NHỮNG NGÀY GIỜ CUỐI
Nhă Ca



Những Ngày Giờ Cuối

Đây là những ngày giờ cuối c̣n được thấy quê hương. “Nh́n đi. Nh́n nắng. Nh́n hàng cây. Nh́n thành phố. Sẽ không biết bao giờ mới được nh́n thấy lại.” Tôi đă không ngừng tự nhủ ḿnh vậy, từ khi côbạn Elizabeth Stamp, bí thư thứ nhất của sứ quán Thụy Điển, t́m tới. Vào cửa hàng một ḿnh, đang như một phu nhân khó tánh, ngắm lui ngắm tới mấy tấm vải thêu tay. Elizabeth th́nh ĺnh bước thẳng vào pḥng trong.

“Gia đ́nh Lê Hạ Vĩnh?”

Gật đầu. Tấm danh thiếp được úp xấp xuống mặt bàn. Đúng thể thức Catherine đă ấn định từ mấy năm trước để nhận ra người thật sự đáng tin cậy.

Ôm mừng nhau. Elizabeth tự giới thiệu cô vừa sang Việt Nam nhận bàn giao chức vụ rồi vào ngay công việc:

“Tôi mang đến tin vui. Ṭa Đại Sứ đă được phía Việt Nam thôngbáo chấp nhận cho Ông Bà ra đi. Xin sửa sọan ngay. Có thể mọi thủ tục sẽ hoàn tất rất sớm.”

Đúng như tin Elizabeth mang tới, chỉ vài bữa sau, có thêm tin HộiĐồng Bộ Trưởng Hà Nội chính chức quyết định cấp xuất cảnh. Thủ tục tiến hành nhẹ nhàng. Viên chức đại diện Sở Ngọai Vụ phía Nam tiếp kiến, có cả màn pha trà, mời thuốc hút.

“Mừng anh chị và các cháu sắp ra đi.”

Ông ta nói bằng giọng thân mật.

“Nghe nói mọi người khi được cấp xuất cảnh đều phải tới đây khai báo, kư đủ thứ cam kết. Xin anh vào việc dùm.” Từ nói.

“Ồ, không đâu. Với anh chị, đâu cần thủ tục vớ vẩn ấy. Chúng tôi được lệnh lănh đạo cho mời anh chị tới đây chỉ để chúc mừng. Mong anh chị quên những chuyện đă qua, bắt đầu cuộc sống mới tốt đẹp.”

“Quên chuyện đă qua là thế nào? Xin anh nói rơ hơn. Tôi chưa hiểu hết ư.” Tôi hỏi.

“Không có ǵ để anh chị phải bận tâm.” Ông ta trả lời bằng giọngkhoan ḥa hơn. “Nhà nước ta và nhà nước Thụy Điển vốn có t́nh hữu nghị tốt đẹp. Anh chị sẽ ra đi bằng một loại thông hành đặc biệt có thể gia hạn nhiều năm, bất cứ lúc nào muốn về thăm quê hương rồi đi lạicũng đều được. Ṭa Đại Sứ ta ở Thụy Điển đă được lệnh sẵn sàng giúp đỡ khi anh chị cần tới.”

“Xin anh cám ơn quí vị lănh đạo dùm. Sau khi rời khỏi đất nước, chúng tôi sẽ không có nhu cầu làm rộn quí vị thêm nữa.”

Vẫn cười tươi, rót trà, mời đốt thuốc. Ông ta đáp lại câu nói của Từ bằng một vẻ thông cảm, hiểu biết:

“Trong những năm qua, anh chị đă chịu nhiều khổ cực. Nhất là chị và các cháu, nhiều lúc đă bị đối xử bất công, không xứng đáng. Trong thời kỳ quá độ, mọi lănh vực đều có những sai lầm đáng tiếc. Chúng tôi mong anh chị nh́n về tương lai và bỏ qua điều này.”

Kết thúc buổi gặp, ông ta đích thân tiễn khách ra tận cổng ở đường Vơ Tánh, c̣n dặn ḍ thêm:

“Từ nay cho tới ngày anh chị ra đi, có bất kỳ rắc rối nào, xin cứ trực tiếp cho tôi biết.”

Không có sự rắc rối nào. Trái lại là khác.

Ngày giờ chuyến bay đăng kư là đầu tháng Mười. B́nh thường, đôi khi c̣n hoăn đi. Vậy mà đăng kư xong mấy bữa, th́nh ĺnh có lệnh báo tận nhà: chuyến bay được sắp lại sớm hơn, ngay trong tuần, ngày 7.9.1988.

“Tưởng c̣n được ba tuần lễ sửa sọan. Nào dè chỉ c̣n có dăm bữa.”

Một anh bạn thân nghe tôi than, ph́ cười:

“Ngược đời. Người ta đi th́ than là bị hoăn lên hoăn xuống, ông bà th́ lại than là bị tống đi sớm.”

Nh́n đi. Nh́n nắng. Nh́n hàng cây. Nh́n thành phố. Đây là những ngày giờ cuối cùng… Tôi đang đứng trên hè phố, ngay trước nhà, tự nhủ vậy.

Th́nh ĺnh thấy ḿnh bị ôm cứng, trong tay Nguyễn Thị Ḥang.

“Trời ơi, Nhă Ca. Nhă Ca c̣n đây à? Rứa mà người ta bảo bà với ông Từ đi rồi. Họ c̣n bảo cả thành phố đang đồn ầm lên về việc hai ông bà được Mỹ bốc đi.”

Chị Nguyễn Thị Hoàng, tác giả Ṿng Tay Học Tṛ, là nhà văn nổi tiếng như cồn từ những năm sáu mươi. Chúng tôi biết nhau nhưng không có dịp thân t́nh, cũng lâu rồi không gặp. Khuôn mặt kiều diễm của Hoàng lúc này đang đầm đ́a nước mắt. Cũng dễ hiểu thôi. Cùng chịu mười ba năm cắn răng, mỗi người cùng quẫn riêng một kiểu, thấy lại nhau, khó cầm nước mắt.

Khi chia tay, ra tới đường. Hoàng c̣n nói thêm:

“Nhă phải tới ḿnh một lần trứơc khi đi. Nhà nghèo, nhưng d́ Nhă sẽ là thượng khách của các cháu. Tôi c̣n giữ một tấm h́nh cũ chụp với ôngTừ, ông Nguyên Sa, ông Vơ Phiến ở Hội Nghị Văn Bút Đài Bắc. Tôi sẽ mang lại cho ông Từ. Bà phải hứa hai ông bà dành riêng cho tôi một buổi. Ḿnh phải nâng ly với nhau. Hứa đi.”

Th́ hứa.

Tôi đă tới và sẽ c̣n nhớ măi. Xóm nghèo ngọai ô. Lối đi quanh quất dẫn vào băi đất hoang trống trải. Căn nhà nhỏ xơ xác, dù bên đống rác tạm bợ một thời, vẫn ngăn nắp đẹp đẽ theo một kiểu cách riêng. Vách tường hoen ố, được điểm trang khéo léo bằng tranh lụa do các cháu gái tự sáng tác lấy. Các cháu của Ḥang, tất cả, đều tài hoa, xinh đẹp như mẹ. . . .

“Nếu một ngày nào, bạn thấy lại bầu trời
Nghĩa là bạn tự do.
Đừng quên chúng tôi,
Những con chim găy cánh…”

Chẳng nhớ đọc ở đâu, từ bao giờ, nhưng mấy câu thơ trên đây, h́nh như của một nhà thơ Ba Tư, bỗng th́nh ĺnh hiện ra trong đầu tôi.

Đó là khi anh Doăn Quốc Sỹ, anh Hoàng Hải Thủy, nh́n tôi tươi cười. Nụ cười hiện ra phía sau tấm lưới sắt trong khu thăm nuôi khám Chí Ḥa, khi các anh nghe thấy tôi báo tin:

“ Nhă thay Từ vào chào các anh. bọn Nhă sắp đi.”

“Từ ra sao?” anh Sỹ hỏi.

“Như ngày nào.” Tôi nói. “ Hai đứa chia nhau. Nhă vô đây. Từ mới xách gói đi mấy trại xa thăm Thảo Trường, Tú Kếu.”

“Bắt tay một cái, Nhă.” Anh Hoàng Hải Thủy kêu.

Chẳng thể xuyên thủng tấm lưới sắt, bàn tay hai anh em áp lên nhau từ hai phía. Hơi sắt lạnh ngắt.

Trong khu khám Chí Ḥa mênh mông, nhà thăm gặp nằm trơ vơ trên một băi đất trống. Căn nhà như một chuồng nhốt thú, có lưới sắt bao quanh. Tù nhân bị lùa vào phía trong, thân nhân đứng ngoài. Mới đêm nào. Nhớ chuyến xe tù vào Chí Ḥa cùng bạn hữu. Mười hai năm. Bây giờ, tôi đứng ngoài lưới sắt. Có thể chúng tôi sắp thấy lạibầu trời, nghĩa là sắp tự do. Đoạn thơ chả hiểu từ đâu hiện ra trong đầu vào lúc đó: Phía sau lưới sắt, khuôn mặt anh Thủy, anh Sỹ xạm xanh một màu ch́. Bên cạnh tôi, phía ngoài, mái tóc của chị Hoàng Hải Thủy bạc phơ, đôi mắt chị Doăn Quốc Sỹ đang sắp sửa trào lệ.

“Thăm Từ. Thăm các bạn. Chỉ là tạm biệt thôi. Không sao đâu. Nhớ chúng tôi nhé, Nhă.”

Anh Sỹ nói. Tất cả im lặng giây lâu. Th́nh ĺnh:

“Không. Đừng nhớ chúng tôi. Nhă nh́n chị ḱa.”

Anh Hoàng Hải Thủy nói thêm.

Tôi không nh́n. Việc ǵ phải nh́n.Tôi biết tất cả đang dàn dụa nước mắt. Tôi đang đứng bên cạnh các chị. Anh Thủy nói thêm:

“Nhắn các bạn đừng lo cho chúng tôi. Nhưng Nhă hăy nhớ chị.”

Tôi nhớ. Tôi sẽ nhớ măi.

Nhịn ăn, nuôi chồng. Các chị đều gầy ṃn, ốm yếu.Giỏ thăm tù nhẹ hều.Vậy mà chị Sỹ, chị Thủy, chả hiểu sức ở đâu ra, vẫn đang mạnh mẽ dán người vào lưới sắt, như sắp sửa phá bung được tấm lưới để nhào vào ṿng tay thân yêu.

Đừng quên chúng tôi, những con chim găy cánh.

Tôi nhớ, tôi sẽ nhớ măi.

Trước tôi, biết bao người vẫn nhớ. Không chỉ nhớ như một t́nh cảm mà như một đạo lư. Từng là con chim găy cánh được nhớ tới, chúng tôi đă hưởng bao ân nghĩa.

Cô Chín Cao Ngọc Phượng, anh bạn Trần Tam Tiệp, nhiều người khác nữa, bao năm, vẫn bền bỉ liên lạc với bạn hữu bên nhà.

Bè bạn thế giới: Kathleen Von Simson, Thomas Von Vegesack, Marianne Eyre, Anita Klum… Suốt mười năm, đă phối hợp các vậnđộng Văn Bút và Ân Xá Quốc Tế, hướng về những bạn Văn tù đầy ở Việt Nam. Những nổ lực cao quư này sẽ c̣n được tiếp tục.

Đừng quên chúng tôi, những con chim gẫy cánh

Doăn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thủy, Thảo Trường, Tú Kếu, Tuệ Sỹ…

Tôi đă từng găy cánh. Làm sao có thể quên?

Tôi sẽ nhớ. Nhớ măi.

Cho tới ngày tất cả chúng ta đều thấy lại bầu trời. ….

Mặt bàn và cả một ngôi nhà đều nám bụi. Không sao. Thân thong thả lôi trong túi đồ nghề thầy thuốc ra từng món. Sau ống nghe, dụng cụ đo huyết áp, là một chai Cognac.

“Để lau bụi đi đă. Các cô, các chú…”

Đừng lau, chị. Cứ để nguyên vậy. Chị kệ bọn em. Để bác sĩ Thân coi mạch anh lại cho chắc ăn cái đă rồi chị em ḿnh nhậu.”

Anh Lê cười cười, nói với cụ bà Nguyễn.

Vợ chồng Giao Thủy mang tới nồi cà ri. Cặp bạn Thân- Hằng góp thêm món phá lấu. Tôi lo bánh ḿ, trái cây. Tất cả đă được dọn trên bàn, kể cả chai Cognac của Thân, thứ rượu hiếm có ở Saigon 1988.

Khỏi cần phủi bụi. Anh Lê nói đúng. Chúng tôi họp mặt nhau ở đây, chính là với ḷng trân trọng dành cho từng hạt bụi trong ngôi nhà hiu quạnh này. Chủ nhân ngôi nhà là họa sĩ lăo thành Nguyễn Gia Trí. Từ thời tiền chiến, Nguyễn Gia Trí là người tạo ra các nhân vật LưToét, Xă Xệ nổi tiếng trên báo Ngày Nay, Phong Hóa. Ông là người đầu tiên đă đưa kỹ thuật tranh sơn mài, vốn chỉ là một ngành thủ công nghệ, lên hàng tranh nghệ thuật có tầm vóc quốc tế, và trở thành bậc thầy của loại tranh này, không chỉ riêng với Việt Nam mà là cả thế giới. Nhiều mầu sắc sơn mài, do ông khám phá ra, trong tự điển mỹ thuật phương đông, được ghi là Mầu Nguyễn Gia Trí. Tranh của ông, từ lâu, đă trở thành bảo vật.

Chỉ ít lâu sau 1975, chính nhà nước Cộng Sản cũng hiểu ra điều này. Một sắc lệnh đặc biệt đă được họ ban hành, coi tranh Nguyễn Gia Trí là tài sản Quốc gia, cấm mang ra nước ngoài.

Nhớ có lần vui chuyện, nhắc tới cái sắc luật đặc biệt này, anh bạnhọa sĩ Hiếu Đệ, nguyên giám đốc trường cao đẳng Mỹ thuật trước năm 1975, thấy tôi tỏ ư không quan tâm đă trợn mắt bảo:

“Bà coi chừng. Mất mạng như chơi à. Tụi này, chút xíu nữa mục xương v́ nó.”

“Xạo vừa, cha. Cái ǵ mà mục xương?”

“Thiệt mà, bà. Chuyện vầy nè: Dạo mới đi tù về, đang đói, tự nhiên có bọn đến đặt vẽ một cái chân dung Bác Hồ bự tổ chảng. Nhân dịp lễ quốc khánh mà. Vẽ th́ vẽ. Sợ ǵ. Bác Hồ mà. Vẽ xong, lấy tiền bỏ túitrốn bà xă đi nhậu. Ít lâu sau, một bữa, bỗng thấy công an súng ống cùng ḿnh, tới vây nhà, bắt thằng bé nhốt vô sở công an thành, ghê chưa?”

Nhớ Hiếu Đệ kể tới đây c̣n ngừng lại làm duyên.

“Vớ vẩn. Ông vẽ bác Hồ của chúng ta xí trai th́ chúng nhốt, ăn thua ǵ…” Tôi nói.

Bấy giờ mới đủng đỉnh giải thích:

“Không phải vậy. Ông nội tui biểu tui cũng không dám vẽ ẩu. Chỉtại vậy nè: Trong một hội trường đảng Nguyễn Ái Quốc, tức là Trường Quốc Gia Nghĩa tử cũ của ḿnh, có treo một cái tranh Nguyễn Gia Trí lớn lắm. Quốc khánh, làm lễ lớn, cha con nhà nó mang cái tranh Bác Hồ tui vẽ treo trùm lên tranh Nguyễn Gia Trí rồi để luôn đó. Mấy tháng sau, khi giở bác Hồ ra, cái tranh Nguyễn Gia Trí bên trong đă không cánh mà bay. Vậy là bọn chúng đi bắt cái thằng vẽ Bác Hồ. Oan ôi ông địa. Ḿnh có biết mô tê ǵ đâu, chỉ thấy tiền là vẽ. Phúc đức ông bà, may sao chúngchỉ nhốt ít lâu rồi thả. Đó, bà coi mà dè chừng, đừng dại mà đụng tới tranh Nguyễn Gia Trí.”

Mỗi lần có dịp trở lại ngôi nhà này, tôi thường nhớ câu chuyện anhbạn Hiếu Đệ kể, nhưng mà không kể lại với cụ Trí. Ngôi nhà yên tĩnh quá. Tôi biết từ sau năm 1975, nhiều nhân vật chóp bu của ngành văn hóa Hà Nội đă t́m tới đây, nhưng nhà danh họa quyết định không cầm cọ vẽ nữa. Họa thất của ông, mười bốn năm qua tự nguyện cho bụi phủ, không mở cửa tiếp khách. Từng hạt bụi trong căn nhà lặng lẽ này, như vậy, tự nó có sức nặng, làm sao phủi đi được.

“Mạch khá hơn rồi. Cụ bà vẫn ép cụ ông ăn uống đều như con dặn đấy chứ?”

“Úi dào. Ông ấy có chịu ăn ǵ đâu. Hôm kia tôi mới làm bún chả, ép măi mới ăn được ba miếng.” Cụ bà nói.

“Được mà. Khá rồi. Ăn thấy ngon miệng.” Cụ ông nh́n cụ bà, cười cười.

Họa sĩ Nguyễn đă tám mươi tuổi, xương da khô đét như thiền sư, râu tóc bạc lởm chởm, mắt sáng, lông mày cước lấp lánh như cặp đao tuốt trần, nhưng nụ cười lại hiền lành ngây thơ như con trẻ.

Đóng cửa, tạ khách mười bốn năm, cụ Nguyễn gần như không rađường. Thường lui tới với cụ, chỉ c̣n anh bạn Đằng Giao, người họa sĩ được coi là truyền nhân của Nguyễn Gia Trí về sơn mài. Vậy mà hai năm trước đây, ngày anh Hiếu chân chết trong tù, tôi nhớ cụ Trí c̣n một ḿnh đi tới tận nhà thắp cho bạn nén nhang. Năm nay, vào tuổi tám mươi, sức cụ đă yếu hẳn.

“Ấy, cô đừng rót cho ông cụ.”

Cụ Trí đang nh́n ly Cognac vừa được Hằng đưa tới bằng ánh mắt thích thú, nghe tiếng cụ bà kêu, vội quay sang nh́n Thân cầu cứu.

“Không sao đâu, thưa cụ. Huyết áp thấp như cụ ông, uống chút rượu rất tốt, miễn là uống đúng liều lượng và đúng thứ rượu cognac này.”

“Bác sĩ nói là chắc ăn rồi. Chị để anh uống chút rượu mừng bọn Từ Nhă chúng sắp lên đường. Nào, nâng ly. Chúc sức khỏe anh chị.” Anh Lê nói.

Mới mấy tuần lễ trước, cụ Trí bị hôn mê, liệt nửa người, cả bọn hè nhau đưa cụ vào bệnh viện. Bệnh tuổi già. Một động mạch nào đó bị nghẹt. Chính Thân lo cấp cứu, xếp pḥng, điều trị. Trưởng khoa tim mạch cho một bệnh viện cũ đang được để cho làm thí điểm quản trị thu tiền bệnh nhân theo kiểu bệnh viện tư thời trước, Thân vừa là y sĩ, cũng vừa là họa sĩ, từ lâu đă tự nguyện chăm sóc cho cụ Trí. Lời bác sĩ cổ vơ cho Cognac được cụ bà nể nang. Hớp rượu làm cụ ông khỏe ra, chuyện tṛ coi phấn chấn thấy rơ.

Bàn tay thiên tài của họa sĩ lớn hơn tay người thường, đặt ly rượu xuống. Những ngón tay dài, cứng, vươn ra, nắm vào.

“Em thấy anh c̣n khỏe lắm. Có thể c̣n lái mô tô được. Anh nhớ cái mô tô hồi ngoài Bắc chứ nhỉ?”

Anh Lê nói và cụ Trí cười vui:

“Nhớ. Hồi ông Hoàng Đạo bị nhốt ở Cao Bằng, tôi lái cái xe mô tô ấy lên thăm, dọc đường, ngă xuống hố tưởng chết. Vậy mà không hề ǵ. Hồi đó khỏe thật.”

Hoàng Đạo, tác giả cuốn Con Đường Sáng, là lư thuyết gia của nhómTự Lực Văn Đoàn thời tiền chiến. Ông vừa là nhà văn, nhà báo, lại lànhà hoạt động cách mạng Việt Nam Quốc Dân Đảng, từng bị Tây bắt đi an trí trên vùng rừng núi Thượng du Bắc Việt, về sau phải sống lưu vong rồi mất ở Quảng Châu, bên Tầu.

Cùng hoạt động với Hoàng Đạo và các bạn, thời trẻ, Nguyễn Gia Trí cũng đă từng bị người Pháp bắt và chỉ định cư trú một nơi trong nhiều năm. Chính nhờ những năm bị an trí, ông đă dành hết thời giờ, sức lực cho sơn mài và trở thành bậc thầy của loại nghệ thuật này.

Thêm môt hớp rượu nữa, cụ Trí kết luận:

“Có lần tôi đă bảo Đằng Giao rằng sơn mài là thứ nghệ thuật chỉ những anh từng bị cầm tù mới có thể thành công được. Sự thực là vậy.

Đây là thứ nghề rờ ṃ tỉ mỉ, tốn công phu. Nếu không bị Tây cầm chân một nơi, chắc tôi đă không đủ kiên nhẫn ngồi một chỗ để mà làm việc này.”

Tôi nh́n Thủy cười. Anh bạn bố thằng cu Red này, sơ sơ cũng tùCộng sản bẩy tám năm. Có lẽ nhờ vậy mà Đằng Giao là người duy nhất đă được cụ Trí chọn.

“Thời vị Tây an trí, cụ c̣n vẽ được, sao suốt những năm vừa qua, cụ lại không chịu vẽ nữa?” Từ hỏi.

“Tay cụ c̣n mạnh lắm, có thể vẽ lại được. Lần này khỏe, cụ vẽ lại nghe.” Thân nói.

“Vẽ đi, anh ạ. Chị à, chị phải bắt anh vẽ lại. Phần việc nào nặng nhọc,sẽ có Đằng Giao với bọn em phụ giúp.” Anh Lê hưởng ứng lời của Thân. Cụ bà bắt đầu nhai thêm miếng trầu mới:

“Th́ tôi vẫn bảo ông ấy vẽ đấy chứ. Mà bảo đâu có được.”

Có vẻ không được thật. Khi thấy ly Cognac, cụ ông lấm lét nh́n cụ bà. Nhưng lúc này th́ không. Vẫn nụ cười ngây thơ giống con trẻ, cụ Trí từ tốn nói:

“Vẽ nữa cũng chẳng để làm ǵ. Già rồi. Có việc, lúc trẻ ḿnh làm coi được mà già th́ không được.”

Có tia nắng từ khoảnh sân nhỏ phía ngoài song cửa sổ rọi vào. Như thơ Phan Khôi, nắng chiếu đấy. Nắng đẹp, nhưng lặng lẽ. Trong tia nắng, lại thấy những vạt bụi lung linh, làm tôi nhớ nhiều thứ. Nhớ nhà văn họ Nguyễn nay đă không c̣n nữa. Nhớ bông hoa súng bị bẻ cọng cột vô túi ni lông sau lưng ông trong buổi họp mặt văn nghệ vui vẻ hôm nào. Rồi nhớ đến chính ḿnh. Nhớ là chúng tôi đang từ giă bạn hữu để rời bỏ đất nước thân yêu, như cọng hoa sắp bị bứt khỏi gốc. Vậy mà mọi người và ngay cả chính ḿnh lại thấy là đáng mừng, hệt như cọng hoa bứt gốc được khen đẹp.

Không chỉ từ biệt. Nhiều phần là vĩnh biệt. Người họa sĩ già bẻ bút vào cuối đời đă qua tuổi tám mươi. Ngày chúng tôi có thể trở lại đất nước, nếu quả có ngày ấy, không chắc ǵ c̣n được gặp ông. Cũng không chắc ǵngôi nhà cũ kỹ này c̣n đứng vững. “Đó. Đó. Nó xập tới nơi rồi.” Cụ bà Trí thường kêu lên với chúng tôi vậy, khi nghe tiếng chuột rúc. Nhà chỉ có hai ông bà già, chuột cống từng đàn suốt ngày đục khoét, đùa giỡn.

Phước cho tôi, c̣n được thấy những hạt bụi lung linh trong căn nhà cũ kỹ này, nhờ đó mà ḷng thư thái hơn, tin tưởng hơn vào phẩm giá nghệ sĩ và con người. …..

Buổi tối trước ngày lên đường, các bạn Thụy Điển c̣n tới thăm. Elizabeth Stamp lại từ Hà Nội vào, với rượu sâm banh Tây và AbbasCaviar. Để tránh bị ḍm ngó, phải cùng nhau tới nâng ly từ giă nơi nhà một thân hữu.

Sáng, vừa mở cửa hàng, đă thấy bà má giải phóng nhà bên cạnh. Bà cụ mất đâu cái khăn rằn ri rồi. Bộ đồ vải xoa pháp màu kem, thêu rua. Chân đi dép da, xách bóp. Vẫy vẫy:

“Tư à. Ra đây d́ hỏi.”

“Dạ. D́ Hai đi đâu sớm mà bảnh quá xá.”

“Ờ…đi một ṿng hóng gió mà. Tư à. D́ mừng Tư nghe. Tư đi mạnh giỏi, mấy đứa mạnh giỏi.”

Cố giấu kín như bưng mà cả xóm vẫn biết. May cũng đă yên được tới giờ cuối.

“Dạ cám ơn d́ Hai.”

“Bữa nay ra máy bay phải không? Sao chưa thấy xe hàng không tới đón?”

“Dạ, chắc cũng sắp tới, d́ Hai.”

“Ờ ờ…Vậy là thằng Ba lỡ bộ rồi. Nó nói, gặp phải đụng với con Tư một ly bia đầy.”

Chu, anh tài xế cũ nay đă thành ông chủ căn phố 146, cũng từ trong cửa tiệm chạy ra:

“Bà dấu tụi tui há. Thiệt mừng cho bà quá đi. Mời bà một điếu ba số để nhớ hàng xóm.”

Năm, te te nhẩy từ sau xe Honda xuống. Phu quân là một bác sĩ quân y, trẻ, hoạt bát. Họ mới làm đám cưới đây. Tôi có đi dự. Trông Năm tươi tắn lạ.

“Tư.”

Lại thụi. Lần này th́ tôi thụi lại.

“Muốn chiến tranh phải không?”

Cười ṛn. Bàn tay cụt đung đưa, muốn dứ dứ. Ôm vai.

“Tư đi mạnh khỏe nghe. Em thăm và chúc anh Tư, các cháu…”

Không cười nữa. Ngó nhau.

“Tư phải hiểu là em có nhớ Tư. Em sẽ không hỏi ai, nhưng em mong biết tin Tư, nghe Tư khỏe mạnh.”

Chồng đứng đằng sau rồi.

“Tư đi nước nào Tư?”

“Thụy Điển.”

“May mắn. Tư.”

Bắt tay, dùng dằng. Đưa đầu tay cụt cho tôi cầm, c̣n tay kia dấu đi. Cô thuơng binh lănh đạo thành đoàn hồi nào, cô đơn, quyết liệt, nay tươi tắn, xinh đẹp. Bổng lộc, hạnh phúc, đă làm khuôn mặt cô rạng rỡ ra như một nụ cười. Cười ở miệng, ở mắt.

“Ḱa, bà Vân, xe ca tới rồi.”

Chiếc xe ca lớn, mướn của hăng hàng không, đă tấp vô bên kia đường, ngay trước cửa nhà sách Ngoại Văn.

“Tạm biệt Tư.”

Tạm biệt thôi. Sẽ c̣n ngày gặp lại.

Bà con, bạn hữu, bắt đầu tới, mỗi lúc một đông.

Bà chị chồng, phút chót, vẫn nhất định bắt mấy đứa cháu ăn hết túi măng cầu:

“Ăn đi con. Ăn đi. Tội nghiệp. Mai mốt sang bên ấy, biết lấy đâu ra mà ăn nữa.”

Khó khăn lắm tôi mới rời được mọi người, đi ra lề đường xế mặtnhà, nơi các anh Mặc Thu, Như Phong, Hồ Văn Đồng, Nguyễn Khánh Giư và mấy người bạn tù của Từ, đang đứng với nhau.

“Lên xe mau. Lên mau cho. Tới giờ rồi nghe.”

Tài xế bắt đầu dục lớn tiếng.

“Ông bà vô lo cho bọn nhỏ lên xe. Mặc kệ bọn này.”

C̣n nhiều thủ tục phải làm ở phi trường lắm nghe.”

Anh Hồ Văn Đồng giục.

“Cô Nhă. Từ biệt.”

Anh Nguyễn Khánh Giư nắm tay tôi, siết chặt, như ngày nào.

Một chiếc xe đạp dừng ngay trên vỉa hè: chị Nguyễn Thị Hoàng, áo mầu, tóc xơa, điểm trang tươi tắn, ngồi trên xe, chống chân xuống hè, kêu tôi bằng tên thời con gái:

“Ê, Thu Vân. Tui không vô nhà, cũng không đi tiễn đâu. Hai đứa ḿnh từ giă nhau xong rồi. Tui tới chào ông Từ. Kêu chàng ra đây.”

Từ bước tới, lănh một nụ hôn ngay trên lề đường.

“Vậy cho ông nhớ măi là ông thiếu tôi một món nợ.”

Sau nụ hôn bất ngờ, nhà văn nữ của Saigon thời thượng đạp xe đi luôn trên vỉa hè, khuất ở góc Tự Do – Lê Thánh Tôn, không nh́n lui. Khác với mấy ngày trước, nước mắt dàn dụa khi gặp lại, hôm nay, tôi biết chị chăm chú trang điểm, dấu riêng nước mắt, mang tới cho chúng tôi nụ cười, tôi biết ơn chị.

Chiếc xe ca ba bốn chục chỗ ngồi chật ních, bắt đầu chuyển bánh. Nh́n lui, trước cửa nhà bỗng thấy nhốn nháo. Một cái bóng mầu đà vừa lao ra vỉa hè.

“Mẹ. Bà ngoại.”

Tiếng Sớm Mai la lên sau lưng tôi.

Sức yếu, con cháu đông. Bà ngoại đă quyết định không rời Việt Nam, cũng không theo ra phi trường đưa tiễn. Từ sáng sớm, bà b́nh tĩnh ngồi ăn trầu, tṛ chuyện với con cháu. Bây giờ, bà đang đứng trên vỉa hè, thu hết sức già, vươn người lên la gọi trong tư thế tuyệt vọng. Lại hệt như hôm nào, bà chạy ra kêu trời khi bọn phường đội mang súng ống tới chiếm nhà.

“Tội nghiệp Ngoại. H́nh như Ngoại xỉu rồi, mẹ.”

Vẫn giọng Sớm Mai.

Xe quẹo sang đường Lê Lợi. Không c̣n thấy ǵ nữa. ….

Việc sau cùng: Quư giúp tôi mở một đườøng đi nhốn nháo đưa tiễn thân nhân ở phi trường, t́m một máy điện thoại.

Trước 1975, Quư tới với chúng tôi từ viện Đại Học Huế. Sau thời khoa trưởng Y Khoa Bùi Duy Tâm, người liên lạc với chúng tôi về giải thưởng luận án ra trường hàng năm là anh bạn Nguyễn Thanh Trang, phụ tá viện trưởng. Vài năm trước 1975, Trang bỏ Huế vào Saigoncùng Nguyễn Hải B́nh làm Đại Học Minh Đức. Người thay Trang là Hoàng Quư. Nhiều năm sau 1975, nghĩ t́nh cũ, vợ chồng Quư đều đặn lui tới, thăm hỏi, dạy giỗ dùm lũ nhỏ. Phút cuối, chính Quư lănh lo dùm phần thủ tục phi trường.

Đây rồi. Cái máy điện thoại. Bên đầu giây kia, reng tới tiếng thứ ba. Sao chưa nhấc máy? À, nhấc rồi. Tôi nghĩ vậy. Cánh tay tôi buông xuống. Cúp. Có thêm một tiếng tách, khô khan, chưng hửng nữa. Sao vậy? Giọng Quư:

“Gọi được không?”

“Không.”

Từ đă nhắc tôi. Chúng tôi c̣n một lời hứa cuối với người bạn thân. Mới từ giă nhau hai hôm trước. Thôi, chúng mày đi mạnh giỏi. Tao sẽ không đi đưa đâu. Nhớ tao, trước khi lên máy bay, t́m cách reng cho tao một cái. Tao chờ. Trưa nắng, ba đứa khoác vai nhau, như thời nào, c̣ntrẻ, ngông nghênh, khờ dại. Và đă chờ. Đă reng. Reng một cái là đủ. Có phải bạn đă nhấc máy không? Cũng chẳng cần thiết. Chúng tôi vẫn nh́n thấy được nụ cười của bạn.

“Gặp không?”

Anh ấy hỏi. Tôi lắc đầu. Lũ con đang bận bịu với đám bạn bè, thầy cô giáo. Khóc. Cuời. Cái vui. Cái buồn. Thấm thía.

Có một lúc nào đó, h́nh như hồn tôi bị đám nắng kéo ra bên ngoài, hay hồn non ngày trước xanh lướt, yếu x́u trong nắng. Cái cô bé ngungơ, khờ dại, vụng về, đă mười tám tuổi rồi mà. Đó, lần can đảm nhất trong đời, bỏ nhà ra đi.Chuyến máy bay một ḿnh. Cũng tới phi trường này đây. Chiếc bàn nhỏ nơi góc câu lạc bộ có c̣n không? Cô bé ngồi ngó xuống chiếc máy bay c̣n đậu và ̣a khóc.

Những ai cùng đi đón với anh ấy thời đó nhỉ? Nhớ rồi. Từng khuônmặt bạn bè, Viên Linh, Đỗ Ngọc Yến, Đỗ Quư Toàn, Nguyễn KhắcNhân. Nắng cười ̣a. Đă sấy khô những giọt lệ và c̣n giữ đây đây này,khô trong chúng tôi. Nắng chấp chóa, cười nữa: Đừng khóc, chúng tôi không đủ nắng để hong khô nữa đâu…Ai kéo tôi vậy?

“Chị Nhă ḱa, phải vào làm thủ tục thôi.”

Giờ này, mẹ tôi đă tỉnh chưa? Trước khi leo lên xe buưt để ra phi trường, tôi đă quay nh́n lui. Mẹ tôi đứng trước ngôi nhà, vừa lúc quỵ người đổ xuống dưới tay đỡ của Nga.

Rồi Nga cũng tới được đấy thôi. Khuôn mặt người bạn nhỏ, người em, trước đây đă tươi tắn, b́nh tĩnh, giúp tôi đối phó bao hoàn cảnhkhốc liệt, giờ này, héo úa, chằng chịt nét khổ đau. Ôm chầm lấy nhau. Khóc nữa. Chẳng phải chỉ v́ chúng tôi sắp phải xa nhau đâu. Cháu gái Bảo Châu của Nga, v́ một tai nạn bất ngờ, vừa bỏ hai bà mẹ.

Mấy ngày trước đây, buổi sáng, hai chị em c̣n ngồi trong một nghĩa địa ngoại thành mênh mông. Ngôi mộ cháu Bảo Châu mới xây. Hương xoáy ṿng. Vàng bay lả tả. Hồ điệp chập chờn. Gió xoáy. Trái thanh long hồng tươi rơi lăn về phía chân tôi. “Má Nhă ḱa, con nó về thăm má Nhă, tặng quà và chúc mừng má Nhă ra đi.” Giọng Nga vẫn cứ tỉnh ráo. Y như lúc ngồi bên cạnh cái xác c̣n tươi của con gái, ở nhà văng sanh chùa Vĩnh Nghiêm, chằm chằm nh́n lên tượng Phật: Ông ơi, có ông Phật không? Tại sao con tôi….Rồi vật vật tay: Thua. Thua. Thua rồi….Bàn tay ấy, lúc này ôm chầm lấy tôi, giọng vẫn tỉnh táo:

“Được. Chị được rồi. Chị đi nhé.”

Tôi lạnh dọc xương sống.

Bên ngoài pḥng cách ly, bạn bè, thân nhân tiễn đưa c̣n đứng cốnh́n vào qua những khung kính. Ông anh lớn ḱa, lặng lẽ ngó. Sao y chang h́nh ảnh ba tôi ngày nào. Cô em gái bế con, quay mặt. Chắc c̣n khóc nữa. Lệ mừng đó thôi.

Vào pḥng cách ly. Qua tấm cửa kiếng, tôi c̣n mấy phút để nh́n lại. Thành phố, căn nhà, mẹ th́ không c̣n thấy nữa. Nhưng những bàn tay c̣n đặt lên cửa kính, chờ vẫy. Tôi tới sát, đưa tay ḿnh lên, áp vào từng bàn tay, qua làn kính dày, mất hết cảm giác, lạnh lẽo. Nga muốn dặn ǵ nữa à? Không. Chỉ lắc đầu. Chen tới. Giao, Thủy, đưa tay lên.

Chen tới. Chóe, mắt sáng quắc, gật gật, cười. Trên những khuôn mặt dàn dụa nước mắt khác, tôi nhận được nụ cười thật đẹp. Cũng phải đáp lễ lại với bạn bè một nụ cười trưóc khi quay lưng.

Khuất vào cái pḥng nhỏ bên trong, là sẽ không thấy ǵ nữa. Mọi hành khách đă vào hết. Phải quay lưng thôi. Chưa được. H́nh như có ai vừa chạy tất tả tới. Tôi nh́n ra, một người đàn ông đang vẫy tay rối rít. Vượt khỏi hàng rào người lố nhố che lấp, ông ta tới được tận cuối dăy,nơi khoảng tường thấp có chắn những chấn song bê tong. Ông ta phải cúi người xuống, đưa mặt ḍm qua khoảng cách, tôi mới nhận ra.

“Ḱa anh, ông Khai Trí.”

Tôi kéo Từ quay lui.

Chính là ông bạn chủ nhà sách Khai Trí đường Lê Lợi của Saigon cũ. Mê sách, mê chữ nghĩa, bao năm ở miền Nam, ông Khai Trí là người bạn khôn ngoan, hào sảng của mấy thế hệ nhà văn tại Saigon. Sau 1975, cửa tiệm, nhà cửa, tài sản bị tịch thu, ông đă trải qua nhiều năm tù. Nghe kể, hồi ở trại giam T20, ông bị ghẻ cùng người, không sao nằm xuống được. Mười mấy năm nay, chúng tôi không được gặp lại ông. Vậy mà bây giờ, từ phía ngoài pḥng cách ly, ông đang ḅ cả người nh́n qua lỗ thông hơi ở dưới chân tường.

“Nghe các anh báo tin anh chị đi, tôi vội đạp xe tới. May quá, c̣n kịp bắt tay anh một cái.”

Hai người đàn ông, kẻ trong người ngoài, cúi xuống bắt tay nhau qua lỗ hổng dưới chân. Chỉ có vậy, hai bàn tay rời nhau vội vàng. Không c̣n th́ giờ nữa.

Qua cửa khám xét cuối cùng của Hải Quan.

Sân bay ngập nắng.

Hồn non cô bé năm xưa liều lĩnh bỏ Huế vào Saigon thơ thẩn góc nào? Có thấy tôi ra đi?

NHĂ CA



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home