|
Mồng bốn Tết năm 2002 tôi trở lại Đà lạt
sau 15 năm. Tôi không thấy Đà lạt nữa
tôi thấy một con bửa củi lật ngửa những cái chân
thông xơ xác chĩa lên trời ngọ nguậy.
Tôi quầy quả lên đồi Cù nhưng nó đã thành một cái vú,
cho thương gia Đài Loan trèo lên bóp mỗi ngày.
Tôi đi xuống hồ, bên phải hồ đã cạn,
bên trái hồ nhiều rác, bờ hồ lác đác quà rong và các phó nhòm
lưu niệm.
Tôi ghé café Tùng, bây giờ là một quán lùng nhùng đủ hạng
khách
Nơi đây năm 1987 tôi mặc quần nhung mang đôi giầy mượn của
Bằng
quá rộng phải nhét thêm giấy vào gót
ngồi đẽo gọt những điếu thuốc đen chờ café
hợp tác xã nhỏ giọt.
Khi 20 tuổi không tương lai nhưng có một hàm răng bén ngót
Người ta có thể nhai đời mình một cách rất khoái cảm ở Đà lạt
Người ta có thể đứng dưới thác của sự khổ đau bình thản
như đứng trong vườn dâu trại Hầm nhìn sang ngôi chùa nhỏ
bên kia đồi nơi nuôi một con chó lớn
canh giữ đức tin. Nơi người thầy tu già chết
sau khi từ chối bữa ăn cuối cùng để giành gạo cho chú tiểu.
Khi lớn lên chú trở thành kẻ lụy vì yêu.
Đà lạt bây giờ phát phì kiểu một người ăn tạp
Các con đường giãn dây thun, nhà xây
theo bản nháp. Xe gắn máy ăn cắp yên tĩnh ban mai
ngày đầy bọn đàn ông thô bạo đến từ xứ sở
đói nghèo trấn lột thân thể xốp thiếu nư,õ
trấn lột ngôn ngữ dịu dàng, trấn lột đất.
Thế giới đầy những con tốt bị xua qua sông bởi khẩu hiệu và
súng.
Tôi uống nước đóng chai tôi trú trong khách sạn tên
Global Trek kề dinh Bảo Đại. Qua cửa sổ mờ sương tôi thấy
người đàn bà
gánh hai chiếc thúng. Tôi không biết bà gánh gì nhưng
tôi biết sức nặng của cuộc đời không ra khỏi được thung lũng.
PHAN NHIÊN HẠO
(Trích tập thơ “Chế Tạo Thơ Ca 99-04”, NXB Văn, 2004)
|