứa bé làm vườn mà ông muốn dụ dỗ." Cũng trong bài phỏng vấn, ông gọi chung mọi nhà văn Ấn Độ là những người không hiểu biết về đất nước họ sinh sống. Tác phẩm của nhà văn Ấn Narayan là "sự thiết sót chí tử." Ông nghĩ Narayan sinh trưởng ở gần thủ đô cũ của vương quốc Ần xưa là Vijayanagar phải biết về sự tàn phá của thành phố này vào năm 1565, nhưng ông đă không nói ǵ về chuyện này. Naipaul đặt câu hỏi, "Làm sao anh có thể viết về đất nước ḿnh, văn hóa ḿnh nếu anh không thấy chuyện ǵ đă xảy ra 400 năm trước?" Cũng trong bài phỏng vấn, ông coi nhà văn Nigeria Wole Soyinka (Nobel 1986) là "nhà văn của chế độ" Theo định nghĩa của ông, đây là trường hợp của các nhà văn trước kia ở Liên Sô, ở châu Mỹ la tinh bây giờ, là những người không bao giờ viết xấu và làm phương hại đến chính quyền đất nước họ sinh sống. Cũng trong cuộc phỏng vấn, Naipaul nói ông không đọc James Joyce và "tôi không thể hiểu được tác phẩm của một nhà văn mù." Theo ông, Joyce mù v́ không quan tâm đến thế giới. Joyce chỉ quẩn quanh "với thành phố Dublin và những vặn vẹo của ông ta, tội lỗi Thiên chúa"... Theo nhà văn Paul Theroux, trong đời, V.S. Naipaul c̣n tấn công nhiều nhà văn khác nữa. Theroux giải thích: thứ nhất, thái độ "tôi không thể so sánh" với bất cứ ai; thứ hai, tác phẩm mới của ông phải hơn cả nhà văn lẫn tác phẩm ông tấn công. Theroux và Naipaul gặp nhau ở Uganda, (lúc Theroux mới 24 tuổi và chỉ mới bắt đầu sự nghiệp văn chương và Naipaul 34 tuổi và tên tuổi văn chương đă lừng lẫy) và trở thành bạn thân trong 30 năm trời cho đến khi cả hai quyết định chia tay nhau năm 1996 sau khi Naipaul lấy người vợ thứ hai (Nadira) sau cái chết (cũng trong năm đó) của người vợ đầu (Pat). Theo Theroux, cô vợ trẻ, người Pakistan và là nhà báo này, là lư do sau cùng của t́nh bạn đổ vỡ. Theroux kể rơ mọi chuyện, theo cái nh́n của ông, trong tác phẩm mang tên Sir Vidia's Shadow, tác phẩm mà người ta có thể tin rằng sẽ khác đi nếu trong năm 1996 người chết đi không phải là Pat mà là V.S. Naipaul. (Năm 1972 trong tập sách mỏng V.S. Naipaul: An Introduction to His Work, Theroux đă từng ngợi khen Naipaul là nhà văn có "nhăn quan độc đáo.") Theroux mô tả Naipaul như một người rẻ tiền (ông không bao giờ trả tiền cho một bữa ăn chung chẳng hạn), tự kiêu, thù ghét đàn bà, thù ghét con người. Thật ra sự rạn nứt đă bắt đầu trước đó, trước khi Naipaul lập gia đ́nh với Nadira. Theroux thú nhận, trong năm 1979, ông là lá phiếu quyết định không để cho Naipaul thắng giải Booker với tác phẩm A Bend in the River. Trả lời phỏng vấn của Amzone.com nhân dịp phát hành Sir Vidia's Shadow năm 1998, Paul Theroux nói, "Người tử tế không trở thành nhà văn. Người tủ tế là nhà văn, sách vở sẽ phải khác hơn." (Nice people don't become writers. If they did, books would be different). Theroux nói về Naipaul và dường như cũng nói chính ḿnh. Ở đâu đó, nhân vật Izzy Thornbush của John Updike trong Bech at Bay đă nói, "Nhà văn bị kết án phải thù ghét lẫn nhau." Câu chuyện không hay khác gần nhất xảy ra sau khi tin giải Nobel Văn Chương được công bố. Trong buổi lễ khai mạc Hội Chợ Văn Chương Cheltenham, V.S. Naipaul tuyên bố trước mọi người rằng bốn mươi năm trước dân Ấn đă không đủ thông minh để đọc sách của ông. "Rắc rối cho những người như tôi khi viết sách về những xă hội nơi không có đời sống trí thức là nếu anh viết về điều này, thiên hạ sẽ nổi nóng." Ông cho rằng ngày nay Ấn Độ đă cải thiện và sách vở ông đă được chấp nhận. Ông nghĩ ông đă góp phần vào việc giáo dục dân Ấn. Trong thế giới văn chương Tây phương, V.S Naipaul khiến người ta nghĩ ngay đến nhà văn Pháp Michel Houellebecq, cũng với những tuyên bố ồn ào, gây sóng gió, chấn động. Trong một xă hội tŕnh diễn (société du spectacle) phải chăng nhà văn cũng cần được nhắc tới để tồn tại, bằng mọi cách? Chuyện đă khởi đầu từ thập niên 70, và V.S. Naipaul cũng như Michel Houellebecq không phải là biểu hiện sau cùng. Derek Walcott, trong bài V.S. Nightfall, đă gọi V.S. Naipaul là kẻ đứng quay lưng lại mặt trời và nh́n thế giới qua cái bóng của ḿnh. Có lẽ, điều này không phải chỉ đúng cho riêng Naipaul. Một thế kỷ đă qua kể từ ngày giải Nobel Văn Chương được trao cho Sully Prudhomme. Nh́n lại một trăm năm qua, hẳn nhiên có nhiều điều cần phải nói về giải thưởng này như hằng năm báo giới, văn giới có dịp bàn, một lần. Ngoài chuyện vẫn c̣n nhiều nhà văn xứng đáng không được trao giải thưởng (và những nhà văn không xứng đáng được trao giải!) c̣n là chuyện ǵ? Đâu là giới hạn của giải Nobel? Trước hết, Hàn Lâm Viện Thụy Điển là cơ chế dành riêng cho nhóm thành viên giữ nhiệm vụ trọn đời. Tính ra số tuổi trung b́nh của họ là 70 tuổi. Ở số tuổi này liệu họ c̣n đầy đủ khả năng, đủ khoan dung tiếp thu, đánh giá những khuynh hướng, trào lưu văn chương mới xuất hiện ngày càng nhiều trên thế giới hay cái thói quen bám lấy cái cũ vẫn chiếm ưu thế? Số thành viên 18 người và toàn người Thụy Điển liệu có đủ thẩm quyền lượng định về toàn bộ văn chương thế giới trong điều kiện của toàn cầu hóa ngày nay? Giới hạn của Nobel hiện lên trên bảng vàng danh sách các nhà văn được giải thưởng của 100 năm qua. Đó là Úc châu được 1 giải, Á châu được 3, Phi châu được 4, Mỹ châu được 16. Và chiến thắng sau cùng về tay Ấu châu với 73 giải. Hóa ra Nobel Văn Chương thế giới chỉ là chuyện của Âu châu. Vậy th́ đâu là ước mơ toàn thế giới của Alfred Nobel? V.S. NAIPAUL
|
|
|