O XƯA
Nhă Ca



Năm tôi lên mười, O Xưa đă trên ba mươi. Ở con đường Nam Giao, từ đầu dốc tới cuối dốc, O Xưa đi lên đi xuống giống như một cái bóng, v́ h́nh như O không sống với người. O Xưa sống với ma, người chồng ma của O vô h́nh, ở đâu đó, trên cây, trong cỏ, đậu trên lá, trong ṿm trời. O kể lể vậy.

Có thể nh́n thấy O Xưa vào buổi sáng, vào giờ công chức đi làm, học sinh đi học và các bà nội trợ Huế ngồi xúm xít bên gánh bún ḅ ngon nổi tiếng của mụ Dục, bên gánh cơm Hến của mụ Khế, gánh bánh canh từ Nam Phổ của mụ Cau. Buổi trưa, lúc O Xưa đi từ trên con dốc xuống, đầu có đội nón th́ mấy bà nội trợ đang ngồi lê đôi mách với nhau ở cái quán tre đầu một con hẻm. Cũng có người ngó O Xưa một cái:

“Mấy người coi, con mụ Điên.”

“Quá thường, bữa mô cũng chộ, có chi là lạ nà...”

Mấy người đàn bà vô công rỗi nghề này thấy O Xưa quá thườnglà phải rồi. Lúc này họ đang có mục vui đùa mới. Ở đâu lạc tới mộtthằng cha bán cốm, gánh hai cái lu đi lên dốc là niềm vui của họ. Ăn hàng, nói dốc, kể chuyện thiên hạ cũng nhàm, vậy là quay sang người đàn ông bán cốm. Một bà cao giọng ḥ:

"Ơi anh gánh cốm hai lu

Anh cho tui gửi chim cu về cùng

Cu tôi cu ấp cu bồng

Chớ bỏ vô ...lồng mà ốm cu tui...”

Có vậy thôi họ cười nghiêng ngả, cười tới chảy nước mắt. Ông bán cốm cúi gầm mặt, lẹ bước đi. Biết, hơn thua không nổi với bọn giặc đàn bà.

“Ń, anh nớ, đem “lu” đi mô rứa anh!”

Cười nữa. O Xưa dừng lại nh́n, con mắt đờ dẫn, khuôn mặt đờ dẫn, h́nh dạng, tâm trí không c̣n ở với cơi người ta.

Buổi chiều, O Xưa lại đi lên đi xuống con dốc nhiều lần hơn, nhất là lúc chạng vạng tối. Bao ngày tháng rồi, chiếc áo tứ thân màu nâu phai lạt và sờn rách, tóc vấn khăn xô lệch và tay luôn luôn ôm một cái bọc vải, không biết bên trong có ǵ.

Nhưng nh́n có vẻ như O đang bế đứa con mới sinh. Đi một đoạn,O cúi xuống, nựng nịu, ru hời hỡi, không ra một câu quéo ǵ. Đứa con trong bọc cũng không bao giờ lớn, cứ nằm trong cái bọc vải từ năm này tới năm khác. Chỉ ḿnh O nghe nó khóc và dỗ dành. Có lần, mấy đứa con nít chọc O, xô đẩy, giằng kéo, cái bọc trên tay O rớt xuống bung ra, chỉ toàn là áo quần cũ và ghẻ rách. O hốt hoảng, khóc lóc, lượm lại từng cái, ghém lại thành cái gói như cũ.

Đi thất thểu như thế, thỉnh thoảng dừng lại dưới những gốc cây, ngước mặt lên nói chuyện. Những lúc này khuôn mặt O Xưa biến đổi một cách kỳ lạ. Khuôn mặt sáng lạn, trẻ trung, mắt mơ màng, giọng nói tiếng cười nũng nịu. O đă gặp người của thế giới vô h́nh, người yêu, chồng của O.

Người ta đồn riết rồi cũng mỏi miệng. O Xưa nói chồng O là chàng Ba. Chàng Ba đẹp trai lắm, nói chuyện rất có duyên. Tuy là ma nhưng chàng Ba ăn ở rất t́nh nghĩa. Họ đă có với nhau ba mặt con rồi. Không biết có độn bụng không mà lâu lâu thấy bụng của O Xưa ph́nh lên, rồi một thời gian, đúng tháng ngày của một người đàn bàchửa, cái bụng lại xẹp xuống. Đứa con sơ sinh nằm trong bọc vải O Xưa bế bồng trên tay, biết khóc biết cười bằng chính miệng của O Xưa.

Không ai biết gốc gác của người đàn bà này. Lúc đầu, họ là một gia đ́nh từ trong Quảng t́m ra Huế sinh sống. Gia đ́nh gồm có ba người, cha mẹ và O Xưa. Họ không được may mắn, bị gạt ra ngoài lề xă hội, nên họ phải dựng một cái cḥi nhỏ trong một vùng đất trống toàn sỏi đá và bụi cây dại, chạy xa tới chân núi. Dân gọi vùng này làđất “độn”. Đi hoài không thấy nhà cửa, chỉ có mồ mả và một cái miếu hoang. Nhiều gia đ́nh không có “nhà vệ sinh”, thường lên “độn” để làm công việc “ỉa đồng”, vừa sạch vừa mát, c̣n nh́n trời mây, cảnh đẹp. Mỗi lần, người ta đi lên “độn” đều phải qua nhà O Xưa.

Hai ông bà già và O Xưa sinh sống nhờ cái máy xay bột bằng đá. Họ nhận xay gạo, xay nếp, và họ phải làm bằng tay, bằng sức lực của họ... Vậy mà không đủ sống, bữa đói bữa no... Kế đó, ông bà già tiếp tục theo nhau về trời, cô gái mồ côi, sống một ḿnh trong căn nhà đă xiêu vẹo. Không ai biết tên thật của cô là ǵ. Thấy cô ăn mặc tồi tàn, tóc vấn khăn vẻ xưa cũ quá, bèn gọi cô là con Xưa. Cũng có người nói cô gái có trải qua mấy cuộc t́nh. Nhưng nhà nghèo, nhan sắc b́nh thường thôi, chẳng ai cưới hỏi. Mấy cậu trai thường kháo nhau: “Con Xưa nó dại lắm, nói ǵ nó cũng tin”. Căn nhà tồi tàn đă một thời là chỗ tới lui của bọn con trai hoang đàng.

Một ngày nọ, cậu trai nào tới kiếm cô cũng bị cự tuyệt, xua đuổi ra cửa:

“Từ nay tui có dôn (chồng) rồi, đừng ai chọc tui nữa”.

O Xưa nói một cách nghiêm trang.

Chuyện về O Xưa mỗi người kể một cách, tha hồ thêu dệt, vẽ rắn thêm chân. Theo họ, câu chuyện bắt đầu từ một buổi trưa sau ngày cha mẹ chết một năm, lúc đó O Xưa vừa mười chín tuổi. Cô cũng vừa bị sỉ nhục, khi hỏi một chàng trai vừa ăn nằm với cô xong:

“Khi mô anh cưới tui?”

Anh con trai trố mắt nh́n cô:

“Cưới? Điên chưa rứa? Ń, đừng mơ tưởng hăo huyền hí. Cầm tiền đi mua cơm mà ăn.”

Miệng nói, hắn nhét vào tay O Xưa mấy đồng bạc. Mở lớn mắt. Không phải ngạc nhiên, cũng không phải giận dữ hay căm hờn, O Xưa chỉ thấy buồn, thấy tủi. O Xưa đi lang thang vào trong “độn” cát rồi tới cái miếu hoang, cô vào bên trong. Không biết ai đă trải sẳn ở đó một chiếc chiếu rách. Chỉ có thể là bọn chăn trâu thường tụ tập ở đây. Sẵn có chiếu, cô nằm xuống, và cơn buồn trôi dần vào cơn buồn ngủ, cô ngủ luôn. Giấc ngủ dường như lâu lắm, v́ khi cô mở mắt, trời tối đen như mực. Trên bệ thờ ai thắp ngọn đèn leo lét, ánh sáng lung linh như lúc nào cũng chực tắt chiếu những cái bóng cứ phồng lên, rồi thoi thóp trông kinh dị như hồn ma dáng quỉ.

Cô thấy lạnh người. Đưa tay sờ thấy quần áo trên người đâu mất hết.Chưa kịp định thần, cô nghe tiếng cửa kêu cót két. Đâu có ai đến miếu hoang giữa đêm khuya khoắt này? Chỉ có thể là gió. Không phải. Một cái bóng sừng sững bên cô, rồi cái bóng cử động. Sợ đến cứng họng, không la được, cô nhắm mắt lại.

Cô rùng ḿnh, không mở mắt ra nữa. Có một bàn tay đang ve vuốt trên người cô...

“Anh là ai rứa?”

Chỉ có tiếng ph́ pḥ hay tiếng gió. Không có tiếng người.

“Anh ở mô rứa? Gần đây không?”

“Ph́ ph́...”

Tiếng thở. O Xưa thét lên một tiếng, ngất xỉu.

Không biết bao lâu, lúc O Xưa tỉnh dậy th́ ngọn đèn trên bệ thờ đă tắt. Bóng trăng rọi vào những vệt trắng sữa và bên ngoài dun dế run rẩy điệu thê lương. O Xưa ngồi bật dậy, mớ tóc dài xơa xuống đất, O Xưa đưa tay bới mớ tóc lên...Vừa lúc đó như có ai đè cô nằm xuống. Có điều lạ lùng là O Xưa không c̣n thấy sợ hăi nữa, cô đưa cả hai tay lên ôm siết khoảng không. Lúc đó, đôi mắt O khờ khạo và miệng mỉm cười một bó tṛn hạnh phúc. Hơi thở táp vào mặt cô những nụ hôn, cái bóng cô ôm trong tay không có thật. Và O Xưa nghe một thứ tiếng ḱ dị chỉ có ḿnh O hiểu. Tiếng nói xa xăm, từ một thế giới nào. Và O Xưa nghe, O Xưa nói:

“Anh ở mô mà tới kiếm em rứa?”

...

“Ở cơi nớ? Cơi mô? Hỏi nhà anh a tề?”

O Xưa vểnh tai:

“Hí? Nhà anh cơi cây...? Ba trợn chưa tề. Cơi mô? Cây? Cây mô rứa? Há, răng cây mô cũng nhà anh hết rứa. Răng anh có nhiều nhà rứa?”

O cười, tiếng cười gịn, vui vang ra bên ngoài, vút lên cao, quất vỡ mấy v́ sao.

“Thiệt hí? Anh thiệt thương tui?"

Gió cố đẩy cánh cửa, cột rui trên mái miếu kêu răng rắc.

“Anh đừng làm tui nhột. Nhột quá... Hi hi, anh đừng nói chơi. Anh thương tui khi mô?”

Đến lúc này, mấy con tắc kè trên mái mới thức giấc, chép lưỡi, kêu” tặc tặc tặc...kè”.

“Phải biết chớ răng không biết. Thôi đi. Cưới tui? Cưới, vợ...Nói chơi nữa tề...”

...

O nhíu mày, bộ tịch hờn dỗi...

“Anh đừng giỡn với tui. Chắc? Ờ th́ tin...Tui? Răng không chắc. Chắc chơ. Hứa mà. Bữa ni trở lên tui thề, không cho đứa mô ngủ với tui nữa...Thề rồi, răng không tin?”

“Ph́ ph́...”

O Xưa nghe tiếng thở. O co người lại. Cả người O bị siết chặt, siết chặt đến nghẹt thở và cả người O đê mê, gờn gợn bởi sự vuốt ve. O kêu lên:

“Anh thương tui đi... Thương như rứa đó. Rứa đó...”

O Xưa, như một người khác rồi. O quằn quại, lăn tṛn trên chiếc chiếu, run lên và khóc cười. Chuyện ǵ trước kia, O không hề nhớ ra nữa. H́nh như không phải một con tắc kè mà hai ba con, cả chục con, tặc lưỡi ghê quá.

“Lạnh. Tui lạnh lắm. Anh ôm chặt tui đi. Ôm chặt nữa. Đó, như rứa đó. Hi Hi, anh thiệt ba xàm ba láp...Cỡ mấy ngày ḿnh gặp nhau?Đừng. Đừng đi. Anh đi mô chừ...”

Bàn tay O Xưa đưa ra níu kéo trong khoảng không, như nắm vạt áo ai kéo lại.

“Hượm một chút, chưa rợn sáng mô anh... Hơ, anh đi thiệt rồi tề... ”

Cánh cửa bị gió rung một hồi đập lập cập rồi bật ra, y hệt như có tay ai đẩy ra đóng vào. Tiếng dế ran nhẹ dần. Gà gáy và trời rợn sáng. Mồ mả và cây cối bên ngoài lăng đăng trong sương. Trên bệ thờ có tiếng đồ vật bị đụng chạm. O Xưa ngoái cổ nh́n lên:

“Anh chưa đi hỉ? Răng anh noái láo với em?”

Một con chuột tḥ cái mơm với đôi mắt ti hí nh́n O Xưa. Nó loay quay thụt lui thụt tới, rồi leo thoăn thoắt lên mép bệ thờ, chui xuống gầm mất dạng. Không biết v́ gió hay v́ con chuột chạy đụng mà xô ngă chiếc độc b́nh gây một tiếng động lớn làm O Xưa giật nẩy cả người. O vớ vội mớ quần áo mặc vào người, lùi vào một mép chiếu sátgóc miếu. Đằng sau bệ thờ, vi vu trong tai O tiếng lao xao như người ta nói chuyện... O Xưa đứng bật dậy, vụt chạy ra ngoài.

Lúc cô ra khỏi cái miếu con th́ trời đă sáng tỏ. O Xưa cảm thấy bụng cứng nhắc, bèn vén ống quần, ngồi xuống bên một bụi dứa dại. Không hiểu nghĩ ǵ mà O Xưa ngửa mặt lên trời, cười. Lúc đầu, chỉ vài cái cười mỉm, ánh mắt khờ dại, rồi cười rũ y hệt như con đười ươi.

Từ hôm đó, thỉnh thoảng O Xưa lại cười rú lên, rũ rượi ra như vậy, dù không có một lư do ǵ hết. O Xưa không cười với người, v́ hễ người nào nh́n O, cười hay hỏi, th́ mặt O nghiêm lại, hay ánh mắt như không hề trông thấy.

Không c̣n một người đàn ông nào t́m tới nhà O Xưa nữa. Căn nhà lạnh tanh, hoang vắng. Chiếc cối đá xay bột không chùi rửa, quáng lớp bụi dày. O Xưa nói là O đă có chồng. Thời gian đầu, O Xưa thường đến ngủ với chồng ở miếu hoang vào ban đêm. Về sau, O tới cả ban ngày để tṛ chuyện cho đỡ nhớ nhung. Nhưng bọn chăn trâu tới chiếm chỗ, nên ban ngày O Xưa không có dịp gần gũi với người t́nh. O buồn hiu giam ḿnh trong căn nhà càng ngày càng rách nát, đợi đến đêm đi tớimiếu hoang... Ở đó, thường thường O cũng ăn các thức ăn những người đi thăm mộ, đem vô cúng ở miếu... Khu đất sau căn nhà cḥi cha mẹ cô để lại là một vườn trồng sắn. O Xưa đă đào xới ăn dần hết, khi nấu chín, khi ăn sống...Thời gian ngắn sau, O cũng được gặp chồng ở các nơi chốn khác, vào ban ngày, ngoài căn miếu hoang. O thường đi tới dưới các gốc cây, ngẩng mặt lên nh́n, cười, nói, tâm t́nh. Bỗng nhiên, cái bụng của O Xưa lớn dần lên. Bọn thanh niên lang chạ trước đây đă ăn nằm với O đều lo lắng, không biết ḿnh có phần với đứa bé trong bụng O Xưa không! Có người hỏi th́ O Xưa cười bẽn lẽn:

“Tui có chồng. Tui có mang với chồng tui chơ ai, hỏi chi mà lạ đời rứa!”

Hỏi chồng O Xưa là ai, ở đâu? O chỉ lên cây cối, nụ cười hoang dại, xa xăm:

“Đó, chồng tui là Ông Hoàng Ba lận nghe. Chồng tui ở cơi cây. Chồng tui đi trên lá, cưỡi trên gió, c̣n tui th́ đi dưới đất.”

Ông Hoàng Ba. Giới đi đền, lên đồng nghe mà chới với. Ông Hoàng Bà Chúa là của điện Ḥn Chén, mấy bà ngồi đồng đă tốn bao nhiêutiền bạc, lễ vật. Được ngồi đồng, được Ông Hoàng Ba nhập họ phải ănchay một tuần lễ, tắm gội sạch sẽ. Ở điện Ḥn Chén, các bà phải ngồilúp khăn hàng giờ. Khi Ông Hoàng Bà Chúa nhập, lúc đầu họ chỉ lắc lư cái đầu thôi. Tới lúc đó là chầu văn lên giọng, trống phách phụ họa lâm ly, ầm ĩ, đầu người ngồi đồng đảo nhanh, đầu lắc, cả người lắc.Ông Hoàng Ba, đẹp trai, giọng nói thanh như ngọc, hay cợt nhả, nũng nịu. Khi “ông lên” ông hay tặng quà cho các bà, khi th́ trái chín, khi th́ bông hoa. Hoàng Ba c̣n hay “lẫy” nữa, có khi mới nhập, chê “con nữ” không tâm thành, hay quần áo bữa nay xấu xí, ông Hoàng không thích, vậy là ông “thăng”.

Khác với Ông Hoàng Ba, cái giọng nói, điệu bộ làm cho mấy bà chết mê chết mệt, là ông Chín Thượng Ngàn khi “nhập đồng” la hét,vật vă, c̣n xiên ĺnh coi khủng khiếp lắm. Ông Chín cầm thanh sắt nung đỏ, đâm ngọt xớt từ mép miệng bên này qua bên kia, rồi rút thanh sắt ra, nhổ một băi nước miếng trên tay, thoa vào hai lỗ hổng rỉ máu. Da khép lại, lành lặn như b́nh thường. Khi ông nói tiếng Mường,tiếng Mọi ngọng nghịu khó nghe. Được cái tấm ḷng ông tốt, hay đốt tàn nhang, giấy bạc làm thuốc cứu độ chúng sanh. Những buổi ngồi đồng lớn trong các đền, hay xa xôi như ở điện Ḥn Chén, bọn con nít ranh cũng đi coi cho được. Chúng hát chọc ghẹo:

“Ông lên ông nhảy lon xon

Bà lên bà nhảy văng om nước chè

Ông và cô Chín Thượng Ngàn lúc đó bận biểu diễn đi mây về gió,Đối với giới “đồng cô bóng cậu” chỉ có mấy ông Hoàng Ba, Hoàng Bảy, cậu Chín Mường mới là mẫu người “lư tưởng” làm mấy bà mê mệt. Cho nên, khi thấy một con đàn bà nghèo khổ, điên khùng làm mất danh ông Hoàng Ba, mấy bà “lên đồng” căm lắm. Coi như một sự xúc phạm nặng nề không thể tha thứ được.

Lúc đầu họ dùng bạo lực ngăn cấm, đe dọa. Họ sừng sộ chửi rủa,xua đuổi O Xưa. O Xưa chẳng chút phản kháng nào. Đánh O té xuống, O nằm xẹp luôn. Kéo O đứng dậy, mắt O vẫn trong cơi xưa nào. Riết đụng vào O Xưa cũng thấy nhợn tay, họ đành coi O Xưa như kẻ cùi hủi, khùng dại.

“Con mụ điên nói ba xàm ba láp, ai tin.”

O Xưa không cần biết có ai tin hay không. O cũng không c̣n thiết đến việc ăn uống. Ngày mưa, ngày nắng, vẫn là ngày hẹn ḥ của O Xưa. Người “chồng ma” của O đâu ở trong mấy đền, nên O cũng không bén mảng tới đó để chịu đánh đập mắng chửi. O cứ nh́n lên cây, cười vui, nói chuyện, tâm t́nh.

Lúc đầu O đi đến đâu là bọn con nít theo chân, đông nghịt. Chúng chọc ghẹo, phá phách, nói ba xàm ba láp, tục tĩu , nhưng sau đó, chúng cảm thấy trong dáng đi, nét mặt, nụ cười, cách nói năng của O Xưa có một vẻ huyền bí, ma quái làm chúng sợ. Chúng chỉ lẳng lặng theo xa xa, bàn tán với nhau, đôi khi đứa này binh, đứa kia phá, mà căi vă nhau om ṣm. Có đứa làm gan, lân la tới bên O Xưa, lắng nghe O đi “trai gái” với ma. Trên cây đâu có ai mà O Xưa cười nói, giận lẫy, bẽn lẽn coi “dị dạng” quá.

Mấy bà lớn tuổi trề môi:

"Ma quỉ chi, ngủ lang chạ cả mấy chục thằng, chỉ ph́nh một cái bụng. C̣n giả điên giả khùng nữa... Thứ đó, hồi xưa là trói thả xuống sông cho cá sấu ăn, hồi c̣n vua th́ cho “voi dày ngựa xé” chơ mô dễ dàng như thời nay...”

Bọn chăn trâu th́ quả quyết O Xưa không giả khùng điên ǵ hết.Điên thiệt. Chúng nó đă ŕnh coi nhiều lần. Đêm, O Xưa rời căn cḥi rách nát, đi lên độn, tới căn miếu hoang. O bỏ đồ, nằm co quắp trong một góc chờ đợi... người yêu. Miệng lảm nhảm những lời nhớ nhung t́nh tự. Lúc bên ngoài nghĩa địa những đốm lửa ma trơi chập chờn trên mồ hoang, dun dế tấu lên điệu nhạc như quỷ khóc yêu hờn, là lúc mắt O Xưa khờ đi và môi cười hoang dại, giọng nói cớt nhả như con nít.

“Anh, em lạnh quá, em chờ lâu bất chết...”

Rồi cũng chỉ ḿnh O lăn lộn, phành bụng, kêu rên, sung sướng, khoái lạc:

“Chao ui, nhẹ thôi chàng Ba của em. Khéo chàng Ba đụng con của tụi ḿnh chừ...”

Không biết ai đêm nào cũng thắp ngọn đèn dầu lạc trên bệ thờ để rọi những chiếc bóng đầy h́nh thù kỳ dị, chờn vờn như sấn tới, cho người đàn bà một cảm giác ôm ấp bằng hơi hướm của một kẻ khuất mặt, hằng đêm yêu thương và ân ái với O.

Không bao lâu, O Xưa mặt mày chàu vau, xanh rớt, vô hồn chỉ c̣n như một cái xác biết đi. Ai cho bất cứ ǵ cũng ăn. Không ai cho ǵ th́ ăn lá cây, đôi khi ăn cả nắm đất. Chân bước nhẹ nhàng như hổng trên mặt đất rồi, O Xưa cứ chậm răi đi trên lề đường, mắt ngước lên nh́n tàng cây, giọng tha thiết:

“Chàng Ba của em ơi, chàng mau tới với em! Không gặp chàng em nhớ lắm chàng ơi, tội cho em...”

Đó là những hôm O Xưa đi dưới những gốc cây, ngước mắt t́m hoài mà không gặp được chàng Ba. O Xưa khóc lóc, van nài, oán trách, đập đầu, vật vă với những gốc cây vô tri giác.

O Xưa đẻ đứa con so ở trong căn miếu hoang trên độn vào một buổi trưa. Thường ngày, bọn chăn trâu hay vô miếu núp nắng và ăn cơm trưa.

Bữa đó, mấy đứa tới th́ đă thấy O Xưa ngồi trước chắn ngang. O Xưa không giống O Xưa hàng ngày nữa, mắt đỏ ḷm long lên ṣng sọc, tóc tai rũ rượi. Hai tay O cầm hai ḥn đá sẵn sàng liệng tới phía trước. Bên cạnh chỗ O ngồi là một đống đá lớn nhỏ sắp sẵn.

“Ê mụ điên, mần chi chắn cửa lại rứa. Cho người ta vô. Chỗ ni không phải của mụ mô.”

O Xưa đưa hai tay cầm đá lên, sẵn sàng.

“Ê, mụ điên. Không được đôi. Chỗ ni của tụi tui lâu rồi. Đi ra, giành chỗ không được mô nghe.”

Một ḥn đá ném tới. Bọn trẻ chăn trâu lùi xuống.

“Làm thiệt há. Đôi thiệt há. Ê, tụi bây xông vô...”

Một thằng la lên. Nhưng không đứa nào xông tới. O Xưa đứng bật đậy. O không nói tiếng người nữa, ú ớ rồi rú lên như quỷ nhập tràng.

“Coi mụ dễ sợ quá tụi bây nờ ... Coi tề, coi chừng mụ đôi đá trúng...”

Bọn con nít dang xa dần, nhưng vẫn trố mắt ngó. Mấy cục đá rơixuống lưng chừng v́ sức O Xưa không ném xa. Đống đá chất xung quanh O Xưa khó ném hết được.

Bọn trẻ chăn trâu đâu có lạ lùng ǵ mụ điên này. B́nh thường, chỉ nạt một tiếng là mụ riu ríu đi ra. Bữa nay, mắc chứng ǵ mụ lên cơn dữ dằn quá...

Coi măi cái tṛ này chẳng có ǵ hấp dẫn. Một lát, bọn trẻ chăn trâu bỏ đi, ra ngoài độn, t́m mấy bóng mát ngồi mở mo cau ăn cơm vắt. Nhưng có mấy đứa ṭ ṃ nán lại ŕnh coi cho được chuyện ǵ. Về sau kể lại:

... O Xưa sau khi hung hăng đuổi được bọn trẻ chăn trâu, ngồi thở dốc một hồi. Mặt O bắt đầu nhăn nhó khó coi, trán rịn đầy mồ hôi. O khó nhọc lết vào bên trong miếu, cạnh bệ thờ, ôm bụng quằn quại, miệng kêu rên: "Chàng Ba ơi, em tới giờ sanh, đau bụng quá. Chàng Ba ơi, chàng ở mô rồi...”. O Xưa khóc rưng rức như một đứa trẻ. O quằn quại lăn ṿng dưới nền đất, kêu ca, rên rỉ y hệt một người đàn bà trong giờ sanh con. Hơn một tiếng đồng hồ khốn khổ như vậy, O rú lên một tiếng như như con heo bị thọc huyết, rồi vật ra, bất tỉnh.

Mấy đứa chăn trâu tưởng O Xưa chết rồi, sợ quá, có đứa ba chân bốn cẳng đâm đầu chạy. Chỉ c̣n hai thằng gan ĺ nhất, núp phía sau miếu chờ coi.

Lâu lắm, O Xưa tỉnh dậy, ngơ ngác trong căn miếu hoang. O Xưa có vẻ không c̣n đau đớn ǵ nữa. Một ánh nắng chiều nhảy qua nhảy lại như bước chân ai. Một làn gió, một làn hơi. O Xưa hít hít, nhận ra, nụ cười khờ khạo nở trên môi:

“Răng chừ chàng mới tới?”

Nét đau đớn, khốn khổ đă biến hết trên khuôn mặt. Cởi chiếc áo ngoài ra, bọc thành một bọc, O Xưa nói, giọng nhớt nhă trẻ con:

“Đây, con chàng. Nó là con trai... ”

O Xưa hát ḥ ru con, âu yếm đung đưa bọc vải:

“Ngoan ngoan, đừng khóc. Cha mi, la dữ rứa? Cha con ń... Chàng ơi, nh́n con coi nó giống chàng như đúc ń...”

Bọn trẻ chăn trâu, lũ con nít quỷ c̣n thêm thắt kể về ca sinh đẻ đứa con ma của O Xưa bằng sự tưởng tượng thêm thắt của chúng cho có vẻ ly kỳ hơn. Bọn đàn bà lúc đầu ngạc nhiên, ṭ ṃ, cũng có chút ganh tị nữa. Câu chuyện, mỗi người thêm thắt một câu, bớt đi một chữ, càng trở nên huyền bí. Người ta càng ghét O Xưa lại càng sợ O Xưa. Chuyện rồi cũng nhạt dần đi, thường đi, và sự sợ hăi cũng phai dần, người ta đem chuyện O Xưa ra riễu cợt.

O Xưa mặc kệ. Nét mặt của O càng khờ khạo hơn, mắt nh́n, môi cười, càng đi lạc vào cơi xa xăm, vô h́nh. T́nh yêu với chàng Ba càng thê thiết.... O Xưa có thêm đứa con thứ hai, rồi đứa thứ ba, thứ tư. Cứ kể như năm một, đẻ xong là lại có mang liên tục... Bồng một đứa con bọc trong bọc vải, dắt theo một bầy con ma không h́nh bóng, lúc O ru đứa nhỏ, lúc chửi mắng la rầy mấy đứa lớn. Trời nắng, trên trán mồ hôi chảy ṛng ṛng, O Xưa quệt mồ hôi, than thở với chồng trên cây:

”Anh không coi mấy đứa nhỏ với em, chúng nó hư, phá như ma. Em mệt quá, mệt lắm. Anh phải dạy con... ”

O Xưa thở dốc. Trông O già đi nhiều, đẻ nhiều con, gầy như que củi khô, xanh xao, vơ vàng. Nhưng không biết sức lực ở đâu mà O Xưa tay bế tay bồng, dẫn đàn con đi lên đi xuống con dốc Nam Giao, hẹn ḥ, nói chuyện với “chàng Ba” không biết mệt.

Nhiều năm cũng đă qua với tôi, với nhiều người Huế sống trên con dốc Nam Giao.

Bỏ Huế. Tứ tán. Mất nước. Lưu lạc xứ người. Người Huế, nhớ Huế. Nhớ nhau. Và những người cùng một thời ở Nam Giao, chắc cũng có lúc nhớ O Xưa!

Với tôi, O Xưa là một h́nh ảnh khó quên trong tuổi mới lớn. O Xưa c̣nnhắc nhở tôi một giai đoạn lịch sử kinh hoàng. Đó là những năm trước, thời kháng chiến mùa Thu của Việt Minh. Nhiều buổi sáng, mấy đứa trong xóm rủ nhau đi học, ra khỏi con hẻm đầu dốc, chúng tôi gặp nhiều xác chết. Có xác bị mất tứ chi, có xác bị cắt đầu, hoặc cái đầu máu me đặt trong chiếc nón rách ghim một bản án của Việt Minh. Không theo Việt Minh là Việt gian, giết đến bao giờ cho hết. Như người bạn nhỏ của tôi, một buổi sáng dậy, xách cặp đi học, thấy cha bị giết, xác và bản án đặt trước ngơ nhà...

Đàn bà rú lên, gào khóc. Con nít không dám ra đường sáng sớm, những lúc xác người, đầu lâu chưa được dọn đi. Nhưng O Xưa ra đường sớm lắm. Vẫn bế bọc vải trên tay, O đi đến bên xác chết. Có người chết nào, hay đầu lâu nào chưa chịu nhắm mắt, O Xưa vuốt mắt cho họ và thủ thỉ:

“Đừng buồn. Đừng sợ. Để tui nhờ chàng Ba chỉ đường tránh cửa ngục.."

Rồi O Xưa ngước mặt lên, kêu chàng Ba, xin nhờ chàng Ba giúp đỡ. Bà con xanh mặt, nửa tin nửa ngờ, nhưng trước cảnh kinh hoàng, ai cũng cúi đầu trân trọng im lặng...

Câu chuyện đă vùi sâu trong kư ức. Mới đây, khi gặp một số bạn cũ trước cùng ở Nam Giao, cùng ngồi nhắc lại chuyện cũ. Tôi hỏi các anh c̣n nhớ Huế, nhớ xóm Nam Giao, nhớ O Xưa không?

“Mụ Xưa há. Nhớ chơ răng không nhớ!”.

Tôi bỏ Huế rất sớm, không biết O Xưa sau này ra sao? Sống? Chết?

“Nghe nói sau 75, có người c̣n gặp mụ Xưa...”

“Ở mô?”

“Nghe nói vẫn ôm cái bọc đi lên đi xuống dốc Nam Giao. Bộ dạng gia đ́nh đề huề lắm. Mụ đă có cháu nội cháu ngoại...”

Tôi ngẩn người. O Xưa. Huế đă qua biến cố Mậu Thân, thành phố đầy xác chết, đầy khăn tang. Qua cuộc đổi đời 75 máu nhuộm biển đông, O Xưa vẫn c̣n và không biết O đă có thêm bao nhiêu con, bao nhiêu cháu với ma nữa!

Nhưng vẫn chỉ là nghe nói. Có ai nh́n thấy không? Tôi im lặng, ngẫm nghĩ một ḿnh. Câu chuyện đă cũ, cũng như O Xưa, xưa rồi. Thời buổi này, kể ra không ai c̣n có thể tin. Nhưng tôi biết, những người đă sống thời đó, th́ câu chuyện O Xưa, tin hay không tin, h́nh ảnh O Xưa, chắc chắn vẫn c̣n váng vất trong trí nhớ.

Tôi viết truyện này để tặng bạn bè cũ, đă có cùng một thời thơ dại ở xóm Chùa, cùng trên “con đường Nam Giao thẳng mà không bằng”, như lời nhà thơ Xuân Diệu đă viết.

NHĂ CA (1999)



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home