|
||
|
Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy màu đỏ hoa vông là ở một cư xá quân đội, đường Vạn Hạnh (không biết tôi có nhớ sai tên đường không, nhờ Hồ Hoàng Hạ hiện ở thành phố chim Phượng trong vùng sa mạc nhắc giùm), ở phố núi bụi mù Pleiku, vào những ngày của tháng Ba năm 1974. Những ngày còn cháy lên trong tâm tưởng tôi, và bạn, cả em nữa, ngọn lửa hỗn mang, ảo ảo hồng hồng, của một cuộc chiến đang tới màn vĩ thanh. Những ngày ấy, giữa hai chuyến đi lên Eo Gió và đồi dã quỳ bên đỉnh ngọn Chu Phong, tôi ẩn cư tại nhà người bạn trong cư xá. Buổi sáng, uống cà phê xong, nằm trên chiếc giưòng nhà binh có trải tấm poncho light cho đỡ đau lưng, nhìn ra cửa sổ, thấy một cây vông chỉ còn mươi chiếc lá màu vàng mỏng manh. Sáng hôm sau, chỉ còn hai chiếc đong đưa đầu cành. Không, tôi không bị ám ảnh vì tác phẩm Chiếc Lá Cuối Cùng của nhà văn Mỹ kia đâu, mà là điều có thực ở những ngày mênh mang ấy. Lại sáng hôm sau nữa, không còn một chiếc lá nào trên cây. Nhưng, ô kìa, một đóa vông đỏ thắm hiện ra như một ảo tưởng của thời chợt khóc chợt cười. Một đóa vông đỏ dưới trời chiến tranh. Từ nốt nhạc dạo đầu ấy là cả rừng vông nở rộ trong nắng dội Pleiku. Và gió mùa thổi về. Tôi thấy lòng mình bỗng mở rộng, không giới hạn nữa. Tôi bắt đầu viết Tôi Cùng Gió Mùa trong khung cảnh này. Viết xong bài thơ, mới version thứ nhất, thì được tin bạn văn là Đỗ Thiều chết trên triền Bằng Lăng, trong một chuyến hành quân trực thăng vận. Anh bị bắn thủng ngực và hông, máu ướt đỏ tập bản thảo truyện ngắn Chim Và Mây, tác phẩm mang không khí Hamlet của Shakespeare mà đi đâu anh cũng mang theo. Màu đỏ hoa vông, từ điểm vào truyện ấy, đã mang không khí bi kịch. Nó không là màu của hạnh phúc nữa, mà là chia ly, đứt đoạn, những mảnh đời không bao giờ gặp lại nhau. Tháng Tư 1975, tôi lại nhìn thấy màu đỏ hoa vông trên con đường đi tìm thân nhân thất lạc qua những rừng bông vải, trên những triền cát Phan Rang. Cây vông đó đứng trong vườn nhà của một người Chàm, cạnh chiếc xe bò đã gãy mất một bánh, và quanh vườn có rào bằng cây khô. Bước trên triền cát bỏng, tôi bỗng thấy trước mắt ngước nhìn, cây vông đỏ rực như một hồn oan chợt hiện. Như thế đó, chỉ mấy ngày sau là mất hết. Nha Trang, Cam Ranh, Phan Rang, Sài Gòn... Trong tôi, màu đỏ hoa vông mãi mãi là một ám ảnh khốc liệt. Tại sao vẻ đẹp như thế lại nhuốm màu bi kịch. Hay có mùi hương trong cơn bão tố, vẻ lộng lẫy trong cái dẫy chết của chiều tà. Bức tranh Guernica của Picasso thế mà đẹp đến tê dại trí óc con người. Dẫu thế nào, tôi không quên được màu của hoa vông. Và tôi gặp lại nó sau ngày đi tù về. Những bạn bè của tôi chuẩn bị ra đi không thấy có ngày quy cố hương. Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền trước. Tô Thùy Yên sau. Cuối cùng đến lượt tôi. Trong những ngày sống lây lất chờ đợi, chúng tôi thỉnh thoảng có gặp nhau bên chung trà hoặc ly rượu đắng đến tận cùng nỗi đắng. Thường thì ở nhà Tô Thùy Yên, nghĩa là đi sâu vào vùng Ngã Ba Cây Thị, Xóm Gà, Cầu Hang... Từ nhà tôi ở Thanh Đa, đạp xe qua Cầu Đỏ, qua ao sen, đi mãi mới tới nhà bạn. Và trên đường đi, vào khoảng tháng Ba tháng Tư, tôi gặp cây vông nở hoa màu đỏ sau một hàng rào gỗ bên đường, khi vừa đạp xe qua chiếc cầu xi-măng. Đỏ bầm như máu, đỏ điên mê ác mộng, ôi hoa. Từ màu đỏ ấy, tôi đi. Trời mưa những trưa có tiếng trẻ cười và lòng tôi đỏ ối. Nước mắt ơi, đừng rơi. Đến Mỹ, như đã nói ở đầu, lại gặp màu đỏ hoa vông ở vùng nắng rộng Nam Cali. Nhưng nỗi đau giờ đã lắng sâu vào bên trong, còn nỗi nhớ thì rất đầy. Tôi hát trong màu đỏ khi rời nơi đây để hẹn ngày trở lại. Thế mà xuân tàn, hè đã vào sâu, tôi vẫn chưa làm xong cái hẹn. Nếu những ngày hè này tôi không tới được Irvine thì ai ơi gọi dậy giùm tôi màu đỏ hoa vông và thổi về đây trong nắng, trước khi thu vàng buồn bã bắt đầu. ...Và gió Một buổi trưa trên đồi Penasquitos, tôi đang ngồi trầm tư, thì bỗng ngọn gió khốc liệt từ những vùng đất xa xôi thổi về. Đâu đó, đã có lần tôi nghe nói đến ngọn quái phong Santa Ana. A, trận gió kinh thiên từng thổi qua mấy trăm năm lịch sử của vùng đất chưa dứt âm vang, chạy trên những con đường dài rồng rắn, thổi rúc như còi sừng trên những kiến trúc Mễ Tây Cơ ngơ ngác trong màu nắng vàng hồ, thổi và làm kêu rung những tên đất tên người đầy âm a âm ô. Này hỡi gió. Chào trận gió kinh tâm làm cỏ cây tàn úa, khô cạn suối nguồn, cát chạy đá bay, lòng dạ xốn xang, vỡ lở những vết thương của trời và đất. Tôi bỗng, trong phút hỗn mang, nghĩ đến quê nhà với ngọn đông phong thổi lạc vợ xa chồng, nước mắt tuôn rơi. Tháng này, gió mùa Đông Bắc cũng đã thổi tới trên quê hương tôi. Âm vang. Âm vang qua dòng sông vắng và những cánh đồng. Đã nở hết những bông hoa mùa cuối trên đất nghèo. Tôi bỗng nhớ đến, như còn rợn trên da thịt, ngọn gió Lào thổi qua biên giới vào vùng Nghệ Tĩnh những ngày nào. Thổi xơ xác đồi chuối hoang, thổi khô rốc thân tù, đỏ hoe bụi đất, quặn thắt ruột gan. Này bạn, nhớ không, những đêm nằm nghe gió giật mái tranh, o o trong sọ rỗng. Tưởng như tiếng ác điểu gào, báo giờ nguyệt tận. Tôi chẳng thể nào quên. Vâng, tôi chẳng thể nào quên bản hợp âm màu đỏ của mùa thay lá những khu rừng cao su, khi gió thổi bùng đống lửa nhân gian, đám lưu dân ngồi đợi tia nắng đầu tiên. Cũng như tôi không quên mùa gió tháng Ba trên Eo Gió thổi qua rừng dã quỳ và đồi hoa vông đỏ ở Pleiku. Đó là những ngày báo hiệu tàn cuộc chiến. Trận gió cuốn cờ đang thổi qua bờ cõi. Gió, như từ những trang thơ của St John Perse. Vâng, đã từng có những cơn gió lớn đi qua mặt địa cầu. Và tôi đã đi qua nửûa vòng trái đất để đến đây trên đồi Penasquitos gặp luồng quái phong hung bạo. Tôi muốn nói. Tôi muốn nói. Gió, hãy thổi ngược lại đoạn đường đã đi qua, tìm lại tôi những mảnh vỡ ngày nào. Nơi có bóng khu vườn và những ngôi mộ đá ong, tiếng bà ru cháu nhiếp gọi hồn âm. Và sau Vương Phủ, dưới bóng những cây bàng phai lục ố hồng, nhà thơ điên nửa đêm cầm bút viết lên trời trang thơ quỷ khóc. Gió, hãy thổi ngược lại phía đầu làng, đám trẻ ngày nào đang chơi trò chơi rồng rắn. Dưới ánh trăng, ăn hết khúc đầu cả xương cùng xóc. Ăn khúc giữa đầy những máu me. Nuốt tới khúc đuôi. Nuốt tới khúc đuôi. Mặt đất bỗng lên cơn dữ. Tượng đài xiêu. Sụp đổ, trong sớm chiều, bức tường ý hệ. Và gió, đưa ta về phượng thành. Em từ vùng nước xanh ao sen mùa hạ bước lên. Tóc và quần áo dính vào da thịt. Hai tay em ôm đầy bông sen đỏ. Ta gọi tiền thân em là hương sen. Gió vẫn thổi, như tự nghìn năm, ngược nẻo đường xưa. Và như thế, đã có những cơn gió thổi trên lịch sử, trên kiếp người. Thổi qua hồn tôi. Phượng Trong phim Ba Mùa (Three Seasons), có một cảnh hoa phượng đỏ đẹp tuyệt vời. Hải, bằng chiếc cyclo của mình, chở Lan đến dưới hàng phượng, như đưa nàng trở lại thời mơ mộng thuở xa xưa, khi phấn son chưa làm hoen ố tâm hồn ấy. Màu hoa phượng đỏ trở thành một thứ nước thánh, thanh lọc hết mọi ố tạp của cuộc đời. Nhìn kia. Những cánh phượng bay trong gió, như một trận mưa màu đỏ. Ta chợt nhớ tới một lời ca từ rất đẹp của Trịnh Công Sơn: Hàng phượng bay mù không lối vào... Có phải lối vào trường em ngày xưa cũng có cơn mưa màu đỏ như thế, làm chúng ta như lạc vào một giấc mơ. Giấc mơ đó còn không? Nó vẫn còn đó. Không ai quên được, dù đã cách xa cả một biển thời gian. Bên kia trời, phượng vẫn nở. Chỉ cần ngoảnh mặt nhìn lại là thấy ngay màu đỏ rực rỡ, chói chang. Không một loài hoa nào nồng thắm và bao la như phượng. Nó không nở cho riêng một ai, dù kỷ niệm của mỗi người là riêng tư. Và nó có một đời sống dài lâu trong trí tưởng của anh, của chị, của em. Cái cô bé ngày ấy, nay đã là mẹ của một đàn con, và có thể đã có thêm những đứa cháu, vậy mà nhắc tới hoa phượng một thời lòng vẫn còn rưng rưng. Nói tới phượng , lại nghĩ tới những cây phượng tím ở Nam Cali. Trên nhiều con đường của Santa Ana, Westminster..., khắp vùng Orange County, có một loài cây cao như cây sầu đông ở Huế, hè về nở hoa màu tím. Nhiều nơi, nó kết lại thành vòm, rung động trong nắng gió. Gọi là phượng tím cho đỡ nhớ, thế thôi. Chứ còn đẹp và sâu sắc thì không thể nào bằng phượng của chúng ta được. Ông Mai Thảo, lúc sinh tiền, rất bực mình về cái phượng tím này. Với ông, chỉ có một thứ hoa phượng - phượng đỏ, nở trên những thành phố Việt Nam. Em có nghĩ như thế không? Các anh, các chị có nghĩ như thế không? Xin cho tôi được về, dẫu chỉ một lần, đứng dưới màu đỏ của hoa phượng. Thế đấy, phượng đối với ta thân thiết biết chừng nào. Mùa hè của Thoại Những cây phượng nở đỏ ven bờ sông Hương, dọc theo hoàng thành.Tiếng ve kêu rợp những khu vườn, như một dàn đại hợp xướng, vừa mới lặng tiếng ở một nơi này, bỗng lại bùng lên ở một góc khác, một khu vườn khác. Đó là mùa hè ở Huế, qua đôi nét phác thảo. Nhưng là một mùa hè đã xa, xa lắm. Bốn mươi lăm năm về trước. Tôi gặp Quách Thoại lần đầu tiên mùa hè ấy. Xa, quả là quá xa, vậy mà tưởng như vừa mới hôm qua. Ngày ấy, Quách Thoại từ Sài Gòn về Huế, quê hương anh, định ẩn cư với đá và cây cùng chim muông trong vườn. Tôi gặp Thoại qua một người bạn, không nhớ rõ là ai. Thoại ăn mặc đẹp, dáng vẻ một dandy kiểu Baudelaire. Complet màu beige, mũ feutre. Tôi thì hãy còn là học sinh, đi chiếc xe đạp hiệu Saint-Etienne sơn đen, có một cái chuông rất lớn, một porte- bagages rất chắc. Những bài thơ, môt vài tùy bút và truyện ngắn đầu tiên, hãy còn non dại lắm, đăng trên Đời Mới, Thẩm Mỹ, dưới bút hiệu Châu Liêm... gây được sự chú ý ở bạn bè xa gần. Đinh Cường, Tô Thùy Yên, Minh Đăng Khánh, Trần Lê Nguyễn, và Quách Thoại. Thoại về Huế năm ấy, như đã nói, vào dạo hè. Mùa hè nóng như một cơn điên màu đỏ, nhưng có lúc chợt lãng đãng trong màu tím trôi trên sông. Ngồi ở đây, một thành phố ảo miền Trung Mỹ, mà tôi như còn thấy lại hình ảnh Quách Thoại. Dáng anh cao, nghiêng, chiếc mũ dạ cũng nghiêng theo chiều gió, bước qua cầu, nhìn những lá đò trôi trên sông và dãy núi xa, mờ. Một buổi chiều, chúng tôi họp mặt ở nhà anh Thái bên An Cựu, uống trà và nói chuyện thơ. Lần đầu tiên tôi được nghe Như Băng Trường Tình của Quách Thoại. Như Băng, một thời là người Thoại yêu, sau ẩn mình trong tu viện. Như Băng ơi, vì đâu mà lệ ứa, Ta khóc than nghĩ tủi phận đời ta... Chúng tôi kéo nhau đi ăn bánh bèo dưới chân núi Ngự. Thoại vui, nói chuyện có duyên. Anh có vẻ xanh, gầy, nhưng trong và sáng. Cuối buổi đi chơi, tôi chở Quách Thoại về miệt Bãi Dâu, trên chiếc xe đạp cổ lỗ sĩ của tôi. Thoại ngồi sau xe, lật tờ Đời Mới có đăng bài tôi, nói: "Văn anh viết như giọng văn Thạch Lam... ". Thời trẻ dại ấy, được nghe lời khen đó, tôi sướng lắm. Tôi chở Thoại tới nơi anh ẩn cư. Giường anh nằm giữa hai dãy giường dài, chung quanh cũng là những người gầy xanh như Thoại. Thì ra đây là nơi cho những người đau dưỡng bệnh. Sau 1956, gặp lại Quách Thoại ở Sài Gòn. Quán cà phê hè phố Kim Sơn. Trên đường Catinat. Anh trông gầy và xơ xác đi nhiều lắm. Nhưng đôi mắt lấp lánh. Đây là thời của anh và các bạn. Thời tạp chí Sáng Tạo. Rồi mấy năm sau, anh mất. Với tôi, hình ảnh đẹp nhất của anh không phải là trên hè phố Sài Gòn. Mà là bên bờ sông Hương ở Huế. Và trong thơ: Quách Thoại đi
Hoa và tai ương Tôi không thể không về thăm Oklahoma. Con tôi ở đó, ngay trên con đường bão lốc đi qua. Tôi còn có vài người bạn thân quen ở đó. Rồi thành phố và những cảnh sắc mến yêu nữa chi. Tôi phải về thăm Oklahoma, bởi có những tiếng thầm thôi thúc. Phải nói ngay rằng Oklahoma không đẹp. Nó là vùng đồng cỏ mênh mông, nơi có những quả dưa hấu và bắp ăn rất ngon. Nơi có nhiều nông trại chăn nuôi giống bò Angus và cây sồi già mọc cô đơn trên đỉnh đồi. Nơi có một vài thị trấn với những quán xá y như trong các phim miền đồng cỏ viễn Tây mà bạn và tôi đã nhiều lần xem hồi niên thiếu. Và rồi những con đường bụi đỏ mù trời và những cánh đồng dã quỳ rực rỡ. Nhưng nói rằng đẹp thì Oklahoma không đẹp. Khi ta yêu một vùng đất đâu phải chỉ vì nó đẹp. Ta yêu Pleiku, thị trấn của hoa vông đỏ và bụi đỏ đâu cũng trong tình yêu như thế. Cũng như khi ta yêu một người vậy, chỉ bởi người ấy có một vẻ rực sáng nào đó và một tâm hồn nhân ái gần gũi ta. Có phải vậy không, hở em? Tôi yêu Oklahoma bởi vì các con tôi bạn bè tôi ở đó, mà cũng bởi vì đây là điểm đầu tiên tôi tiếp xúc với nước Mỹ khi mới đến vào một mùa hè trời không muốn tối và ánh nắng thì mãi nhuộm vàng các đồng cỏ và những khu rừng thưa. Và đêm đầu tiên ở Oklahoma, bởi đêm nơi đây là ngày ở Việt Nam, nên không thể nào nhắm mặt ngủ được, nhìn ra mưa bay trên một vùng đèn sáng cứ ngỡ như là ánh trăng. Tôi yêu Oklahoma còn vì điều này nữa. Những nỗi đau khổ lớn. Oklahoma, như em biết đấy, bất hạnh thay, nổi tiếng vì tai ương. Lần nầy là lần thứ hai, sau vụ nổ bom tòa nhà Federal Building tháng Tư năm 1995, hai tháng trước khi tôi đến vùng đất này. Và lần này nữa khi bắt đầu mùa hè. Tôi trở về thăm lại Oklahoma mà trong lòng cứ dội lên những cơn đau, bởi biết trước sẽ nhìn thấy những cảnh ghê gớm của đổ nát và cái chết. Thế nhưng, đường đi tới Oklahoma thì vẫn đẹp. Từ con Con Sông Đỏ Red River, những tấm thảm hoa trải dài hai bên đường. Hoa đủ màu: tím của bluebonnet, vàng của cúc dại và hồng gạch của loài dã hoa. Những vạt hoa lộng lẫy như thế cứ nhấp nhô bên đường cho tới thị trấn Moore thì chợt biến mất như chưa bao giờ có. Những cảnh tượng đổ nát bày ra trước mắt. Cả một thị trấn, chỉ trong có mấy phút đêm 3, tháng Năm, đã mất gần hết dấu tích. Những mái nhà bị cuốn đi, những bức tường đổ, những chiếc xe hơi chỉ còn là đống sắt bẹp dí, móp méo... Toàn vùng Moore có 15,000 ngôi nhà thì đã tới trên 7,000 bị lốc cuốn sập. Nhưng đó, dầu sao cũng mới chỉ là khúc giáo đầu của bản khốc ca tai ương, vì xe chỉ chạy qua bên ngoài thị trấn, mắt không nhìn thấy hết được. Phải vào đến Del City và Midwest City mới nhìn rõ mặt định mệnh tàn khốc. Hoàng hôn xuống trên Đường 44, Đường 56, Del Air, Del View, Oakbrooks... cả một biển đổ nát dưới tà dương. Phải nói là những cơn lốc xoáy, lốc vòi rồng, còn ghê gớm hơn cả chiến tranh và những trận dội bom, đập đến nát bấy từng vùng nhà cửa cư dân, từng cánh rừng, dãy phố. Những cây, nhờ độ mềm dẻo, còn đứng được thì cũng bị tuốt hết lá, cành xương đâm lên trời. Có những nỗi đau muốn bật thành tiếng kêu trong lồng ngực. Có những cặp mắt ráo hoảnh nhìn vào đổ nát và cái chết. Ấy vậy mà trên một đống gạch và đá vụn, trên mặt bức tường đổ thấy đề hàng chữ lớn bằng sơn đỏ: We live. Praise God. Chúng tôi còn sống. Hãy ngợi ca Chúa. Còn sống được ư trong một đống nát vụn như thế! Ấy vậy mà tôi vẫn nhìn thấy những bông hoa đồng thảo màu tím ngát nở ở góc Đường 44 và Sooner, bên cạnh những mái nhà và những bức tường chỉ còn là gỗ, đá và gạch vụn rời. Bạn tôi, gia đình người Mỹ, nhà ở phố Oakbrooks bị tốc mái, gốc đại thụ đổ xuống đè nát mấy bức tường, để lại mấy lời nhắn tin cho bằng hữu: Chúng tôi bị mất nhà cửa. Vẫn khỏe mạnh và vui. Nhưng giọng của Ken đâu có vui trong máy nhắn. Khu rừng thưa ở góc Sooner và Xa Lộ 40, bao nhiêu cây to đều bị bật gốc, nằm ngổn ngang như những xác voi. Có những gia đình chết không còn một ai. Trong phút tai ương họ ôm lấy nhau nhưng cơn lốc đã bứt đi mỗi người bay một hướng rồi chẳng còn ai sống. Có đứa bé mấy tháng tuổi bay lên nằm khóc trên ngọn cây. Còn thằng bé thân thể dính đầy bùn chiếu hình trên TV chắc chắn đã mất mẹ mất cha, từ nay bé bơ vơ giữa đời. Mong bé đừng giữ lại ký ức gì về cái đêm thảm khốc 3 tháng Năm, 1999. Nỗi bất hạnh thật là quá lớn. Rồi đây, những thành phố rồi sẽ được xây dựng lại, những ngôi nhà mới được cất lên, những vườn cây, những khu rừng xanh tươi trở lại. Nhưng tâm hồn con người, ký ức con người với những vết thương sâu, dễ gì lành lặn như xưa. Chợït nhớ đến câu thơ của thầy Nhất Hạnh (nhưng chắc là không nhớ đúng nguyên văn): Sáng nay được tin em gục ngã trên chiến trường, Trong vườn tôi vô tình hoa tường vi vẫn nở... Có thể hoa vẫn nở, như đã nở, bên cạnh tai ương, và cuộc sống vô hạn vô lượng vẫn tiếp diễn, nhưng lòng sao quên được nỗi đau ngày hôm nay. Nỗi đau , nỗi bất hạnh này quả thực quá lớn. Cho đến nỗi Ngày Của Mẹ vừa qua không còn là ngày hạnh phúc nữa. Tại nhà thờ Meadowood ở Oklahoma, sáng Chủ Nhật, tuy có rất nhiều hoa cẩm chướng, mỗi bà mẹ đều cầm trên tay, nhưng đã có rất nhiều giọt nước mắt nhỏ xuống, bởi nhiều người mẹ vĩnh viễn mất con cũng như nhiều người con từ nay không được nhìn thấy mẹ nữa. Xin cho hoa vẫn nở trên những cánh đồng có những ngôi mộ mới, nở trong vườn nhà rồi sẽ xanh tươi trở lại. Và cũng xin cho bão tố từ nay im tiếng nói và tai ương rồi sẽ được lãng quên. Cuộc sống đây đó xin hãy tiếp diễn như lẽ nhiệm màu trong nỗi vô thường của trời đất. Những chén trà tường vi em hái bông tường vi
Tôi nhớ, một lần trả lời phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do, tôi có nói đại ý rằng trà và tường vi sẽ sống mãi với nhân loại. Điều này chắc chẳng có gì sai, và tôi đã nói lên cũng bởi lòng yêu trà và hoa tường vi đấy thôi. Và... Một buổi chiều, tưởng tượng ngồi ở ngôi nhà ngói đỏ nhìn ra biển khơi, uống chén trà hương ngát do nữ chủ nhân khoản đãi, có phải tôi đã nghĩ tới một sự kết hợp đầy nghệ thuật của trà và hương hoa tường vi, để thành một tên gọi là trà tường vi. Chung quanh tôi, trong căn phòng tưởng tượng đó, có đàn piano, có những bình hoa - cố nhiên, rất nhiều hoa tường vi - và những bức tranh treo trên tường. ánh hoàng hôn còn sót lại khoảnh khắc rực trên chiếc bàn gỗ nâu, rồi tắt trong màu vàng của những nhánh hường. Bỗng nhiên, trong một thoáng ngắn ngủi, dường như tôi chợt nghĩ đến Lê Uyên Phương vừa mới ra đi. Nói là trong một thoáng ngắn ngủi, bởi lúc đó lòng tôi có thể là chưa tịnh - nó như mặt biển ngoài kia dậy những triền sóng tím xanh. Những cảm xúc đến với tôi, cùng với những hình ảnh sáng ngời, lộng lẫy trước mắt - tuy có thật đó mà chỉ e mau biến thành những ảo ảnh phù du. Bây giờ, ngồi ở đây, khi nắng sớm mai reo vui trên những cây hải đào mùa hè ngoài kia, tôi mới có dịp nghĩ đến bạn, một cách tròn đầy hơn. Với tôi, Lê Uyên Phương và trà cùng tường vi là rất đỗi thân thuộc. Chúng tôi biết nhau đã từ lâu lắm. Thời gian trải dài theo chiều dài của lịch sử đầy biến động vừa qua. Từ cái thời Mây Cao Nguyên, lúc Lê Uyên còn mang tên Cẩm Thúy, hát trên đài phát thanh Đà Lạt, trong chương trình Tiếng Nói Quân Đội. Hát ở quán sách Nhân Văn của tôi và các bạn, trên con dốc dãy phố Duy Tân, có Trịnh Công Sơn, Bửu ý, và dường như cả Thế Uyên. Hát Thơ Và Đọc Thơ ở quán Lục Huyền Cầm, có Thái Tú Hạp, Lê Văn Ngăn, Hoàng Khởi Phong - đêm đó, Huy Tưởng kẹt ở Nha Trang, không lên kịp để đọc bài Máu Biếc Xanh Và Ngực Tối của anh và nói chuyện về thơ. Thời gian ấy, những ngày xanh xưa ấy là những ngày của trà tường vi mà tôi đã ghi lại trong bài tạp bút Trà Ca đăng ở báo Văn: ... Trong những kỷ niệm về trà tôi còn nhớ được, có những buổi uống trà với Lê Uyên Phương ở quán Lục Huyền Cầm của anh trên Đà Lạt. Trà tường vi. Chẳng là nhà anh có trồng nhiều khóm tường vi nở rộ hoa, anh hái cho vào bình trà để mời bạn quý. Trà tường vi có hương thơm thoang thoảng, uống trong buổi sớm mai nắng lên làm tan sương giá, cũng thú lắm chứ, bạn. Hồi ấy, khoảng năm 1972, chiến tranh tới hồi khốc liệt, nhưng thành phố Đà Lạt vẫn yên tĩnh; tin tức chiến sự chỉ được nghe trên đài phát thanh và đọc thấy trên trang báo. Lê Uyên Phương vừa phổ nhạc xong bài thơ Tôi Muốn Yêu Tôi Muốn Tin Cuộc Đời của tôi và trình diễn thành công ở Viện Đại Học Đà Lạt. Anh cũng bắt tay vào việc soạn nhạc cho những bài thơ về sử của tôi trong tập Sử Ca, Trôi Trên Dòng Bách Việt. Tất cả được đâu chín bài, tới đoạn An Dương Vương mất nước, cùng con gái là Mỵ Châu ruổi ngựa, dừng chân trên đèo Mộ Gịa, chung quanh bóng chiều đỏ quạch bắt đầu tan trên biển sóng xa. Hiện tôi chỉ còn giữ được năm bài nhạc của Phương. Phương đã cho hát thử và thấy được. Chúng tôi vừa uống trà tường vi với nhau vừa bàn tới chuyện đưa Sử Ca lên sân khấu, với một ban hợp xướng lớn và người đọc thơ dẫn chuyện. Hai mươi lăm năm trôi qua... Những chén trà tường vi của chúng tôi ngày ấy và những trang sử ca vẫn còn hương dư cho tới giờ... Vâng. Đúng thế, Lê Uyên Phương ạ. Vẫn còn hương dư, cho dù những đổ vỡ, tàn phai quanh đời. Cũng như âm nhạc của anh vậy. Tôi vẫn nghĩ, một thứ âm nhạc - dẫu là tình ca - mang dấu tích thời đại như tình ca của Lê Uyên Phương, không thể nào bị lãng quên. Trong những âm thanh rã rời ấy, có hơi thở của một đời sống hiện thực, có ái ân cháy bỏng làn da nồng mùi nhục cảm, có hiện sinh với khói thuốc và hương cà phê nâu, có chia ly rỏ máu ở sân ga, phi trường, có vẻ phù du của những đóa quỳ vàng như trong tranh Van Gogh, có cái chết mang vẻ xanh xao của một làn da, và có cả chiến tranh ở những ngọn đồi xa đêm đêm dội về... Đã hết rồi thời của những tình ca tiền chiến kiểu người em sầu mộng, hay những tình khúc học trò có hoa phượng đỏ chở đầy giỏ xe, với áo lụa vàng, màu mực tím, chiều mùa thu lá rụng trong công viên gió vun thành đống, và những chia xa trong hoàng hôn... Tình ca Lê Uyên Phương không hề là một thứ lãng mạn êm ái, ve vuốt tình cảm con người. Nó là một loài hoa, chẳng phải là để đem tin vui, mà là điềm báo của tai ương. Nó để lại vết cháy trong hồn người. Không dễ gì nó chết khô như lá vàng. Mai đây, khi thời đại lưu vong này trôi qua, tôi tin rằng nhạc của Lê Uyên Phương vẫn còn được hát lên ở những quán cà phê, những vỉa hè tụ họp của tuổi trẻ, ở những liên hoan trên các sân trường đại học... Kể từ những chén trà tường vi ngày ấy, bao nhiêu nước chảy dưới chân cầu... Gặp lại Lê Uyên Phương mùa hè 1996 ở Mỹ, thấy anh vẫn không có gì thay đổi. Anh nói với tôi về một thời đã qua, những ngày còn trên đất nước, mong ngóng, chờ đợi, tìm đường ra đi. Anh kể cho tôi nghe chuyện một cây đàn nào đó của anh, cũng phôi pha, trôi giạt, nghe đâu sang tới Đức, Ý, Thụy Điển. Anh đưa tôi về ngôi nhà của anh ở Long Beach, cho xem cái studio với những máy móc hiện đại của riêng anh. Anh cũng nói tới quán cà phê LUP của anh ở Quận Cam ngày nọ và những đổ vỡ của một mối tình đã có một ouverture thật đẹp và tưởng sẽ dài lâu. Bây giờ tôi đã hiểu - không, không có gì dài lâu. Mọi cái rồi sẽ qua đi, Phương ạ. Còn lại gì, âm vang tiếng hát anh, khi tiếng hát ấy tỏa ra từ một cõi đời hư ảo của những quán cà phê buồn. Một đêm nào như đêm xưa, những chuyến trực thăng tải thương từ chiến trường về, dưới cơn mưa. Một đêm nào như đêm qua, em gục đầu lên vai tôi trong tiếng hát của một ca sĩ... Một đêm nào như đêm nay sẽ về có tiếng đàn thùng bập bùng như ánh lửa trên đồi gió những ngày đã xa... Và trà tường vi của chúng ta... Tôi nhớ trong những ngày nhuốm bệnh, anh muốn có thêm những bài thơ mới của tôi, để viết thành ca khúc, và tôi đã gởi cho anh Ngũ Ngôn Tường Vi, Mùa Cuối, Biển Và Nhánh Hoa Lavande... Nhưng, ngọn gió định mệnh đã thổi tới, và chẳng bao lâu anh đã ra đi. Mãi mãi... Nhưng, chắc chắn, như tôi đã nói từ mới vào bài, là trà và tường vi sẽ ở hoài cùng người, vàø âm nhạc của anh... NGUYỄN XUÂN THIỆP
|
|
|