HỒI SINH
Quỳnh Giao



Cơn giông mùa Đông

Vùng tôi ở, ba tháng mùa Đông năm ngoái là ba tháng u ám. Chúng tôi bị bốn trận băo tuyết đă đành mà c̣n gặp nhiều cơn giông đổ cây sụt đường làm tôi càng tiếc nhớ miền Tây. Nhưng, cũng nhờ một cơn giông mà tôi được biết Arlene... May lắm, những người thuộc thế hệ cha mẹ chúng tôi mới biết Arlene Muir là ai.

Không biết v́ sao, tại mọi nơi chốn gần gũi của ḿnh, nhỏ như trong một hộp đựng đồ khâu, lớn th́ là căn pḥng hoặc cả mảnh vườn ở sân sau, chúng ta đều có những góc nhỏ ít được ai để ư và bước tới. Khoảnh vườn sau nhà tôi cũng vậy, có mấy góc tối ở ven rào ít được chúng tôi ngó ngàng. Nơi đó, quanh cḥi lá cất đồ làm vườn th́ cỏ cây cảnh vật có vẻ tiêu sơ hoang dại hơn. Riêng tôi càng thấy vậy lại càng ít dám bước vào, v́ rờn rợn sợ sẽ gặp sâu bọ giun dế. Mùa Đông vừa rồi, góc vườn hoang ẩn lấp dưới hàng rào đó đă bị cây đè nát.

Mặt sau ngôi nhà chúng tôi ở, bên kia mảnh vườn và hàng rào là một con đường hẹp, duy nhất có một lần tôi men qua là khi dọn vào nhà. Đằng sau nữa là một cánh rừng nhỏ, tôi áng chừng vậy v́ thấy cây cối um tùm chạy dọc ngơ hẹp này. Măi về sau tôi mới biết rằng đó là ngôi vườn sau của vài căn biệt thự nguy nga. Nếu trong mảnh vườn của ḿnh có mấy góc hoang, nơi để chậu cây đă mẻ hoặc cuốc sẻng đă rỉ mà ít ai đụng tới, th́ trong khu vực cư ngụ của ḿnh cũng có những nơi ḿnh ít đi qua, và cứ coi như thuộc thế giới khác. Arlene Muir ở nơi đó.

Chúng tôi ngẫu nhiên biết khu biệt thự này trong một lần lạc đường khi mới dọn tới năm xưa. Những ngôi biệt thự xây bằng đá, ẩn hiện sau nhiều tàng cây cổ thụ của cánh rừng bên con đường cụt. Nh́n cảnh vật tịch mịch của các biệt thự nguy nga ở mặt sau ngôi nhà ḿnh ở, chúng tôi gọi đùa rằng đó là khu “Triệu phú hồi hưu”, và quên lửng khu vực này, ngoại trừ những chiều Thu khi nghe tiếng quạ kêu từ cánh rừng đó vọng ra.

Chiều Đông đó, chúng tôi bị một cơn giông thật lớn.

Gió rít bên ngoài và mưa đập vào kính như đ̣i tông cửa thổi khí lạnh vào nhà. Chúng tôi mất điện nửa ngày, tới gần đêm mới tắt nến và bật bếp đun nước uống trà cho đỡ lạnh khi bắt đầu có điện. Sáng sau, tôi chưa hay biết ǵ về hậu quả của trận băo th́ có tiếng chuông ngoài cửa. Buổi sáng vẫn xũng nước lạnh và tuyết lất phất rơi trên tàng cây trước sân. Mở cửa trong ra, tôi thấy một bà cụ người Mỹ tần ngần như muốn đếm số nhà, nhưng vẫn có vẻ b́nh thản khác lạ. Những người đi giảng đạo, bán Kinh thánh hoặc rao hàng thường không lớn tuổi và ăn mặc như vậy. Tôi đẩy cửa ngoài ra, chưa kịp lên tiếng th́ bà cụ đă niềm nở chào:

“Xin chào cô. Tôi là hàng xóm ở phía sau của cô. Có lẽ đêm qua cây nhà tôi đă đổ xập hàng rào của cô. Tôi xin được vào xem để xin lỗi và t́m cách sửa lại tai nạn này... Tôi thật tiếc...”

Arlene Muir, sau này tôi mới biết tên, ăn mặc hơi cổ, trong áo len dày kéo sát tới ngực, khăn lụa che đầu, chân đi bốt da cao cổ. Bà trang điểm ít nhưng có dáng quư phái, có lẽ từ đôi mắt và nhất là cách đưa tay chào. Mời khách vào nhà, và khép nhanh cánh cửa để tránh rét lúc đó tôi mới liếc nh́n ra vườn sau mà chưa thấy ǵ lạ. Chúng tôi phải đi qua pḥng khách mới mở đượïc cửa sau. Tôi đang loay hoay mở cửa th́ đă nghe bà khách lạ ồ lên với vẻ thú vị:

“Cô chơi dương cầm hả? Bản nhạc này tôi rất thích, ngày xưa rồi.”

Chưa biết trả lời sao th́ tôi đă thấy một góc vườn bị trùm dưới cây lá và gỗ mục. Đêm qua, một cây lớn đổ nghiêng qua hàng rào và đè nát mấy bụi hoa ngoài vườn của chúng tôi. Bà cụ bước từ đàn dương cầm ra ngoài và nh́n quanh vườn lắc đầu ngao ngán. Tiếng Anh của khách nghe cổ điển và kiểu cách hơn lối nói thân thiện tới đường đột của người Mỹ ḿnh thường gặp.

“Trời ơi! Tôi thật tiếc là đă gây ra tai họa này. Xin cô yên tâm, tôi sẽ cho người qua thu dọn và dựng lại hàng rào cho cô. Tôi là Arlene, nhà tôi ở bên kia, chúng ta là láng giềng đấy... Tôi thật ân hận, mong rằng cô không buồn về việc này.”

Trước vẻ lúng túng của khách, và cả sự bối rối của chính ḿnh v́ một việc đáng bực như vậy, tôi chẳng biết nói sao. Nhưng, không muốn tỏ ra là thiếu lịch sự, tôi nhỏ nhẹ mời:

“Thưa bà, rồi ḿnh cũng sẽ giải quyết xong việc này, biết đâu không nhờ đó mà chúng tôi sửa lại ngôi vườn cho gọn hơn. Bà thấy không? Tôi có thể mời bà uống ǵ được không, trà hay cà phê... hay một chút bánh mứt Á Đông chăng?”

Arlene nh́n quanh do dự, sau cùng liếc về phía đàn dương cầm, bà gỡ vuông lụa che đầu và vuốt tóc ngồi xuống. Tôi để ư nhất là giọng nói rất trẻ của người đàn bà lạ mặt này:

“Tôi không muốn làm phiền cô nhiều hơn, nhưng, nh́n căn pḥng ấm cúng này với cây đàn, tôi cũng muốn có một chút ấm áp. Nếu ưa uống trà, cô cứ cho tôi một tách trà nóng là được rồi... Đáng lẽ ḿnh có thể nói chuyện về thời tiết nắng mưa như người ta, nhưng, lần này th́ quả khó hợp, cô thấy không? Tôi về sẽ gọi ngay nhà thầu để họ tiếp xúc với cô và hẹn ngày thu dọn lại cây cối ngoài vườn. Tôi hứa sẽ qua lại nhiều lần tới khi mọi việc đều như ư của cô.”

Tôi quen Arlene Muir như vậy. Sau một tuần trà như ḿnh hay nói, và một tuần cưa xẻ đục đẽo của tốp thợ ở ngoài vườn. Cứ cách một ngày Arlene lại qua xem thợ họ sửa có đúng ư không, kể cả khi họ trồng lại hàng rào gỗ mà bà đ̣i là phải cùng màu cùng kiểu như cũ. Ít ai ngờ là một bà cụ như vậy lại có nghị lực chừng đó và nhất là cẩn thận để ư tới từng chi tiết của mảnh vườn mà tôi nghĩ rằng chỉ bằng vuôn khăn so với cánh rừng bát ngát sau nhà bà.

Tôi cũng không ngờ là cơn giông năm đó đă sưởi ấm ḷng một người cô quạnh như Arlene.

Trận gió vào Thu

Những người thuộc thế hệ chúng tôi ít ai biết hoặc c̣n nhớ Arlene Muir. Bà là ngôi sao điện ảnh rực sáng sau chiến tranh rồi đột nhiên ch́m vào bóng tối trước sự ngẩn ngơ của mọi người. Một Greta Garbo, tôi vừa nghĩ thầm th́ Arlene nhẹ lắc đầu như đoán ra ư tưởng của ḿnh:

“Không hẳn vậy! Greta có tài, c̣n tôi, tôi chỉ có sự chọn lựa.”

Trong những tháng sau đó, khi việc sửa lại vườn cây của chúng tôi đă xong, và ngôi vườn có vẻ c̣n đằm thắm hơn xưa, Arlene vẫn lại qua và mời tôi qua nhà bà nhiều lần. Tôi bước vào một thế giới khác khi qua thăm bà trong ngôi biệt thự, mà nhà tôi hơi ác gọi đùa là nhà đá.

Ngôi nhà của bà có vẻ lạnh lẽo ở ngoài, nhưng rất ấm ở trong. Tôi để ư nhất, và trước nhất, tới mùi thơm trong nhà. Cây dương cầm giữa pḥng thường hé mở với tập nhạc toàn những bài hát cổ, những cây nến cháy dở rất lớn được bày khắp nơi, pḥng nào cũng có mùi oải hương với thông và quế, mùi “Địa Trung Hải” như tôi ưa gọi v́ gợi nhớ tới khí hậu nhiệt đới ven biển. Arlene sống sung túc, có hai người làm trong nhà và họ đều nhẹ nhàng im ắng, và chẳng gây tiếng động. Arlene nói nhiều với họ qua ánh mắt, tôi mường tượng vậy. Tiếng động duy nhất, nghe rơ mồn một, là từ một đồng hồ đứng, bằng gỗ quư nạm bạc rất cổù. Trên bàn và tại mấy góc trong pḥng tôi thấy nhiều sách, cả những cuốn tiểu thuyết trinh thám mới nhất, mà h́nh như cuốn nào cũng đang đọc dở v́ úp xấp. Bà này từ đâu mà về đây vậy.

“Già như chúng tôi, đă sống quá nhiều th́ có ở giữa thủ đô hay New York hay bên California náo nhiệt mà cô ưa nhắc tớiù, cũng tựa như ở tỉnh lẻ. V́ vậy, tôi mới chọn về đất Virginia này. Đối với tôi th́ chẳng khác ǵ New York hay Hollywood hay Vermont.”

Lần đầu tới nơi, như bước vào viện bảo tàng và để khỏi làm vỡ không khí tĩnh mịch của ngôi nhà, tôi nhẹ giọng định nói về bánh mứt hay thời trang như mọi phụ nữ th́ chính Arlene lại dẫn câu chuyện qua hướng khác. Tôi đoán rằng Arlene Muir sống khép kín từ lâu cho tới buổi sáng mùa Đông đó mới ra khỏi nhà và tiếp xúc với một người xa lạ ở bên ngoài. Có lẽ v́ thấy tôi là người Á Đông, lại yêu nhạc và dương cầm, như bà tâm sự sau này, bà thấy hơi vui và lạ. Đôi bên cùng hiểu một ngôn ngữ bà rất thích là âm nhạc, và lạ v́ tôi không biết ǵ về quá khứ của bà để lại ṭ ṃ hỏi những câu bà đă cứ phải trả lời từ gần nửa thế kỷ nay.

Vậy mà tôi cũng vẫn quay về điện ảnh, rồi có khi lúng túng nói tới các cuốn phim ḿnh ưa gọi là “tiền chiến” tôi được coi khi c̣n nhỏ và chỉ biết qua tên Pháp như hầu hết mọi người ḿnh. Arlene nhớ hết, từ cốt truyện tới tên đạo diễn và cả tựa đề tiếng Pháp, v́ đă ở Pháp khá lâu.

Arlene Muir giă từ điện ảnh lúc đang ở trên tột đỉnh danh vọng và qua Âu Châu sống như người ẩn dật, tới gần mười năm mới quay về, khi con gái bà bị tử nạn máy bay trong một chuyến quay phim tại Phi Châu. Nói chuyện lâu tôi mới đoán rằng bà muốn ngưng hoạt động để mở đường cho con gái bước vào nghệ thuật thứ bảy, nhưng trời chả cho vậy.

Người con bà, tính ra th́ bằng tuổi tôi, đă mất sớm khi vừa bắt đầu nổi tiếng. Sự hy sinh của bà đâm ra thành vô ích, điều này báo giới thời đó có phỏng đoán, nhưng tôi nghĩ ở bên sau c̣n nhiều lư do khác, v́ Arlene nói tới thế giới nghệ thuật lúc đó với những chi tiết mà những người như chúng ta ở ngoài ít biết tới.

“Thời đó, nghệ thuật và đời sống tương đối c̣n tách bạch, có sự cách ngỡ. Thời nay, cô thấy đó các diễn viên và nghệ sĩ thường xuyên sống ngoài đời y như trên sân khấu v́ mọi hành vi cử chỉ đều được báo chí truyền h́nh phóng lên cho mọi người cùng thấy. Thời nay, cuộc đời là sân khấu lớn của họ, và sân khấu hay sân quay mới là đời sống kín, và chỉ được chiếu ra ngoài theo một chương tŕnh quảng cáo đă được nhà sản xuất sửa soạn trước, sửa soạn chi ly từng chi tiết. Tôi cảm ra điều đó th́ nghỉ. Mùa Thu của ḿnh khởi sự sớm hơn cũng v́ sự phát giác này.”

Tôi hơi hiểu tâm trạng của bà khi nghĩ đến con gái vừa lập gia đ́nh, nhưng Arlene đi sâu vào suy tư đó khi nói về sự nghiệp đứt ngang của bà. Trong tâm trí của trẻ thơ, người mẹ nào cũng phải giữ hai vai tṛ tương phản, bà giải thích vậy và nhắc tới các nhân vật trong tiểu thuyết này hay truyện trinh thám nọ. Lúc đó tôi mới để ư là Arlene đă đọc hết mấy cuốn sách đang mở như đọc dang dở. Bà để đó và có lẽ đọc lại, nghĩ vậy tôi mới thấy thương người đàn bà cô đơn này.

“Tâm trí trẻ thơ cứ phải nh́n người mẹ ở hai góc cạnh trái ngược. Mẹ là người bảo bọc và chiều chuộng con, nhưng mẹ cũng là người phải ngăn cản răn đe, nên vừa là bà tiên vừa là mụ phù thủy. Chỉ khi nào con ḿnh khôn lớn, chúng mới có thể xóa được mối ngờ đó trong tâm trí và hết vùng vằng tủi thân để yêu mẹ ngay cả trong những lúc bị cấm đoán.”

“Vâng, thói thường là vậy và nhiều khi ḿnh lại chả hiểu như vậy cho con.” Tôi trả lời Arlene mà tự hỏi là bà để ư tới hiện tượng này vào lúc nào. Tấm h́nh hai mẹ con đă vàng úa trong pḥng đọc sách như trả lời cho tôi. Đă từ lâu lắm rồi.”

“Vâng, thường th́ vậy. Nhưng, đối với đứa trẻ có mẹ là nghê sĩ và lại là nghệ sĩ diễn xuất, sự t́nh c̣n rắc rối hơn. Mẹ không chỉ là bà tiên ôm ấp vỗ về với sự dịu ngọt, rồi đột nhiên biến ra mụ phù thủy dữ dằn khi la mắng. Mẹ c̣n là người t́nh trong một cảnh ái ân trên màn bạc hoặc một ác phụ đang âm mưu ám hại người chồng để lấy tiền bảo hiểm như trong phim cô nhắc tới lần trước. Năm đó, khi coi chiếu thử bộ phim này về, Nancy nó cứ thắc mắc măi. Rằng mẹ tính thật như vậy đấy hả, khiến cha bị bệnh mất sớm?..”

“Và những điều đó đă ảnh hưởng tới sự nghiệp của bà?”

“Không hẳn vậy. Nhưng, tôi có suy nghĩ và t́m cách đưa con gái vào ngả nghệ thuật như ḿnh, có lẽ để nó sớm cảm nhận những thật giả giữa sân khấu và ngoài đời, và nh́n thấy con người thật của chính ḿnh. H́nh như tôi đă lầm. Năm cháu 16 nó bắt đầu đóng phim, hai năm sau là tôi nghỉ, và con đường nghệ thuật dẫn nó tới đất Phi Châu, để rồi vĩnh viễn ở lại đó.”

Cây trái mùa Hạ

Arlene Muir hiểu âm nhạc một cách sâu sắc và có nhiều nhận xét tinh tế làm tôi rất thích, nên chúng tôi trở thành bạn “vong niên” như người ḿnh hay nói. Chẳng hiểu sao, người ta hay chỉ nói tới t́nh bạn vong niên bên phái nam, chứ trong giới phụ nữ, ít ai để ư tới t́nh bạn của hai người chênh lệch tuổi tác khá lớn, như trường hợp chúng tôi.

Được người chị dâu gửi cho một gói ô mai làm lấy ở nhà, tôi có lần mời Arlene nếm thử và vui trong ḷng khi thấy bà cũng thích, rồi hỏi từng chi tiết về cách làm. Bà là người ưa t́m hiểu tường tận từng viêc lớn nhỏ có lẽ v́ có cả khoảng thời gian rất trống ở trước mắt. Mùa Hè năm nay nóng bức hơn mọi năm và Arlene rủ tôi đi biển mà tôi từ chối. Từ lâu lắm rồi, tôi không c̣n thích biển cả v́ cứ nh́n ra biển là lại nhớ nhà. Sau chuyến nghỉ mát trở về, Arlene điện thoại rủ rôi qua chơi. Câu chuyện lại trở về đề tài ø dang dở, về việc bà giă từ điện ảnh.

“Măi đến sau này, tôi vẫn có thói quen là không muốn ai nhận ra ḿnh. Có lẽ v́ vậy mà thích gặp cô, đôi ta như có trang giấy trắng trước mặt, và chúng ḿnh không bị ảnh hưởng bởi những ấn tượng sai do những hiểu biết hay thiên kiến từ trước.”

“Khi có người nhận ra bà là một ngôi sao màn bạc của mấy chục năm trước, bà thấy sao?”

“Cũng tùy. Thường th́ tôi không thích lắm và chẳng bao giờ tự ḿnh nhắc tới thời đó. Tôi rất sợ nỗi sợ của nhiều người là thiên hạ không biết ḿnh là ai. Ngẫm kỹ có lẽ tôi chỉ vui khi có người nhắc tới con gái. Và trường hợp này rất hiếm, v́ con gái tôi chưa kịp nổi tiếng th́ đă mất.”

Arlene đă công phu chuẩn bị cho con gái một sự nghiệp thật đẹp, đến độ tự ư lui về để Nancy Muir thành một tài tử nổi danh hơn là con gái của Arlene Muir. Tôi nh́n sâu vào đáy mắt của bà và hỏi một câu khá thẳng:

“Bà có nghĩ rằng chính ḿnh cũng gặp hiện tượng phân vân của trẻ thơ mà bà gọi là thảm kịch của nàng tiên và mụ phù thủy chăng?”

“Tôi hiểu ư cô, v́ nhiều lần tự hỏi vậy... Ḿnh nghĩ là con gái nó khó ḥa nhập được hai h́nh ảnh tương phản của mẹ hiền và mụ ác, nhưng biết đâu chừng chính ḿnh cũng là nạn nhân của một hiện tượng khác, đó là sợ hào quang và tuổi thanh xuân của con gái sẽ sớm đẩy ḿnh vào cảnh xế chiều, nên vội lui sớm. Tôi thực t́nh nghĩ là ḿnh không có phản ứng đó và hoàn toàn không nhắc lại quá khứ của ḿnh. Nhiều lần, khi Nancy bắt đầu cầm tới các bản phân cảnh và bàn với tôi cách diễn xuất cho thích hợp, tôi đều cố tránh đưa ra một so sánh hay ví dụ nào liên hệ tới một vai khác của ḿnh. Thú thật, khó nhất là biết quên ḿnh cho con được tự do phát huy tài năng của nó. Tôi đă cố, và đă thất bại v́ trời không cho như vậy....”

“Nhưng, bà vẫn có thể quay về đóng phim trở lại mà?...”

“Có chứ, sau khi Nancy tử nạn, nhiều bạn hữu và các phim trường có liên lạc để đề nghị một số vai nhưng tôi đều từ chối. Phải nói là đă đắn đo trước khi từ chối, chứ không dễ đâu... Nhưng, rốt cuộc vẫn từ chối. Thời của tôi đă qua, và nói ra th́ hơi kỳ, chứ năm đó tôi không c̣n nỗi say mê như mươi năm trước, dù ḿnh vẫn c̣n trẻ...”

“Rồi bà cứ sống như vậy, cho tới ngày nay?” Tôi hỏi câu đó mà nghĩ tới điều nhà tôi hay nói đùa, rằng tương lai nó nằm đâu đó ở sau lưng ḿnh.

“Tôi có đổi nghề vài ba lần, làm trong ngành quảng cáo rồi bảo hiểm và tương đối cũng thành công về mặt tài chánh cho tới khi về hưu.”

“Thành thử, giấc mơ đẹp nhất của bà là một thời vàng son có thật, tự ḿnh chấm dứt và không muốn nối lại nữa?”

“Đúng vậy, cô có thấy rằng nhiều khi ḿnh đang có giấc mơ thật đẹp th́ tỉnh dậy, và có muốn ngủ lại để mơ tiếp cũng chẳng xong, có khi c̣n thức trắng đêm để nuối tiếc chăng? Thế giới điện ảnh của chúng tôi nó tàn khốc vô cùng cho những ai mơ ước nối lại khúc phim cũ. Ḿnh chẳng mất trắng đêm đâu, có khi mất cả chục năm ngơ ngẩn như vậy. Nên tôi tỉnh giấc là tỉnh luôn. Giữa nghệ thuật và Nancy, tôi đă chọn, và sống với sự chọn lựa đó.”

“Mà không bao giờ ân hận?”

“Nói là không th́ cũng chưa đúng”...

Arlene đứng dậy và bước ra đàn dương cầm của tôi dạo đoạn nhạc dẫn vào một truyện t́nh. Với cái tai cô giáo dạy đàn, tôi thấy Arlene đánh đàn rất ngọt, nặng về cảm xúc hơn kỹ thuật, theo thói quen của người tự học nhờ năng khiếu hơn là được huấn luyệïn từ căn bản. Ngừng đàn quay ra sân, Arlene chỉ vào bụi hoa chính bà đă đ̣i thợ trồng trong vườn nhà tôi và nói tới những giấc mơ vào mùa Hạ.

“Tôi vẫn hồi tưởng lại và thấy ḿnh đă có những quăng đời đẹp nhất. Tôi thu thập hết bảy cuốn phim Nancy đă đóng, từ vai phụ tới vai chính, cả khúc phim đang quay dở th́ mất, và thường hay xem lại những phim đó hơn là mười ba tập phim của chính ḿnh. Tôi xem lại và đi ngược đoạn đường con gái đă trải qua v́ nhớ lại từng đoạn phim khi Nancy bàn với tôi về mỗi cảnh diễn xuất. Tôi đi ngược về cơi xưa và tự hỏi nếu là ḿnh, vào lúc đó, th́ diễn như thế nào. Nancy có tài mà không may, nếu c̣n sống chắc chắn sẽ nổi danh, nổi hơn tôi rất xa.”

Tôi chưa thấy ai yêu con như Arlene, khi bà trầm ngâm trả lời câu hỏi từ ánh mắt của tôi:

“Nói rằng không ân hận th́ chưa hẳn, nhưng tôi thấy là ḿnh ngưng đóng phim là đúng, và măi đến giờ đây vẫn yêu thích sự chọn lựa này, cho con gái và cho ḿnh.”

Hoa nở đầu Xuân

Kể từ đó, tôi tránh đề cập tới điện ảnh và h́nh như Arlene cũng vậy. Chúng tôi nói chuyện nhiều về âm nhạc, và như một người đă kín đáo nhận xét từ lâu trong vai một nữ giám khảo, Arlene bắt đầu nói tới nhóm bạn hữu bà hay gặp trong một nhà thờ tại thị trấn Vienna kế cận. Họ tụ tập khá thường, phần lớn để chuyện tṛ về âm nhạc.

Sau một mùa Thu tương đối êm ả, tôi được Arlene mời đi dự một buổi gặp gỡ đó.

Họ có vài chục người, phần lớn đă luống tuổi và mỗi người có một thế giới riêng nhưng cùng chia sẻ một sở thích là âm nhạc. Một cặp vợ chồng già trong số đó c̣n có một chương tŕnh phát thanh riêng. Mỗi tuần, họ lên đài chọn nhạc, toàn những bài cổ thuộc loại Golden Oldies như họ nói, và giới thiệu từng bài về hoàn cảnh sáng tác hay chi tiết ghi âm, cùng những biến cố xảy ra khi bài hát này mới xuất hiện, từ những thập niên 50 về trước. Được một vài công ty hay bằng hữu tài trợ bằng những mẩu quảng cáo nhỏ, họ đă có một chương tŕnh hoài niệm như vậy cho những người cùng tuổi, để nghe vào trưa Chủ Nhật sau khi đi lễ nhà thờ về.

Từ đó, tôi gặp họ thường xuyên hơn, và ngạc nhiên về nhiệt t́nh của Arlene Muir trong thế giới hơi già hơi cổ đó của bà. Cho tới một hôm Arlene bưng một bó hoa thật lớn tới nhà và nói ṿng vo măi rồi bà mới ngỏ lời:

“Tôi để ư từ lâu và thấy là ḿnh hợp nhau về nhạc. Tôi đang sợ là chơi với nhóm bạn này măi th́ ḿnh sẽ thành sản phẩm của viện bảo tàng, họ cũng nghĩ như vậy mà chưa biết tính sao. Tháng trước, khi thấy cô chiều ḷng họ dạo đàn và hát lại một số ca khúc họ yêu thích, bằng cả lời Anh của chúng tôi lẫn lời Việt của cô, họ mới nảy ra một đề nghị... Bó hoa này là họ nhờ tôi trao cho cô cùng lời đề nghị đó... nếu như cô chịu nghe”.

Tôi tủm tỉm cười v́ lần đầu bắt gặp vẻ tần ngần do dự của bà bạn già: “Bà và các bạn tính chiêu mộ tôi vào Câu lạc bộ Tuổi vàng của bà?”

“Không, tôi đang có đề nghị ngược lại, là nhờ cô kéo chúng tôi ra khỏi câu lạc bộ lụ khụ đó. Chúng tôi định lập một ban nhạc tài tử và lâu lâu tŕnh diễn với nhau. Chúng tôi muốn cô đứng ra thu xếp việc đó về mặt nghệ thuật, và giữ phần dương cầm cho ban nhạc. “

Tôi chưa hiểu trời xui đất khiến ra sao mà tôi lại nhận lời. Ban nhạc bảy người của chúng tôi đă thành h́nh, với Arlene Muir được phong làm bầu gánh, v́ làm việc nhanh gọn ngăn nắp, c̣n tôi phụ trách liên lạc với các nhạc sĩ chuyên nghiệp bên ngoài để lo phần ḥa âm. Chúng tôi đă có hai buổi “ra mắt” thật vui và phải nói là khá thành công, tôi bận rộn hơn xưa một chút, nhưng lại t́m ra một nguồn vui mới.

Đó là thấy Arlene Muir như trẻ lại. Bà xông xáo chu toàn mọi việc về tổ chức và có hôm c̣n lên solo bài Answer me O my Love với âm sắc trong trẻo bất ngờ, như của một thiếu nữ và vẻ nồng nàn của người đă biết yêu mà không cay đắng v́ những mất mát của t́nh yêu.

Arlene nhận xét rằng trời có luật bù trừ: khi lớn tuổi làn hơi của ḿnh có mất một số ưu điểm của thời trẻ nhưng lại học được nghệ thuật diễn tả khác. Miễn là ḿnh phải hát với cảm xúc thật. Tôi không thể đồng ư hơn và thầm hỏi là nếu Arlene Muir không đi vào điện ảnh, biết đâu những Rosemary Clooney hay Julie London đă chẳng có một đồng nghiệp ngang tài? Và biết đâu, cả hai mẹ con đều ngự trị ở trên hai lănh vực nghhệ thuật khác nhau. Lần đó, tôi giới thiệu đùa với cử tọa là một Lena Horn da trắng sẽ đến với chúng ta đêm nay, mà chẳng ngờ là ḿnh có lư.

Rốt cuộc, tôi thấy là giông băo làm đổ cây vào mùa Đông năm ngoái chưa chắc đă là điều xấu cho chính ḿnh.

Tôi ngồi đây viết lại những ḍng chữ này khi trên bàn vẫn có đóa hoa rực rỡ của Arlene, với tấm thiệp thật đẹp và chữ viết nắn nót: “Cám ơn v́ đă chia sẻ một niềm hạnh phúc mới.” Arlene Muir là người chỉ sống trong sự say mê và sẽ c̣n trẻ măi, trẻ hơn cả h́nh ảnh của Nancy Muir trong ḷng ḿnh, nhờ sự say mê đó.

QUỲNH GIAO
Tháng Tám, 1999



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home