|
||
|
Ở quê nhà, Houellebecq đoạt hai giải văn học Grand prix national des lettres và Prix novembre, nhưng giới trí thức Pháp chưa trao cho ông một giải thưởng lớn nào. Từ bốn năm nay, ông đă nổi danh như một nhà tiểu thuyết, một nhà thơ, một nhà tiểu luận, một ca sĩ pop, một nhà b́nh luận có quan điểm chính trị trái mùa hoặc đối chọi nhau và có một định nghĩa quá tùy tiện về từ "louche" (ám muội). Ông cũng là một kẻ thích tự quảng cáo. Les particules élémentaires đă được dịch sang 25 ngoại ngữ (bên Mỹ dưới cái tên The Elementary Particles, chắc cũng bản dịch của F. Wynne), là một công kích thế hệ hậu-híppi, đầy những lời chua ngoa về nhiều vấn đề, từ nhân chủng học đến các tờ báo phụ nữ, kể lại câu chuyện của Michel và Bruno, hai anh em khoảng bốn mươi tuổi cùng mẹ khác cha, tính t́nh hoàn toàn khác nhau. Họ có một đời sống t́nh dục bất thường. Bruno trác táng. Michel kiêng cữ. Một đoạn, trong đó Michel nói anh ta "nghe cảm khoái" mỗi khi hay tin một người Palestine bị bắn chết ở Gaza Strip, đă khiến công chúng phẫn nộ. Thoạt tiên Houellebecq t́m cách xoa dịu dư luận và bảo đấy chỉ là quan điểm của một nhân vật hư cấu. Nhưng sau đó, và chỉ vài hôm trước biến cố ở New York, trong cuộc phỏng vấn dành cho một đặc san văn, Houellebecq đă tưới thêm dầu khi ông nói Hồi giáo là một tôn giáo "nguy hiểm" và "đần độn nhất". Nhiều nhà lănh tụ Hồi giáo ở Pháp đă tuyên bố Michel Houellebecq phải bị xét xử về tội khuyến khích kỳ thị. Plateforme, cuốn tiểu thuyết thứ ba của Houellebecq, lại đứng đầu danh sách bán chạy nhất tại Pháp trong năm 2001, đă đoạt giải Prix Ciné Carte Noire trong tháng Tư năm nay, v́ nó rất "ăn phim". Đă có bản dịch tiếng Nhật (Kadokawa Shoten) và Triều Tiên (Munkakdongne). Cuốn truyện đầu tay của Houellebecq, Extension du domaine de la lutte (1994), cũng rất hay, gợi nhớ đến Người xa lạ, và đă được quay phim (đạo diễn Philippe Harel, Pháp 1999). Bản tiếng Anh mang tựa đề Whatever (1999) do Paul Hammond chuyển ngữ. ". Đạo diễn Philippe Harel hiện đang chuẩn bị đưa Plateforme lên màn bạc. Như đại đa số trí thức Pháp, Houelllebecq cũng nghĩ văn minh Tây phương suy đồi vô phương cứu chữa. Nhưng khác với họ, ông quy lỗi cho chủ nghĩa tự do xả láng (libertarianism) và chủ nghĩa nữ quyền (feminism) của hai thập niên 60-70, và các chủ nghĩa tự do (liberalism), tư bản (capitalism), và vật chất chủ nghĩa (materialism) của thập niên 80-90. Với một bút pháp châm biếm từ một ng̣i bút sắc bén, và một bức chân dung tàn nhẫn, phơi bày một xă hội thích răn dạy luân lư nhưng đă lạc lối trên bản đồ đạo đức, truyện của Houellebecq có thể so sánh với truyện của Sartre, một nhà văn mà Houellebecq đă nói huỵch toẹt là ông không ưa. Ông cũng không thích nhà thơ kiêm nhà viết kịch bản phim người Pháp được cả nước Pháp và cả thế giới yêu quư, thi sĩ Jacques Prévert. Ông hạ bệ Prévert trong một bài luận văn ngắn hai trang dưới tựa đề: Jacques Prévert là thằng ngốc, bằng một cái nh́n soi sáng với những lập luận vững vàng. Bản tiếng Anh của Plateforme dự trù cho ra mắt vào tháng Chín năm nay, khớp với thời gian ṭa án Pháp sẽ xét xư? Houellebecq về những lời tuyên bố kích thích sự kỳ thị, không phải trong tác phẩm, mà trong phỏng vấn đă kể trên. Từ mấy năm nay Houellebecq sống tại Bantry Bay trên đảo Bere, một đảo nhỏ gần bờ biển tây nam Ái-nhĩ-lan với gia đ́nh và chú chó corgi (giống chó của vùng Welsh được Nữ hoàng Anh ưu ái). Ông nói West Cork là nơi lư tưởng để viết, v́ nó "yên lặng" và vắng các "hội quán đổi vợ" có thể khiến ông sao lăng công chuyện. Houellebecq từng giữ một chức vụ nhỏ trong ngành điện tử tại Quốc hội Pháp. Ngoài ra ông cũng có bày tỏ cảm t́nh riêng đối với chính phủ Vichy, một chính phủ Pháp thân Phát-xít trong Thế chiến 2. Tuy nhiên, ta cũng không nên quan trọng hóa thái quá các lời tuyên bố của Houellebecq, mà nên coi các quan điểm chính trị của ông, trong truyện hay ngoài đời, đều không nghiêm túc. Hoặc chỉ với mục đích gây chú ư. Ta cũng có thể so sánh Houellebecq với truyện của D. H. Lawrence. Lawrence người đă tuyên bố: "Đừng tin vào tác giả. Hăy tin vào câu chuyện." Theo lời nhà văn Anh Julian Barnes, Atomised là "một cuốn tiểu thuyết t́m săn những con thú lớn trong khi các cuốn truyện [của các tác giả] khác chỉ săn thỏ" Houellebecq cũng có cho ra mắt một tập thơ La poursuite du bonheur (1997) và hai tập tiểu luận: Rester vivant et autres textes (1997) và H. P. Lovecraft (1991) tiểu luận nổi tiếng về nhà văn Mỹ chuyên viết truyện huyền hoặc. Bạn đọc có thể vào website www.houellebecq.info để biết thêm về con người và nhà văn 44 tuổi này. jacques prévert là một thằng ngốc Jacques Prévert là người có những bài thơ mà ta học ở trường. Từ đó ta biết ông ta thích hoa, chim, các khu phố cổ Paris. v.v. T́nh yêu đối với ông ta có lẽ đă nẩy nở trong một bầu không khí tự do; tổng quát hơn, ông ta đứng về phía tự do. Ông ta đội mũ cát và hút "Gauloises"; đôi khi ông ta bị nhầm với Jean Gabin; vả lại chính ông ta đă viết kịch bản cho phim Quai des brumes và Les portes de la nuit, v.v.Kịch bản phim Les enfants du paradis, được đánh giá là tuyệt tác, cũng do ông ta viết. Tất cả những thứ đó đủ khiến ta ghét Jacques Prévert; nhất là khi ta đọc lại những kịch bản do Antonin Artaud viết cũng vào thời ấy mà không hề được quay. Thật buồn là cái chủ nghĩa hiện thực thơ mộng đáng tởm ấy, mà Prévert là tay thợ cả, vẫn tiếp tục hoành hoành, và người ta xếp Leos Carax vào hàng ngũ đó, tưởng thế là một sự đề cao (làm như Rohmer có thể là một Guitry mới, v.v.). Điện ảnh Pháp thật ra đă không đứng dậy nổi sau biến cố phim nói; nó rồi sẽ ngủm luôn, và như thế cũng không tệ hơn là bao. Sau chiến tranh, gần như cùng thời với Jean-Paul Sartre, Jacques Prévert đă gặt hái một thành công lớn; ta phải bất đắc dĩ mà ngạc nghiên về sự lạc quan của thế hệ đó. Hiện nay nhà tư tưởng ảnh hưởng nhất chắc là Cioran. C̣n thời ấy người ta nghe các bài ca của Vian, Brassens. Trai gái ôm nhau hôn trên ghế băng công cộng, con cái đẻ ra ào ào, các chung cư đồ sộ làm chỗ ở cho đám người ấy được xây cất. Rất nhiều lạc quan, ḷng tin ở ngày mai, và một tí ngu si. Rơ ràng, chúng ta đă thông minh hơn rồi. Với giới trí thức, Prévert đă kém may hơn. Thơ của ông ta đầy dẫy những tṛ chơi chữ ngớ ngẩn, dễ chiều ḷng người, như kiểu Bobby Lapointe (2) ; nhưng ca khúc thực ra chỉ là một thể loại nhỏ (3), mà người trí thức th́ cũng có lúc phải giải trí. Song khi bước vào địa hạt văn bản viết, nghề kiếm sống thực thụ của ḿnh, th́ phải tuyệt đối không nhân nhượng. Và sự "trau giồi văn bản" (travail du texte) ở Prévert th́ c̣n ở dạng phôi thai: ông ta viết với sự sáng sủa và không kiểu cách, thỉnh thoảng cũng có chút xúc cảm; c̣n chuyện văn phong hay sự bất hành văn th́ ông ta chẳng buồn bận tâm; cuộc đời mới là nguồn cảm hứng chủ đạo của ông ta. V́ vậy, và ở phần cốt lơi, ông ta vượt khỏi những luận án cấp ba. Thế mà bây giờ ông ta được vào tủ sách Pléiade, chết lần thứ hai. Tác phẩm ông ta nằm ở đấy, trọn bộ và chai cứng. Đây là cơ hội tốt nhất để ta đặt câu hỏi: tại sao thơ Jacques Prévert tầm thường quá thể như vậy, đến mức đọc vào có khi ta phát ngượng? Giải thích theo lối cổ điển (bởi văn phong của ông ta "thiếu hàm súc") là hoàn toàn sai; thật ra, xuyên qua các tṛ chơi chữ, nhịp điệu nhẹ nhàng và sáng sủa, Prévert diễn tả một cách hoàn hảo cái quan niệm về thế giới của ông ta. H́nh thức ăn khớp với nội dung, đó hẳn là điều tối đa ta có thể đ̣i hỏi nơi h́nh thức. Vả chăng, khi một nhà thơ trầm ḿnh tới mức đó vào cuộc sống, cuộc sống thật của thời đại ông ta, th́ là một sỉ nhục nếu ta phán xét dựa vào những tiêu chuẩn bút pháp thuần túy. Prévert viết, là bởi ông ta có điều phải nói, vinh hạnh cho ông ta là ở đấy. Rủi thay, cái điều ông ta cần nói ra lại xuẩn ngốc vô cùng; đôi khi nó làm ta buồn nôn. Những cô nàng khỏa thân, những tay trưởng giả đổ máu như heo bị thọc huyết. Đám trẻ con th́ vô luân một cách quá dễ thương, bọn du côn th́ đầy nam tính và quyến rủ, các nàng khỏa thân hiến dâng thể xác cho bọn du côn; các ông trưởng giả th́ già, mập, bất lực t́nh dục, được gắn Huân chương danh dự và các bà vợ của họ th́ liệt âm; các linh mục là những con sâu róm già đáng tởm đă sáng chế tội lỗi và không để cho chúng ta sống. Những thứ đó ta đă biết hết cả rồi, ta có thể thích Baudelaire hơn. Hay thậm chí Karl Marx, ít ra ông ấy đă không nhắm sai mục tiêu khi viết ? sự đắc thắng của giai cấp trung lưu đă nhận ch́m những rung cảm thiêng liêng của sự ngất ngây bởi tôn giáo, của ḷng hào hiệp đầy nhiệt thành và của những t́nh cảm bốn xu trong những ḍng nước buốt giá của tính toán vị kỷ (4) ?. Trí thông minh không ích lợi ǵ cả cho việc viết những bài thơ hay; tuy nhiên nó có thể tránh cho ta khỏi viết ra các bài thơ dở. Nếu Jacques Prévert là một nhà thơ tồi th́ trước tiên là v́ cái thế giới quan của ông ta bằng phẳng, nông cạn và giả mạo. Nó đă giả trá ở thời đại ông ta, ngày nay sự vô giá trị của nó càng thêm chói chang, đến mức toàn bộ tác phẩm của ông ta chẳng qua là sự triển khai một khuôn sáo khổng lồ. Trên b́nh diện triết lư và chính trị, Jacques Prévert trước hết là người chuộng sự tự do xả láng (libertaire); nghĩa là, về cốt yếu, một kẻ ngu si. "Những ḍng nước buốt giá của tính toán vị kỷ", chúng ta đang giẫm lội trong ấy từ thời thơ ấu non dại nhất. Với chúng, ta có thể hoặc thích hợp, hoặc sống c̣n, hay chết ch́m. Nhưng điều không thể tưởng tượng nổi, là sự giải tỏa các sức mạnh của ham muốn dục t́nh tự nó có thể mang lại một sưởi ấm. Giai thoại muốn rằng chính Robespierre (5) đă khẩn khoản xin điền thêm từ "bác ái" vào phương châm của Cộng ḥa; ngày nay chúng ta có đủ kích thước để thưởng thức trọn vẹn cái giai thoại đó. Prévert đă tự xem ḿnh như một nghĩa binh của bác ái; nhưng Robespierre cũng chưa từng là, mà c̣n khác xa, kẻ thù của đức hạnh. Chú thích 1. "Ai phi ngựa giữa đêm khuya và gió? Đó là người cha và đứa con nhỏ": Thơ J.W. Goethe, đă được Schubert phổ nhạc 2. Bobby Lapointe (hay Boby Lapointe, tên thật Robert Lapointe, 1922-1972). Nhà soạn ca khúc kiêm ca sĩ và nhà toán học. Ca khúc của Bobby Lapointe đầy những tṛ chơi chữ quỉ quái. Tập nhạc đầu tay xuất bản năm 1951, là Les douze chants d'un imbécile heureux (Mười hai bài ca của một tên ngốc hạnh phúc). Năm 1959, ông hát các bài nhạc của ông tại quán Cheval d'Or bên tả ngạn sông Seine và đă xuất hiện trong phim Tirez sur le pianiste (1960) của đạo diễn Francois Truffaut, một film noir dựa theo cuốn tuyện trinh thám Down There của nhà văn Mỹ David Goodis. Nhà sản xuất phim Pierre Braunberger khi nghe Bobby ca, ông không hiểu nổi nên ông buộc Truffaut phải cắt bỏ, hay phải cho phụ đề. Truffaut chơi tếu, tuân lệnh trên, thêm phụ đề vào. Do vậy, Bobby Lapointe đă nổi danh như "ca sĩ phụ đề". 3. Ngày nay ca khúc là một thể loại lớn hơn thơ. John Lennon, Bob Dylan, Elvis Presley, Eminem, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn. danh tiếng hơn các nhà thơ. 4. Đấu tranh giai cấp ở Pháp. 5. Robespierre (Maximilien de, 1758-1794): một nhà cách mạng khát máu của Pháp trong cuộc lật đổ chế độ quân chủ (1789), cuối cùng cũng phải lên máy chém. MICHEL HOUELLEBECQ
|
|
|