|
||
|
Ngày xưa ấy, thuở còn ở trần mặc quần xà lỏn, đầu hớt trọc lóc để đi tắm sông mẹ khỏi biết, Cu thường chỉ dám mơ ước có được cái bong bóng lợn. Đơn sơ vậy thôi, nhưng không phải lúc nào Cu cũng có được. Thường chỉ vào dịp Tết hoặc giỗ kỵ lớn, cả họ làm heo, thì Cu mới có chiếc bong bóng. Thường chú Nuôi giúp Cu việc này. Chú cạo rửa cái bong bóng thật sạch, đem hơ lửa, buộc lại rồi thổi lên cho Cu. Chiếc bong bóng trông xấu xí thế nhưng đối với Cu là cả một niềm vui lớn. Nó theo Cu ra ngoài cánh đồng, vào những trận banh trên đất ruộng khô nẻ, còn gốc rạ, trong tiếng reo hò tở mở. Nhưng rồi, nó xẹp xuống như niềm vui của Cu. Cho dẫu cả bọn thay nhau cong đít thổi, nó cũng không phồng lên lại. Thế còn những quả bóng màu? Thật sự, thuở đó, Cu chưa hề dám mơ tới. Những quả bóng màu hình như chỉ có ở một thế giới khác, không phải thế giới gồm những ngôi nhà ngói cổ và vườn tược, bến sông như Vương Phủ của Cu. Thế mà Cu cũng có được một quả bóng màu kia đấy. Chuyện đơn giản thôi: Anh Từ, làm nghề hớt tóc trên phố, để thưởng công cho Cu đã trao bức thư tình của anh cho chị Thoa, một hôm mua về cho Cu một quả bóng màu đỏ. Cu sướng điên. Bên kia bờ dậu hoa ngâu là nhà con bé Thỏ. Không hiểu sao nhà gọi nó lá Thỏ, mà nó trông hiền như Thỏ thật. Mắt nó màu hạt dẻ, long lanh. Cu thương Thỏ lắm. Có được quả bóng màu, Cu bèn sang rủ Thỏ chạy chơi cùng xóm. Lũ nhóc lem luốc nhìn theo, thèm chảy nước miếng. Đêm về, Cu ôm bong bóng ngủ, mơ thấy cùng Thỏ bay lên theo bóng. Mơ thấy hai đứa mãi ở bên nhau, cùng cha mẹ và các anh các chị. Nhưng rồi, như mọi thứ dễ vỡ ở đời, quả bóng màu đỏ một hôm bay lên, rồi bất thình lình nổ tung. Chỉ còn một giúm bèo nhèo rớt xuống. Cả Cu và Thỏ đều khóc. Cu và Thỏ từ đó cũng xa nhau. Sau này, mỗi lúc nhớ lại quả bóng màu đỏ thời ấu thơ, Cu muốn kêu lên: Những ước mơ về đâu, Thỏ về đâu? Nói với các chú ve nhỏ Buổi trưa. Đầy nắng. Những cây hải đào nở đỏ. Tôi buông bút, bước ra khu lùm cây cạnh con suối cạn lòng, phía sau tòa soạn. Hồn tôi không tĩnh lặng mà say lảo đảo như biển chập chờn. Chợt tôi nghe tiếng ve ran trong bóng mát khu lùm cây. Tiếng ve? Có thật không? Ở xứ này mà cũng có ve sao? Tôi vẫn biết trong từ điển có tiếng cicada chỉ con ve. Nhưng có tiếng không có nghĩa là có trong hiện thực chung quanh. Từ lotus, hoa sen, cũng có trong sách vở đấy, nhưng mắt tôi chưa từng nhìn thấy cây bông sen mọc trên nước Mỹ. Tiếng ve mùa hạ. Đây rồi hồn ta. Một hôm có nắng bỗng nhớ tiếng hát em, hỡi chú ve nhỏ. Nắng bâng khuâng hoài...* Tôi nhớ lắm chứ. Thảo nào, hồi nãy nhìn thấy màu nắng và hoa trúc đào, à không, hoa hải đào màu đỏ, tôi bỗng thấy nhớ một cái gì đó mà chưa định tiếng, định hình được. Thì ra là tiếng ve và màu hoa phượng. Những thực thể tầm thường như vậy trong đời sống mà tôi và bạn và em đã vĩnh viễn mất đi. Muốn lại được nghe thấy, nhìn thấy nó, ta phải vượt trùng dương, băng qua nhiều ngàn dặm trở về. Có hy vọng nào làm được như thế không? Cho nên, buổi trưa nghe tiếng ve, dù không bừng cháy da diết như tiếng ve trong những vườn nhãn ấu thời ở Huế, trên những hàng cây bên trường Lê Ngọc Hân ngày nọ hay trong công viên Tao Đàn Sài Gòn, nhưng thứ tiếng đầy âm vang đó đủ khiến tôi bồi hồi suốt một buổi. Thật là nhảm, đại nhảm. Nhưng biết làm sao. Rằng quen mất nết đi rồi... Trong nỗi xúc động ấy, buổi chiều, tôi báo tin vui cho người, rằng tôi vừa nghe tiếng ve kêu trong bóng mát lùm cây ở Dallas. Tiếng ve. Có lần, tôi đã viết về tiếng ve ở những khu vườn rợp nắng buổi đầu đời. Nó vang dậy, như một dàn đại hợp xướng, chỗ này vừa lặng tiếng, chỗ khác đã rộ lên, cứ thế không dứt. Và Trần Dạ Từ đã viết như thế này, hơn bốn mươi năm về trước, khi cùng bà Trần Thy Nhã Ca ngồi trong một khu vườn chùa tĩnh lặng ở Huế: Lần đầu ta ghé môi hôn, Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang... Cái ông Trần Dạ Từ này sao tỉnh đến thế? Ông hôn người yêu mà còn nghe được tiếng những con ve nhỏ kêu thì thật là siêu. Lúc đó chỉ có mê đi mà thôi, cho dù triều biển tím có dậy ầm ầm chung quanh. Nói đến biển và ve, lại nhớ câu thơ tuyệt vời của Tô Thùy Yên: Ve kêu như biển lâng lâng dậy, Xô giạt hồn ta mộng chập chờn... Hỡi các chú ve nhỏ... Tôi yêu các chú biết bao. Vậy mà thuở ấu niên bé xíu, tôi đã có lần phạm lỗi đối với chú. Thật là ngu xuẩn. Chuyện như thế này: Hồi đó, cũng mùa hè nắng cháy vàng hoe tóc khét da, tôi theo mấy đứa bạn rắn mắt, đi chơi khắp làng khắp xóm. Nghe tiếng ve kêu ran đầu cành, một thằng hỏi: tụi bây có muốn bắt ve không? Rồi cả lũ kéo nhau đi chặt ống tre và mấy cành trúc. Tôi được phân công trèo lên cây bông sứ, chặt đọt cho chất mủ trắng chảy ra rồi hứng vào ống tre nhỏ. Một thằng khác có phận sự đem ống tre ấy nung vào lửa cho cháy khét lên. Mủ bông sứ đổi ra màu sô la, biến thành một thứ nhựa thơm, rất dính, đem bôi vào đầu ngọn trúc để bắt ve thì hết sẩy. Chú ve nhỏ đang hồn nhiên ca hát trên cành nhãn thì bỗng dính nhựa ở đầu ngọn trúc, hết đập được cánh để bay đi. Chú không hát nữa, mà vùng vẫy cố thoát khỏi lòng bàn tay tôi. Tất nhiên rồi tôi cũng thả chú ra, sau khi đã chùi chất nhựa dính trên đôi cánh mỏng manh. Chú ve bay lên, loạng quạng trong nắng, rồi lẩn vào cây lá. Không biết chú sẽ bay xa đến đâu, qua được mùa hè không? Chú ve của tôi ơi, tôi viết những dòng này cũng là để tạ tội với chú cũng như với ấu thơ tôi. Tôi biết tôi có nhiều lỗi lầm với chú cũng như với chú cu cườm trong vườn cây Vương Phủ ngày nọ. Tuổi nhỏ u mê và nghịch ngợm, khiến tôi nghĩ lại mà chẳng an tâm chút nào. Thật lòng thì tôi yêu các chú ve nhỏ lắm lắm. Các chú là những nghệ sĩ giữa cõi đời bụi bặm này. Kẻ nào ghét chú, hay không yêu chú, thì đúng là kẻ đáng thương. Cho nên tôi chẳng ưa bài ngụ ngôn Con Ve Và Con Kiến của ông La Fontaine chút nào. Ông này, gọi là khôn thì cũng khôn đấy, nhưng thực dụng một cách thô thiển. Tôi chẳng thể nào yêu được những con người thực dụng kiểu như thế. Nghĩ cho cùng, những ông thi sĩ nhạc sĩ chúng tôi cũng là đồng hội đồng thuyền với các chú ve mà thôi. Chú ca hát suốt một mùa hè. Cho hoa lá, cho đất trời, cho tuổi nhỏ rong chơi, và cho những đôi lứa hôn nhau dưới bóng cây mùa hạ nọ. Chú không mang đến cho lời ca buổi tôi còn nhỏ nhít ấy một nét ưu phiền nào cả, cũng như chú đã không mang đến cho tình yêu của thời thanh xuân con người một giọt lệ buồn nào. Lệ chỉ rỏ sau đó khi cuộc đời chia cách... et la vie nous sépare... Xin các chú ve hãy cứ ca hát trong những mùa hè ở đất nước tôi. Dù xa dưới ngàn mây trắng, khi nhìn về ấu thơ, tôi vẫn thấy vô cùng thân thiết với các chú, và hết lòng tạ lỗi cũng như biết ơn. Bởi không có các chú, tuổi thơ tôi mất đi vẻ đẹp, vẻ sáng. Cũng như không có các thi sĩ, nhạc sĩ thì trái đất này sẽ trần trụi và khô khan biết mấy. Nó sẽ không còn là quả cam màu xanh, nơi cư ngụ bình an của con người.n *Lời nhạc Trần Tiến Mộng hái sen Ấu thời của tôi, gắn liền với bông sen. Tắm ở ao sen đầu làng. Những bông sen mẹ mua về cắm trên bàn thờ, hương thơm thoang thoảng khắp căn nhà lợp tranh. Có một lần tôi được cùng với chị Thoa bơi chiếc thuyền thúng hái sen trên hồ Thủy Ngữ lúc trăng chiều vừa mới lên. Gió nhẹ thổi lá sen rào rạt. Hai chị em vừa bơi thuyền vừa cười giỡn vô tư. Rồi chị Thoa đi lấy chồng làm tôi nhiều buổi nghẹn ngào nhớ chị. Và trí óc mông lung của tôi còn bóng bài thơ Hái Sen bằng tiếng Pháp của ai đó, hình như cũng kể chuyện ngày xưa được cùng chị hái sen trong đầm nước xanh. Kỷ niệm với chị, nhất là chị họ, bao giờ mà chẳng đẹp và long lanh ngấn lệ. Ôi tình xưa như nhãn và sen, Dẫu tình phai khi chưa kịp hẹn... Huế là nơi trồng rất nhiều sen. Sen dưới hào nước chung quanh tường thành. Lê Văn Ngăn kể nhiều đêm thanh vắng, đi qua cầu vào cổ thành, chợt nghe một tiếng soạt dưới đầm, nhìn xuống thấy một bông sen nở trắng. Tôi nghĩ chắc ông thi sĩ tưởng tượng thêm vì Ngăn nổi tiếng là nhà thơ duy cảm. Và hồ Tịnh Tâm, nơi sen nở có người chờ đợi trước. Hạt sen hồ Tịnh Tâm là thứ quý như vàng, Thỏ nấu chè cho Cu ăn một mùa hè bãi trường về thăm nhà ở Vương Phủ, em còn nhớ hay em đã quên, hay là cũng do tôi tưởng tượng mà thôi... Và em có biết, Sen xa hồ sen khô hồ cạn, Lựu xa đào lựu ngả đào nghiêng... Còn anh xa em thì sao, ở hai bên bờ Tây và bờ Đông, có nhánh hoa Lavande nào tàn úa không, hay chẳng có gì cả, dửng dưng như không, vì đời đã quen với những lúc xa nhau?* Sang Mỹ, nhiều lúc thấy nhớ bông sen và lá sen. Nhớ lạ lùng. Bông như môi và lá như tay. Nhưng tìm đâu thấy? Vừa mới đây thôi, trong lúc trò chuyện với những chú ve nhỏ, kẻ viết những dòng vẩn vơ này có nói tới hoa sen. Đó chỉ là một liên tưởng, và hắn có nói là mắt chưa từng được thấy cây bông sen ở xứ này. Lời ấy đã không còn đúng nữa rồi: Trong chuyến đi đọc thơ ở Florida vừa qua, mắt hắn đã được thấy cả một hồ sen nở ngát. Hồ sen của Trần Đệ. Thật là tuyệt vời. Anh bạn văn Trần Đệ - quê ở Mỹ Tho nơi hắn đã có một thời để sống và... - anh Đệ đã chống thuyền đưa hắn ra giữa hồ hái những bông sen trắng, sen hồng. Và trong một thoáng ngắn ngủi, hắn nghĩ đến cô bé Kiến An trong phim Ba Mùa - em đã có xem phim này, chắc em còn nhớ- cô bé nửa đêm bơi thuyền trên hồ sen bát ngát đến thăm nhà thơ bất hạnh. Cái ánh lửa từ những ngọn đèn rơi trên nước, những vùng lá và bông sen xô giạt dưới nhịp chèo, mái tóc dài bay trong gió tối... những ảnh bóng đó còn đọng trong tâm trí hắn cho tới phút giây này. Giờ đây, hái sen đối với hắn không còn là một giấc mộng nữa. Dẫu chẳng được như Lý Bạch “đọc nát vạn cuốn sách” nhưng hắn cũng là gã lãng du, mê sách mê tranh, từng đi hết vạn dặm đường. Cô gái Hàng Châu thấy Lý Bạch chèo thuyền tới thì núp bóng vào vùng lá và bông sen, nhưng cô gái Phượng thành trên trang văn của hắn thì “từ dưới vùng nước xanh ao sen mùa hạ bước lên, hai tay ôm đầy bông sen đỏ, tóc và quần áo đẫm nước dán vào da thịt”... Thế thì Lý Bạch, và cả Vương Xương Linh, Bạch Cư Dị... chắc gì có diễm phúc hơn gã thơ lãng du kiết xác, bụi bặm này. Có lẽ hắn chỉ thua Nguyễn Du, không được cùng người đẹp Tây Hồ chèo thuyền con đi hái sen thôi. Nhưng biết đâu, ở kiếp sau... Chúng ta cùng hẹn nhé? *Lời nhạc Trịnh Công Sơn Tuyết phủ. và quán cà phê Văn đang ngồi trong quán cà phê Le Moulin Rouge ở phố M. Uống cà phê Pháp và ngắm sông Seine sương mù trong tấm ảnh lớn treo trên tường. Ngồi ở Le Moulim Rouge và mơ mộng. Tưởng tới ai đó và câu hát mở đầu ca khúc Le Moulim Rouge ngày nọ ở Sài Gòn phượng đỏ. Moulin des amours... Rồi Văn tự hỏi đời mình đã ngồi ở bao nhiêu quán cà phê như thế này. Năm ta hai mươi tuổi /một điếu thuốc cháy tàn trong góc quán/ những sợi mưa thầm rơi trên mặt sông... * Khởi đầu là cà phê Phấn và Lạc Sơn bên bờ Hương Giang. Rồi quán Chùa, Hoàng Gia, Thái Chi, Hân... Sài Gòn. Tùng ở Đà Lạt... Rồi đâu nữa, làm sao nhớ hết. Và bây giờ Le Moulin Rouge trên phố M. một buổi sáng tưởng như sương mù ở sông Seine bay về ướt áo thơ... Ôi những quán cà phê... Sở dĩ Văn yêu những quán cà phê của Sài Gòn, Đà Lạt hay Virginia... , một phần là vì ảnh hưởng của sách vở. Hồi còn đi học và tập tễnh làm thơ, Văn đọc ở đâu đó về những quán cà phê ở Paris, nơi gặp gỡ của các nhà văn nhà thơ, hoạ sĩ Pháp và thế giới, qua nhiều lớp đổi dời, dưới bóng những thế kỷ mây trôi... Ở đó có thơ, có trí tuệ và những cuộc đời như gió lãng du. Gần đây, trong một đêm lạnh cóng, tuyết xuống đầy trời trên thành Oklahoma, nghĩ đến người vừa chợt hiện sau gần bốn mươi năm mịt mờ tăm cá bóng chim, Văn đã viết: Tuyết rơi phủ ngôi nhà trong khu vườn chó sói
Rõ ràng ngôi nhà tuyết phủ ấy là ngôi nhà trong phim Docteur Zhivago, chờ đến mùa xuân hoa vàng sẽ nở rộ. Văn lại tưởng tượng thấy hai người bước lên ngưỡng cửa một quán cà phê, đứng rũ những bông tuyết bám trên tóc, trên áo, và ai cười đỏ ửng đôi má. Anh và người sẽ ngồi ở một cái bàn nhỏ trong góc, có ngọn đèn tỏa sáng mờ ảo, trên bàn có bình pha lê cắm mấy bông oeillets. Và gì nữa... Trong hương cà phê tỏa ngát, hai người sẽ thấy lại thành phố Sài Gòn đầy nắng, rực rỡ như một đóa quỳ vàng, sẽ thấy ... Chớp mắt, Văn nhủ thầm: Ảo ảnh. Chỉ là ảo ảnh *Thơ Lê Văn Ngăn Thơ tường vi Suýt nữa thì Văn quên mình đang viết bài cho một số báo Xuân. Vậy không thể viết nam tào bắc đẩu mà không nói gì đến mùa xuân du phương thảo địa.Trước mắt là thế kỷ 21 và thiên niên kỷ mới. Một điều đã khiến bạn của Văn - Tô Thùy Yên - thắc mắc và đưa ra những luận điểm rất trí thức để biện giải - đó là thơ còn không trong ngàn năm tới. Hay rồi nó chỉ có đời sống trong các viện sách cổ, dành cho những linh hồn chết? Với văn, đơn giản lắm: thơ cũng như hoa của mặt đất. Chắc chắn, hoa vẫn nở dù là cho ai, như tường vi chẳng hạn vẫn nở mỗi sáng mai - bây giờ hay mai sau cũng vậy. Lúc đó, những thứ phù hoa sẽ đều tắt thở. Còn tường vi, một vẻ đẹp sáng của đất trời và tâm hồn. Và còn tường vi là còn trà và còn thơ, ở thiên niên kỷ mới. Lục lại bản thảo cũ, Văn vui mừng vì còn Thơ Tường Vi, vậy xin hái tặng người, ở ngưỡng cửa năm 2000: NGUYỄN XUÂN THIỆP
|
|
|