MỘT CUỐN SÁCH VIẾT LẠI
PHỎNG VẤN NHÀ PHÊ B̀NH VĂN HỌC NGUYỄN HƯNG QUỐC
Quỳnh Trâm



QUỳNH TRÂM (Q.T.): Trong "Lời nói đầu" và cũng là lời giới thiệu in ở b́a sau cuốn VƒN HọC VIệT NAM, Từ ĐIểM NH́N H(ậu h)IệN ĐạI mới được Văn Nghệ xuất bản, anh cho biết cuốn sách mới ấy chỉ là một sự viết lại năm cuốn sách đă in của anh trước đây. Nên hiểu ư niệm "viết lại" ấy như thế nào?

NGUYễN HƯNG QUốC (N.H.Q.): Theo tôi, mọi người cầm bút đều chỉ có một số ám ảnh nhất định. Bao nhiêu tác phẩm hắn viết ra, nghĩ cho cùng, chỉ là những hành động viết đi rồi viết lại một số những ám ảnh ấy. Thử viết cách này rồi thử viết cách khác. Thử nh́n từ góc độ này rồi thử nh́n từ một góc độ khác...

Q.T.: Riêng với anh, những ám ảnh ấy là những ám ảnh ǵ?

N.H.Q.: ít nhất có hai ám ảnh lớn. Đó là ám ảnh về văn học Việt Nam và ám ảnh về tiếng Việt. Tất cả các cuốn sách đă in của tôi đều chỉ tập trung vào một đề tài duy nhất, đó là văn học Việt Nam. Có lúc tôi cố nh́n ở diện; lúc khác, ở điểm. Có lúc tôi thử nh́n văn học Việt Nam từ góc độ thơ, nhằm phát hiện những nét đẹp nhẹ nhàng và dịu dàng của nó; lúc khác, tôi thử nh́n từ góc độ văn hoá, để phát hiện những gánh nặng của truyền thống trong việc làm nên h́nh dạng của nó, một h́nh dạng ít nhiều bất b́nh thường.

Nhưng một ám ảnh khác không kém quan trọng đối với tôi là nỗ lực thử nghiệm những khả năng diễn tả của tiếng Việt. Có một lúc tôi muốn đi đến tận cùng sức diễn tả bóng bẩy và thơ mộng của tiếng Việt, làm cho văn xuôi nhích lại gần, thật gần, với thơ, biến mỗi bài tiểu luận hay phê b́nh thành một thứ thơ văn xuôi, thật mượt mà và cũng thật bay bướm. Một lúc khác, tôi cố gắng tước bỏ tất cả những son phấn, chỉ viết một cách thật giản dị, giản dị đến mức trần trụi, với mục đích làm sao cho câu văn xuôi nghệ thuật nhích lại gần, thật gần, câu văn xuôi khoa học, và biến mỗi bài viết thành một kiến trúc ngôn ngữ chặt chẽ, ở đó, cái đẹp nằm ngay trong tính chất cô đọng, hàm súc và mạnh mẽ của sự diễn đạt.

Q.T.: Riêng tôi, thú thực, tôi thích những cách viết cũ của anh trong T́M HIểU NGHệ THUậT THơ VIệT NAM và NGHĩ Về THơ hơn.

N.H.Q.: Chuyện thích cái này hoặc thích cái kia thường khá chủ quan. Tuỳ người và tuỳ lúc. Có điều, với tư cách là người viết th́ việc tôi lặp lại cái cách ḿnh đă từng viết rồi, tự bản thân nó, là một sự thất bại, hơn nữa, một thất bại tuyệt đối nên tránh.

Q.T.: Có phải anh quan niệm như một nhà thơ nào đó đă từng tuyên bố: thà viết một cái mới dở c̣n hơn là viết lại một cái hay cũ?

N.H.Q.: Không phải. Tôi cho những chữ "hay" và "dở" là những chữ rất tế nhị, cần phải hết sức cẩn thận. Trước hết, dựa vào tiêu chuẩn nào để đánh giá cái hay và cái dở? Mỗi loại văn chương đều gắn liền với một hệ mỹ học nhất định. Ví dụ thơ lục bát có mỹ học của lục bát, thơ Đường luật có mỹ học của thơ Đường luật. Khi đánh giá thơ lục bát, chúng ta phải dựa chủ yếu vào mỹ học của lục bát, không thể trách là tại sao thơ lục bát không có đối, không có niêm, không có những quy luật chặt chẽ như thơ Đường luật chẳng hạn. Giữa ḍng văn học cũ và ḍng văn học mới cũng thế, hơn nữa, càng hơn thế. Văn học cũ có mỹ học của nó và văn học mới cũng có mỹ học của nó. Do đó, thứ nhất, so sánh văn học mới và văn học cũ trên một hệ thẩm mỹ giống nhau là sai. Thứ hai, sử dụng cái nh́n từ văn học cũ để xem văn học mới là dở cũng sai nốt. Cũng do đó, những cách nói khá quen thuộc như "cái cũ hay" và "cái mới dở" là những cách nói đầy mâu thuẫn. Chẳng hạn, mệnh đề "thơ cũ hay". Khi nói thơ cũ là đứng vào chỗ đứng của thơ mới, từ cái nh́n của thơ mới. Nếu chưa có cái mới, chưa đứng ở chỗ thơ mới th́ dĩ nhiên là không thể nói đến chuyện mới hay cũ được. Tuy nhiên, nếu từ cái nh́n của thơ mới th́ thơ cũ, một cái ǵ đă lỗi thời, đă lạc hậu, đă rất nên bị đào thải, không thể nào hay được. Cũng giống như bây giờ chúng ta viết các bài hịch, phú hay văn tế. Đọc lên có thể nghe vui vui nhưng không thể gọi là hay, là lớn. Bởi vậy, nói cái hay của thơ cũ từ cái nh́n của một người đổi mới th́ là một điều mâu thuẫn. Nhưng, nói cái hay của thơ cũ từ cái nh́n của thơ cũ th́ cũng mâu thuẫn nữa: bởi v́ ở trong cái cũ th́ không thể có chuyện cũ với mới, chỉ có hay với dở mà thôi. Mệnh đề "cái mới dở" hay "thơ mới dở" cũng vậy. Nếu nó mới, thực sự là mới và nó vẫn là thơ th́ không thể dở được. Nếu nó bị xem là dở th́ đó chỉ là thành kiến của phái cũ. Nhưng phái cũ dùng tiêu chuẩn mỹ học để đánh giá thơ mới th́ đúng là chuyện bấp bênh.

Q.T.: Anh nói nếu thơ mà mới, thực sự mới, th́ không thể dở được. Thế nhưng chúng ta khó có thể nói bài "T́nh già" của Phan Khôi là hay được dù là nó mới. Anh có đồng ư không?

N.H.Q.: Không. Theo tôi, so với thơ cũ, bài "T́nh già" hay. Nó hay, so với những bài thơ của Đường luật cũ kỹ vẫn thường xuất hiện trên tờ Nam Phong tạp chí thuở ấy. Chính v́ nó hay cho nên ở vào thời điểm 1932, khi nó mới xuất hiện, nó đă gây nên một sự chấn động lớn, tạo hẳn một khúc ngoặt trong lịch sử phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên, nếu so với thơ của Thế Lữ, của Lưu Trọng Lư, của Xuân Diệu... sau đó th́ rơ ràng bài thơ "T́nh già" của Phan Khôi lại là một bài thơ dở. Nói cách khác, "T́nh già" hay hơn thơ cũ, nhưng lại dở hơn thơ mới. Tại sao nó dở hơn những bài thơ mới sau đó? Không chừng nguyên nhân chính là nó không mới đủ. Nó không đi đến tận cùng của cái mới. Nó chỉ mới nửa vời.

Q.T.: Như vậy, số phận của cái mới nửa vời th́ bị vượt qua; c̣n những cái mới thực sự mới th́ sao?

N.H.Q.: Th́ sẽ c̣n lại. Khi cái mới đă đến tŕnh độ toàn bích hoặc gần như toàn bích, nó trở thành cái cổ điển. Mà đă là cổ điển th́ nó không c̣n nằm trong phạm trù mới hay cũ nữa. Hay nói cách khác, cái ǵ đă mới, thật mới th́ không bao giờ cũ đi được. Vào thập niên 20, thơ Tản Đà mới và cái mới ấy sẽ c̣n lại măi. Thời 30-45 Thơ Mới rất mới và nó sẽ mới măi. Cái mới không bị cũ, nhưng những cái bắt chước, nhất là bắt chước muộn màng và vụng về th́ lại cũ, cũ mèm. Thơ Xuân Diệu thời 30-45 không bao giờ cũ, nhưng thơ của bất cứ ai khác sau đó bắt chước thơ Xuân Diệu đều là cũ.

Q.T.: H́nh như anh hay bị ám ảnh bởi vấn đề mới hay cũ?

N.H.Q.: Không chừng đó là điều các nhà phê b́nh cần làm nhất hiện nay, khi áp lực của cái cũ quá nặng nề và khi có rất ít người sẵn sàng chấp nhận thay đổi.

Q.T.: Khi cổ vũ cho cái mới, có bao giờ anh nghĩ là ḿnh hơi táo bạo và hơi... phiêu lưu không?

N.H.Q.: Táo bạo? Không. Quy luật trong lịch sử văn học cũng như lịch sử của bất cứ cái ǵ cũng đều là sự vận động liên tục. V́ thế sự xuất hiện của những cuộc vận động đổi mới văn học không có ǵ là... mới mẻ. Càng không phải là táo bạo. C̣n phiêu lưu? Cũng không. Những nỗ lực đổi mới văn học không bao giờ là một sự sai lầm và vô ích cả. Ngay cả những cái mới thất bại, chưa tới, chưa đạt, cũng có một ư nghĩa lịch sử nhất định. Nếu chúng không mở hẳn ra được một con đường nào thật mới th́ ít nhất chúng cũng nhắc nhở mọi người là có một con đường khác, ở ngoài những lối ṃn quen thuộc mà ḿnh đă và đang đi. Một sự nhắc nhở như thế bao giờ cũng cần thiết và hữu ích hơn là những tiếng ru ngủ.

Q.T.: Nói cho thực t́nh, có lẽ không ai phản đối cái mới hay phản đối những nỗ lực vận động đổi mới trong văn học. Có điều là nhiều người có cảm tưởng những người đang đổi mới không thực sự quan tâm đến người đọc cho lắm. Khi viết văn và làm thơ, họ bất kể việc người đọc có hiểu và có cảm được hay không.

N.H.Q.: Không có người cầm bút nào lại không quan tâm đến người đọc. Viết, nhất là xuất bản, là nghĩ đến người đọc. Có điều, khái niệm người đọc là một khái niệm mơ hồ, thậm chí hàm hồ. Không có người đọc chung chung. Không ai có thể viết cho người đọc chung chung, cho tất cả mọi người có khả năng đọc và thích đọc. Bao giờ người ta cũng phải chọn lựa một loại người đọc nào đó. Có người chọn giới độc giả b́nh dân, càng đông càng tốt. Có người chọn giới độc giả chọn lọc, càng ưu tú càng hay. Có người nhắm đến những độc giả thuộc về quá khứ; lại có người nhắm đến những độc giả thuộc về tương lai. Bao giờ cũng vậy.

Q.T.: Nhưng chắc anh cũng công nhận là những tác phẩm được xem là mới hiện nay rất khó tiếp nhận?

N.H.Q.: Thật ra th́ cái mới nào cũng khó tiếp nhận cả. Ngày nay chúng ta thấy tóc tai của đàn ông gọn gàng, rất dễ coi, vậy mà ngày xưa, phải mất cả hàng mấy chục năm, người ta mới thuyết phục được đàn ông cắt búi tó của họ. Hàm răng trắng hiện nay trông đẹp đẽ biết mấy, nhưng cũng phải mất cả hàng mấy chục năm, người ta mới thuyết phục được tất cả phụ nữ là nó đẹp. Trong văn học cũng vậy. Thể thơ lục bát bây giờ chúng ta xem là cực kỳ b́nh dân, cực kỳ quen thuộc, cực kỳ dễ làm, vậy mà mặc dù được h́nh thành từ khoảng thế kỷ 16, măi đến gần cuối thế kỷ 18 nó mới được các nhà thơ sử dụng. Cuộc làm quen, do đó, kéo dài đến mấy thế kỷ. Thơ Xuân Diệu, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử... thời 1930 đơn giản như vậy mà cũng phải mất mấy năm mới được giới thưởng ngoạn hoan nghênh, trước đó, người ta cứ chê là Tây, là ngô nghê, là ngọng nghịu, v.v... Tuy nhiên nếu, như lịch sử đă từng chứng minh, cái mới nào cũng khó tiếp nhận, người ta không thể căn cứ vào việc khó tiếp nhận ấy để đánh giá cái mới. Việc quần chúng ngỡ ngàng, khó chịu hoặc thậm chí chống đối, tự nó, không nói lên được cái ǵ cả. Đó chỉ là chuyện b́nh thường.

Q.T.: Anh có nghĩ là việc nhấn mạnh quá nhiều vào tiêu chuẩn mới/cũ có thể làm phân hoá giới cầm bút hay không?

N.H.Q.: Nếu sự phân hoá ấy có thực th́ tốt thôi chứ sao? Theo tôi, một nền văn học chuyên nghiệp hoá phải bắt đầu bằng việc phân hoá hàng ngũ cầm bút, tách những kẻ ăn theo ra khỏi những người sáng tạo, và thậm chí, tách cả những kẻ hưu trí (trong văn học, dĩ nhiên!) ra khỏi những người đang hoạt động sáng tạo thực sự. Lâu nay thế giới văn học của chúng ta là một thế giới xô bồ, thậm chí suồng să, ở đó, người cầm bút thật và người cầm bút giả y như nhau; kẻ viết văn chưa thông và kẻ đốt cả đời ḿnh cho từng câu từng chữ y như nhau; tất cả cứ anh anh em em, cứ chú chú cháu cháu tuốt hết. Tôi không cho đó là một hiện tượng lành mạnh. Một nền văn học lành mạnh phải là nơi mọi người đều tự giác về chỗ đứng của ḿnh; kẻ bảo thủ không được quyền có ảo tưởng là ḿnh đang cách tân; người đang tạm trú qua đêm không thể nuôi ảo tưởng là ḿnh đă đăng kư thường trú trong vương quốc của nghệ thuật; kẻ đă thuộc về quá khứ không nằm vật ra choáng đường đi vào tương lai, v.v...

Q.T.: Xin trở lại với cuốn sách VƒN HọC VIệT NAM, Từ ĐIểM NH́N H(ậu h)IệN ĐạI. Điều làm cho người đọc ngạc nhiên đầu tiên có lẽ là chính cách đặt tựa sách của anh. Hết THơ, V.V... và V.V... rồi bây giờ đến VƒN HọC VIệT NAM, Từ ĐIểM NH́N H(ậu h)IệN ĐạI. Những cách đặt tựa như vậy có thể làm cho một số người cho là anh lập dị. Không biết anh nghĩ sao?

N.H.Q.: Tôi chọn những tựa đề như thế là v́ tôi tin là chúng diễn tả được đầy đủ những ǵ tôi muốn đề cập đến trong cuốn sách mà thôi.

Q.T.: Nhưng ở Việt Nam, h́nh như là chưa ai đặt những tựa đề như thế, nhất là trong lănh vực phê b́nh và lư luận văn học.

N.H.Q.: Sự kiện chưa ai đặt những tựa đề kiểu như thế tự nó không nói lên được điều ǵ cả. Không phải v́ chưa ai làm mà chúng ta không được phép làm. Tôi cho là trong lănh vực văn học nghệ thuật, nhiều khi chúng ta phải tập làm quen với cách nghĩ ngược lại, là, chính v́ chưa ai làm nên chúng ta mới làm. Nói cách khác, chúng ta nên thay đổi cách nh́n về chữ "lập dị". Từ trước đến nay, bao giờ chúng ta cũng nh́n chữ ấy như một cái ǵ xấu xa. Nhưng đứng một ḿnh, đứng tách biệt với người khác th́ có ǵ là xấu xa? Cách nh́n ấy xuất phát từ một nền văn hoá cũ đề cao cộng đồng hơn cá nhân, cái chung hơn cái riêng, truyền thống hơn sáng tạo. Trong nền văn hoá hiện nay, khi giá trị của cá nhân, của cái riêng, của sự sáng tạo và của sự độc đáo đă được khẳng định, tôi nghĩ là không có lư do ǵ để chúng ta nh́n sự lập dị như là một cái ǵ xấu xa nữa. Nếu không muốn nói ngược lại.

Q.T.: Nhưng để thay đổi cách nh́n về một chữ như thế th́ cần nhiều thời gian lắm.

N.H.Q.: Biết vậy, chúng ta lại càng cần phải quyết liệt hơn.

Q.T.: Có phải v́ muốn có thái độ quyết liệt như vậy mà anh hay "gây sự" với người khác?

N.H.Q.: Nói cho chính xác, tôi không hề "gây sự" với ai cả. Tôi chỉ gây hấn với truyền thống, với thói quen, với các sức ỳ trong cộng đồng văn học mà thôi.

Q.T.: Nhiều người vừa đồng ư với các quan điểm của anh lại vừa mong là cách viết của anh nên nhẹ nhàng hơn.

N.H.Q.: Sự nhẹ nhàng thuộc phạm vi diễn đạt. Nó gắn liền với phong cách của từng người. Đôi khi để đạt được sự "nhẹ nhàng", người ta phải đánh mất một phong cách: cái nào đáng tiếc hơn?

Q.T.: Nếu không "nhẹ nhàng" được th́ ít nhất anh cũng có thể "nhẹ tay" hơn một chút chứ?

N.H.Q.: Thú thực, tôi không thích những chữ như "nặng tay" hay "nhẹ tay". Trong các cuộc tranh luận, nên chú ư nhiều đến tính chất hợp lư hay không hợp lư của các luận điểm hơn là cân đo mức độ nặng hay nhẹ của sự phê phán. Làm thế, thứ nhất, vô t́nh chúng ta biến một sinh hoạt học thuật thành một sinh hoạt thù tạc, biến nơi t́m kiếm sự thật thành nơi chén chú chén anh; thứ hai, cũng vô t́nh chúng ta hạ thấp người đối thoại, xem họ như những kẻ đáng được thể tất và khoan thứ.

Q.T.: Tôi để ư thấy trong cách viết cũng như trong cách nói, anh hay có thói quen cứ thứ nhất là... thứ hai là... hay một là... hai là...

N.H.Q.: Xin lỗi. Thói quen ấy chủ yếu xuất phát từ ư muốn đạt đến sự rơ ràng trong việc diễn tả. Trước đây, có lúc tôi rất bất măn khi đọc nhiều bài viết và nhiều cuốn sách khảo luận ở đó các tác giả cứ viết lằng nhằng, dây dưa, rối rắm, chỉ có chữ và chữ, chữ này nằm ngổn ngang bên cạnh chữ kia, có khi chúng căi nhau, mâu thuẫn với nhau, chữ dưới bác bỏ chữ trên, khiến người đọc hoang mang, đọc cả hai ba trang mà vẫn không hiểu tác giả muốn nói cái ǵ. Bởi vậy, tôi hạ quyết tâm phải viết khác đi. Phải thật rạch ṛi. Phải phân hoá ư tưởng thành từng luận điểm cụ thể. Với cách viết như thế, tôi tin là, thứ nhất, người viết có thể biết ngay là ḿnh đă nắm vấn đề vững hay chưa; thứ hai, người đọc rất dễ theo dơi. Dĩ nhiên, cách viết như thế không phải không có điều nguy hiểm. Trước hết là nó đ̣i hỏi người viết phải bỏ nhiều th́ giờ nghĩ ngợi, phân tích và tổng hợp. Sau nữa, nó dễ trở thành nhàm chán nếu người viết không đủ khả năng biến hoá câu văn sao cho linh hoạt. Cuối cùng, nó cũng dễ lộ ra những chỗ hớ hênh: người đọc có thể nhận ra những điểm sai, thiếu hoặc thừa trong cách lập luận của ḿnh. Ví dụ, về một vấn đề ǵ đó, người viết phân hoá thành ba luận điểm; người đọc chỉ cần t́m ra hai luận điểm khác nữa là có thể làm cho lập luận của người viết trở thành bất cập ngay tức khắc. Hoặc, nếu có ai đó chứng minh là một hay hai trong ba luận điểm ấy không chính xác, người viết không thể lấp liếm sự sai lầm của ḿnh bằng cách nói loanh quanh được. Tôi biết những điều nguy hiểm ấy. Tuy nhiên, tôi tin là ở đây hại không bằng lợi. Với riêng tôi, việc phân hoá ư tưởng thành từng luận điểm một là... hai là... như thế dần dần trở thành một thứ kỷ luật. Khi diễn đạt một vấn đề phức tạp ǵ đó mà tôi không thể phân hoá nó ra thành từng ư nhỏ, tôi tự biết là sự hiểu biết hoặc cảm nhận của ḿnh về vấn đề ấy c̣n khá mông lung và mơ hồ.

Q.T.: Xin hỏi anh câu cuối cùng: trong văn học Việt Nam hiện nay, anh thích những tác giả nào nhất?

N.H.Q.: Có lẽ đó nên là câu hỏi đầu tiên hơn là câu hỏi cuối cùng của một cuộc phỏng vấn?

Q.T.: Tại sao vậy, thưa anh?

N.H.Q.: Tại v́ để trả lời một câu hỏi như thế một cách nghiêm túc và với tinh thần trách nhiệm, người ta cần phải giải thích và chứng minh kỹ lưỡng. Do đó, nó cần nhiều th́ giờ.

Q.T.: Nếu vậy, ở cuộc phỏng vấn sau, tôi xin bắt đầu bằng câu hỏi vừa rồi. Anh đồng ư không ạ?

N.H.Q.: Theo kinh nghiệm của tôi, trong lănh vực văn học nghệ thuật, một lănh vực phần lớn các hoạt đồng đều tuỳ thuộc khá nhiều vào cảm hứng, chúng ta không nên hứa hẹn với nhau về điều ǵ. Nó chỉ làm bận tâm và có khi khổ tâm một cách vô ích. Tốt nhất là nên... chờ.

Q.T.: Trong khi... chờ, xin cám ơn nhà phê b́nh Nguyễn Hưng Quốc trước.

QUỳNH TRÂM

(trích Văn, Xuân Tân Tỵ 2001)



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home