|
||
|
Khởi đầu không là Lời. Khởi đầu là âm thanh. Mặt trái của im lặng. Chín tháng mười ngày lặng thinh. Bỗng một tiếng thét xé cái vô cùng, tượng h́nh sự sống thành người, thành vũ trụ. Không có con người thét xé thinh không ấy, vũ trụ chưa thể hiện h́nh. Dù vũ trụ vẫn có đó, nhưng lặng thinh, không được biết. Âm thanh nhóm họp, th́ lời mới ra. Lời đọng thành Thơ. Thơ đi t́m trời hỏi v́ sao đất cứ trơ trơ. Từ đó có đời, có sông, có những cuộc qua về, có vầy duyên, hay ly biệt. Hiu hắt trên nhánh người. Nếu tôi không lầm, trong số 46 thi sĩ được chọn trong “Thi Nhân Việt Nam (1932 – 1941)” của Hoài Thanh – Hoài Chân, chỉ có 5 ngườinữ. Thu Hồng, Anh Thơ, Vân Đài, Mộng Tuyết, Hằng Phương và T. T. KH. Toàn là những bài t́nh yêu khuê pḥng, nhè nhẹ, âu yếm, ấm cúng hay xót xa. T́nh yêu tả cảnh. T́nh yêu quy ước, theo một xă hội nho giáo bó rọ đang chuyển thời. Mỗi người tả nỗi đẹp riêng, mối t́nhđằm thằm không đổ vỡ. Đổ vỡ tối đa, chỉ là sự vắng xa, cách mặt. Ngoại trừ T.T.KH. Thơ họ chưa đi sâu vào tâm hồn thầm kín của đại đasố phụ nữ hẩm hiu khác. Đi sâu sao được, khi đôi mắt họ là con bướm hiền lành nhởn nhơ, hay sà đậu, trên chiếc màn hoa, lá gió, trăng, chắn quanh căn nhà, mảnh vườn họ ở. Từ vị trí thơ ấy đến Nhă Ca, là một bước dài ngh́n dặm. Tuy không đại biểu cho một “giai cấp” nào. Nhưng Nhă Ca đă triệt phá bức màn sương hoa kia. Không để chạy thoát ra. Mà chạy vào, nhảy xuống thấu đáy ḷng thiếu nữ, rồi thanh nữ – người đàn bà trơ trọi trước luân lư và những lực cản của xă hội. Thứ xă hội bưng kín, mơ màng, tuy rất khắc khe – Huế! Nơi mỗi chiếc quần thủng buổi sáng, cả bàng dân thiên hạ đều hay biết vào buổi chiều. Nơi những người cùng tỉnh thường ít đùm bọc và thương nhau. Phải chăng v́ thế Tôi bỏ nhà ra đi năm mười chín tuổi
Chuyến đi trọng hệ cho thi ca Việt. V́ từø đó, người nữ mới chính thức có mặt trên văn đàn hiện đại. Không để tả cảnh, để chưng diện. Mà để sống, và nói lên thế phận trần gian. Ra đi là bỏ lại. Bỏ tất cả những ǵ cản ngăn ḿnh sống. Hành tŕnh ấy chẳng ai đưa tiễn, tham dự. Loài người vốn dửng dưng với mọi rắp tâm. Chỉ có âm thanh một tiếng chuông làm bằng hữu. Tiếng chuông Thiên Mụ đă dội tới một-trăm-một-ngh́n-bốn-trămbảy-mươi-lần (101.470)*, măi măi vẫn là “tiếng chuông Thiên Mụ” khi Thọ Xương c̣n canh gà. Phải đợi tới Nhă Ca, tiếng chuông ấy mới có lư lịch. Những mảnh đồng đen như da đêm tối
Lư lịch đúc xong, tiếng chuông bắt đầu sống và hoạt động Tiếng chuông tan đều như hởi thở anh em
Chân sông đưa tiếng chuông vào ḷng một người, vào một xă hội đang khởi đầu tan vỡ Tiếng chuông tan tành như tiếng vỡ trong tôi
Sự tan vỡ của tiếng chuông là một báo động âm thanh. Âm thanh sẽ đi trọn ṿng thanh âm gọi thức. Nhưng tiếc thay, khi ḷng người hay thời đại đổ vỡ, tiếng chuông đành phải tan theo. Quy luật nhân duyên. Qua ba cấp độ, như sẽ bước sang thành để là trong thực tại, dù Nhă không viết ra. Tiếng chuông tan tành thành tiếng vỡ trong tôi
Cuộc tan tành trọn vẹn. Chữ như báo hiệu một xă hội và cộng đồng tan ră, lúc cái thành, là xẩy tới. Cho chính cuộc đời Nhă, mà cùng cho mọi người ở những vị trí khác nhau Từ dạo xa chuông khôn lớn giữa đời
Mười câu thơ dùng 5 chữ cũ , một chữ mù và một chữ lũ, đưa vần u xuống tận cùng u ám kiếp người. Thực như đời bất cứ ai. Có triết lư ǵ đâu. Thế mà không định nghĩa triết học nào rơ và giản dị hơn về ư niệm vong thân. Tiếng vỡ vong thân này, Nhă Ca không nghe, Nhă Ca nh́n thấy Chỉ ḿnh tôi nh́n thấy tiếng chuông tan
Ở đâu? Ở Cuối cơn điên đầu giấc ngủ đau buồn
Biết bao người nghe, nhưng không cảm. Nh́n mà chẳng thấy. Nhă Ca nh́n thấy. Đó là kiến tính. Thấy cái tính lơi của sự vật, nên hết vong thân. Nhờ thế, Nhă Thức dậy cùng giông băo, thức dậy cùng tan vỡ
Chỉ tỉnh ngộ, tỉnh thức, khi sự mê sảng thót ḿnh đứng ngó. Ngó khác với nh́n. Nh́n là lơ đễnh xem. Ngó th́ trừng trừng ḍm, để thấy ra cái tính lơi mọi sự. Cho con trở về đứng mê sảng ngó
Với “Tiếng Chuông Thiên Mụ”, với 38 bài trong “Nhă Ca Mới.” Nhă Ca mở ra ḍng thơ bi tráng của người nữ Việt Nam. Ḍng thơ ấy khằn đời bằng những mốc nh́n. Nh́n, rồi ấn tượng, rồi khái quát, để cuối cùng tượng h́nh qua văn chương một thi tính mới, vùng lên và thoát đi từ những thể thân câm lặng. Đâu phải vô t́nh mà Nhă Ca chọn những thánh thi (psaume) Salomon 1, 4, 8, trong Cựu Ước làm đầu sách cho tập thơ. “...C̣n vườn nho của riêng tôi, tôi không hề canh giữ (...) Hăy nguyện cho chàng vào, và ăn hết những trái chín của vườn (...) Hăy để tôi như một cái ấn trong ḷng chàng, như một cái ấn trên tay chàng” Sáu câu trong 16 câu thánh thi được trích ấy nói lên hành tŕnh một t́nh yêu ba chặng giữa cuộc đờithác loạn. Đem nỗi riêng biệt vẹn phần tặng hiến, để khằn gắn đời ḿnh vào cơi chung đôi. Mà 38 bài thơ của Nhă sẽ bộc lộ. Bởi đă nh́n thấy, nên Nhă thức, dù cả khi mọi người ngủ. Thức bằng con mắt chột của mèo Điểm sáng nào trong đêm
Thức để vật lộn với một quá khức hiện ra bằng sự ám ảnh cứ thét hoài một giọng “ăn năn”. Nhă gọi kêu hiện tại, cái “bây giờ”, tới cứu Chim đă chết rừng kinh hoàng gọi
Hiện tại, bây giờ, ở đâu? Vừa chụp bắt được hiện tại, x̣e tay ra là đă thấy nó là quá khứ của một tương lai mịt mờ. Bây giờ hay hiện tại không liên minh, th́ làm sao có tương lai? Không gian th́ chất đầy quá khứ Năm đầy ắp những ngăn trí nhớ
Thời gian là đôi vai ngựa chịu tội Rồi đêm ôm chiếc bóng đổ dài
Có người giải quyết cái “bây-giờ-đă-quá-khứ” bằng chiến tranh, bằng cách mạng, bằng cầu kinh, hay “ngồi” thiền...Những phương pháp trốn lánh vừa êm ái, vừa cao cả nhưng chưa thành giải pháp. V́ chỉ dằn mặt được lương tâm không chịu ngủ yên. Một lương tâm chổm dậy đánh những dấu hỏi và yêu sách nhân sinh. Nhă Ca từ bỏ các phương pháp ấy, Nhă thức để nghe và cảm nhận hết cái quanh ḿnh. Nhă thả đời ḿnh giữa ḷng chao lộng, như đứa bé nằm nôi. Chiếc nôi treo bằng những tao thời sự, lịch sử, dưới chiếc móc biến động của những đồng lơa đen Trong đám đông đen nhưng đêm đồng lơa
Con người nhỏ bé. Đời và vũ trụ quá lớn. Lạ một điều, là cái lớn kia không hội đủ sức nặng đè bẹp cái bé này – con người. Có ai hủy phá nổi một tế bào đâu? Con người đi tới như hạt nước giữa ḍng sông cuộn. Và con người bi tráng sẽ không thét lên bằng tiếng gào, hay một điệu than rên, v́ ngôn ngữ bi tráng là một bàn tay níu trời lay hỏi. Ư nghĩa đưa lời vào cử điệu hiện diện Khi về tay nhỏ che trời rét
Mông lung kia c̣n mông lung chăng, khi chưa có bàn tay x̣e ngón tí hon? Huống chi tay không x̣e để so sánh, mà để che. Che cái rét mướt đến từ ngoài, cho tuổi thơ, không đông lạnh. Trong thơ Nhă, mọi sự có thể thiếu, dù đó là hoa, gió, trăng, tuyết trừ bàn tay. Tay là chứng tích người – sự sống, để với bắt, cầm giữ, để luyến lưu và bảo vệ. Tôi, hồn vẫn đứng yên như tượng
Sầu xưa thức dậy trên vai nhỏ
Quả phượng vừa khô trên nhánh cao
Trên vết đá xanh nào hạnh phúc đă ra đi
Cùng khoảng trống trên vai nơi nỗi buồn ở lại
Rồi ngày cũng đă chết
Khi về tay nhỏ che trời rét là thế. Hồn đông lạnh th́ làm sao thấy tuổi thơ. Mà Nhă cần tuổi thơ vô cùng. Tuổi thơ xác định thế phận Nhă bây giờ. Toàn tập thơ Nhă là bộ sưu tập những bức h́nh tuyệt ngát của tuổi thơ. Nhă rà ống kính vào trí nhớ, động viên khắp dăy kho tàng, không bóng ảnh nào được liệt trên danh sách trừ bị. Bằng cách đó, Nhă truy kích quá khứ, đuổi miết quá khứ tới chân tường hiện tại, cái mà Nhă gọi là “bây giờ”. V́ Nhă biết. Khi quá khứ nũng nịu kia chưa chịu kếthôn với bây giờ, th́ tương lai của Nhă khó hiện ra. Để săn đuổi quá khứ, để chụp những bức h́nh tuổi thơ trong trí nhớ, Nhă đă thu ḿnh, nín thở chờ nó đến Chợt tiếng buồn xưa động bóng cây
nghe nó vang Kỷ niệm sầu như tiếng thở dài
Hay xấn tới can thiệp Thôi, níu dùm tôi cánh cửa người
Người là một cánh cửa? Lạ. Ai cũng phải đi qua mọi thứ cánh cửa: cửa ḿnh, cửa nhà, cổng làng để bước vào đời và thế giới. Nhưng chỉ khi nào người là cánh cửa, vũ trụ mới có lối về, chân lư mới có lối ra, người mới đi được vào người. Bằng không, ngăn cách đă mọc lên từ đôi mắt Nửa tầm hạnh phúc c̣n xa
trên một chuyến xe buồn của đời Ôi chuyến xe về chậm
Chuyến xe ấy, mọi chúng ta đang ngồi. Mọi chúng ta đều mang tâm sự nát, v́ một cuộc t́nh, v́ một phản bội đạo đức hay lư tưởng. Thảy là gánh nặng ngày càng ấn xuống Môi cười nhỏ lại dùm tôi với
khi Đêm nghẹn ngào chan muối mặn trong môi
Ấy cũng chỉ v́ cánh cửa người chưa mở, mà ta lại cả tin những bức tường kia. Tường không chắn ngăn thôi, nó mang ḷng lang dạ thú Tôi chót dại, tin lời trao tất cả
Hóa ra đời người là những tiếng hét, tiếng rú, tiếng ức, tiếng thét. Chưa một cơi ân t́nh. Ngay tiếng kêu thê lương ấy cũng thường bị tra tấn, bầm dập Hét tên vào thinh không
Khi mỗi tiếng ḿnh tan vào thinh không
Khi người chưa là cánh cửa, tự do c̣n mang đầy thương tích, chân trời chưa chịu hửng, chiến tranh cứ triền miên Một ḿnh tôi nằm sát sự tối đen
Tôi sống tự do trong thân thể ḿnh
Người, cảnh vật, vũ trụ, thế giới...ta bà loạn lạc giữa trái tim quằn quại Buổi chiều treo cổ trên cành cây ca hát
C̣n một lần hay hai ba lần nữa
Đớn đau và thác loạn. Vô vọng giữa vỡ tan. Nhưng thơ Nhă Ca không chịu ngậm đắng, thua cuộc ở chốn đoạn trường mà biết bao triệu sinh linh người đă trải. Nhờ cái hận thù, đay nghiến trong tim Nhă không bao giờ quá độ. Nhă để hở ḷng ḿnh nửa cánh cửa khép hé. Nhă không chặt cầu. Người con trai đa t́nh, lẳng lơ kia, có lúc làm Nhă tuyệt vọng, thế mà chiếc huân chương bạc t́nh Nhă gắn mới nhuốm “nửa dạ yêu tinh” thôi. chứ chưa toàn dạ sa tăng. Nơi cánh cửa khép hờ đó, t́nh yêu đi rồi về. Tuyệt vọng tới rồi lui. Nhă sẽ nhốt những ngọn gió t́nh yêu. Giú cho gió xum xuê lá. Lu bù cực lạc Từ những niềm bí mật đang họp nhau thành chợ
Từ t́nh yêu đến tin tưởng. Từ ước vọng tới niềm tin. Thầm kín nhưng quyết liệt, Nhă muốn ḍng thi ca bi tráng của ḿnh thoát vượt những niềm riêng để chuyển vận cái chung Nói đi con, nói dùm mẹ với
Đáng chú ư hơn, khi ta biết Sớm Mai là tên cháu gái đầu ḷng của Nhă. Trong số những nhà làm thơ nữ cận đại nước ta, h́nh như ít ai theo sát thời sự như Nhă. Toàn bộ thơ Nhă không chỉ có anh, em, yêu đương, hạnh phúc, ghen tương, nũng nịu, đổ vỡ, chia ĺa...V́ đôi cặp riêng của Nhă đi chung trong ḍng người biến động truân chuyên, đi giữa cuồng lưu lịch sử. Không ta thán, mà đón nhận. Không chịu đựng, mà có ư kiến và tham dự. Cổ tay lạnh ngón tay rời
Xưa nay thơ dính với nhạc. Để ngân. Và để dễ ngâm. Ngâm là ngậm lời thành tiếng. Ngâm được, mới nhớ và thuộc. Người ta ngâm thơ, không ai ngâm một truyện ngắn. Nhưng vài mươi năm lại đây, thơ đă bắt đầu khó ngâm. Thể thơ tự do với câu kéo bất chừng, chỉ có thể đọc. Ảnh hưởng của Tây Phương, với thúc bách của chiến tranh tuyêntruyền, thơ có vần ră ra, thành những bài dễ đọc hơn ngâm. Đây cũng là điều mới, có chuyển hóa. Một lần nữa, sau phong trào Thơ mới, thơ Việt Nam lại chuyển thời. Thơ Nhă Ca giàu nhạc tính, giàu h́nh tượng mới. Tuy có rất nhiều bài chặt vỡ sự êm đềm, man mác của thơ tiền chiến, bằng những h́nh đời sống động, bằng nhiều h́nh ảnh dậy tứ. Bằng nhịp thơ tự do, ảnh hưởng tư trào ngă theo thơ Pháp của nhóm Sáng Tạo vào những năm 58. Ở Nhă có thêm dấu vết thơ thánh ca. Loại thơ dùng h́nh tượng đột xuất đập phá lối nghĩ suy cũ, để dẫn dắt người lên đường vào một thế giới đang sống ṃn. Ngoài bài thơ tuyệt vời “Tiếng Chuông Thiên Mụ” kết hợp nhiệm mầu giữa thơ mới và tự do, đầy nhạc tính và trítuệ. Bài “Đi trong tuổi nhỏ” mở đầu tập thơ, là khía cạnh đổi mới rực rỡ nhất của Nhă Ca trên ḍng thơ bi tráng của ngưỡi nữ Việt Nam. Cùng ḍng này, là những bài Chim Nhỏ, Vết Thẹo, Cửa Mùa Xuân, Sau Cơn Giông, Khi Trở Lại Sài G̣n, Khi Hai Mươi Tuổi (ở đây lần đầu tiên trong thơ chúng ta, t́nh yêu có mùi thuốc lá xông vào), Nhă Ca Mùa Đông, Con Mèo, Đêm 64. Thế hệ này, rồi thế hệ sau sẽ chọn lối thơ nào? Thơ dễ ngâm nga trầm ấm? hay thơ để khằn in vào trí, ở đó, thơ nổ tung từng thớ suy tư cho tới khi cả con người thành vùng núi lửa? Lúc ấy, một giai điệu mới ra đời. Một Cánh Cửa Người thoáng hiện, trên vùng đơn điệu chập chùng của ngày, đêm lẩm cẩm và cũ càng. Cùng với sự an vị trong bực thang xă hội, thơ Nhă Ca càng về sau càng tách chất thơ ngang tàng, khai phá, để đi sâu vào vùng suy nghĩ. Suy nghĩ về những mẫu sống thường nhật, chiến tranh, gia đ́nh, t́nh yêu, hờn ghen, thất vọng, chán chường. Có khi bắt đầu hiu hắt. Bắt đầu thiu. Bắt đầu ṃn. Bắt đầu già. May thay chưa cỗi. Những bài thơ làm từ năm 1965 trở đi tuy vẫn c̣n chất thánh thi, nhưng không c̣n mướt như “Đi Trong Tuổi Nhỏ”. Chẳng hạn bài “Trước Giờ Sinh Con”, “Làm Đàn Bà”, “Một Đoạn Nhă Ca”, “Cơm Trưa Mùa Hạ”...đă lọt vào vùng nghĩ ngợi. Mối nghĩ ngợi và suy tư trong đời sống, vô t́nh làm phai lạt chất thơ. Bản chất thơ là gạn lọc, là uyên tư, làm nền tảng cho triết học nhưng vượt quá triết học để mở rộng nhân sinh. Thơ hư hao khi thơ dùng dằng nơi triết luận là địa hạt của b́nh văn. Đời sống yên vị trong xă hội, hay sự chuyển hướng sáng tác văn truyện và tiểu thuyết khiến Nhă xem nhẹ thơ thời gian sau này? Có chi đó đă chen vào làm xanh xao hồn thơ bát ngát xanh um thuở trước. Căn nhà mỗi ngày mỗi quen
Không là niềm yên lặng của vô ngôn, mà là cuộc sống trốn chạy. Cuộc sống thường ngày bỗng bặt âm. Sự kiện ấy đáng vui hay đáng tiếc? Có thể là vui cho văn Nhă, nhưng tiếc cho thơ. Và là thơ ca hiếm quư của người nữ nước ta. THI VŨ (trích Bốn Mươi Năm Thơ Việt Nam 1945-1958) * Tựa do ṭa soạn đặt. *. Chùa Thiên Mụ ở Huế xây vào năm 1601. Qua năm 1710 dưới triều Nguyễn Phúc Chu, quả chuông (đại hồng chung) nặng trên hai tấn mới được đúc, bề cao 2 thước rưỡi, bề ngang một thước hai. Từ đó mỗi b́nh ḿnh, suốt 278 năm qua, dân Huế được nghe tiếng chuông hiền từ vang vọng trên sóng nước. Vọng tới cả trong ca dao “Tiếng Chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương”.
|
|
|