|
||
|
Với bốn mươi tác phẩm đă ra mắt của bà, người viết không c̣n có thể giới thiệu Nhă Ca với độc giả, một việc mà nhà thơ Nguyên Sa đă so sánh là “đẩy ra một cánh cửa đă mở lớn.” Ở đây, người viết chỉ tŕnh bày một vài cảm xúc riêng của ḿnh, khi đọc Hồi Kư Nhă Ca. Vào chương một, ở hàng đầu tiên là h́nh ảnh của khóm cúc vàng trước thềm nhà bị bánh xe nghiến nát. Cuộc tổng truy lùng văn nghệ sĩ tự do tại Sài G̣n - chiến dịch “thanh toán bọn văn nghệ sĩ phản động” theo ngôn ngữ Việt cộng - đă khởi sự vào ngày mùng 3 tháng Tư năm 1976. Nhă Ca cùng chồng là Trần Dạ Từ lập tức được chiếu cố. H́nh ảnh đầu tiên của bà khi bị c̣ng đi là khóm cúc vàng bị bánh xe cán nát giữa trưa. Mười mấy năm sau, Nhă Ca vẫn c̣n nhớ, và nhắc lại hai lần. Người đọc có thể không nhớ hết tên những đứa conthơ dại của bà, Sớm Mai, Phương Đông, Hoà B́nh, Vành Khuyên, Sông Văn hay Hưng Chấn... nhưng không thể không nhớ khung cảnh bụi mù của buổi trưa kinh hoàng đó. Và cảm giác nhờn nhờn đến lợm giọng khi bàn tay xương xẩu tỉ mỉ của chị công an sờ nắn khám xét nhà văn nữ của chúng ta.... Không phải tay người. Mềm. Nhám. Vuốt. Quấn. Xiết. Cào vào da đầu. Một con rắn. Không phải, vẫn chỉ là bàn tay người: v́ bàn tay biết hươi ngay cái kẹp ba lá của tù nhân, bỏ gọn vào túi. Con rắn không biết ăn cắp. Khác với công an nhà nước ta ở chỗ đó, và chỉ chỗ đó thôi. Đọc Hồi Kư Nhă Ca, người ta đi vào một gian hàng triển lăm của quỷ. Không. Một gian hàng vẫn c̣n quá nhỏ, một khu, một vùng, một cơi âm dưới ánh mặt trời mới đúng. Trong đó, con người chỉ là chất liệu cho phương án xây dựng một xă hội đảo ngược. Qua gian hàng triển lăm này, người đọc không chỉ gặp những khuôn mặt đă làm nên văn học miền Nam trong hơn hai chục năm, mà c̣n thấy số phận điêu linh của hàng trăm hàng ngàn người “vô can” khác. “Vô can” là những người dân b́nh thường, không thuộc diện văn nghệ sĩ hay trí thức bị Việt cộng tróc nă và đàn áp theo chánh sách. Thành thử, trong cảnh đổi đời này, chẳng ai là vô can. Là người th́ người nào cũng có tội, được minh danh hẳn hoi và nhốt vào tù kỹ lưỡng, hay lang thang ở bên ngoài, trong cái nhà tù lớn là quê hương ḿnh như Nhă Ca gọi khi được thả ra. Vô can thế nào, lũ con thơ dại của Nhă Ca. Đứa lớn, mới mười ba, cái tuổi của một bài hát dễ thương. Đứa nhỏ đang chập chững tập đi. Vừa bập bẹ tiếng “Ba” đă học nói tiếng “Tù”. Vô can thế nào được, nên cha mẹ vừa bị bắt, chúng liền bị đuổi khỏi nhà. Vô can thế nào,đứa con của Chu Vị Thủy và Đằng Giao, cháu ngoại của nhà văn Chu Tử. Mới sơ sinh c̣n đỏ hỏn, Cu Red đă vào tù cùng me.. Vô can thế nào, linh mục Trần Hữu Thanh, lănh đạo phong trào chống tham nhũng trong Nam ít tháng trước, nay cũng lănh c̣ng, chân bị tê liệt. Vô can thế nào, Ḥa thượng Thích Trí Thủ, như cây bồ đề trong Chùa Già Lam, mười năm sau rồi cũng bị chiếu cố, và viên tịch trong hoàn cảnh rất mờ ám, mà có lẽ cũng rất lô gích, theo cái lô gích của Ma vương.... Nhưng, viết về thời kỳ hoàng kim của “Cộng Hoà Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” - thời mạt vận của dân tộc - th́ hầu như tác phẩm văn chương nào, trong mười lăm năm vừa qua, từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, tùy bút hay hồi kư trong và ngoài tù... cũng đều có đầy ắp những chứng liệu cho một bản án về tội ác của chế độ cộng sản tại nước ta đối với đồng bào và nhân loa.i. V́ vậy, người viết sẽ không nói nhiều về những cảnh lầm than khốn khổ của gia đ́nh tác giả: một chục người chui rúc về căn phố nhỏ trên đường Tự Do và bị trận “đánh tư sản mại bản” cuốn phăng xuống tỉnh, trong khi bản thân Nhă Ca th́ lang thang chạy trốn trong thành phố, và chẳng c̣n ai thăm nuôi Trần Dạ Từ ở trên rừng. Người viết cũng không nói nhiều về chánh sách quái ác của chế độ đối với các văn nghệ sĩ. Hay cảnh điêu linh của người dân, chánh sách trả thù đê tiện của Việt cộng đối với con em của “Ngụy”. Hay cảnh vượt biên chụclần của cô bé Sớm Mai, ngồi tù cả năm trời, chuyện Phương Đông vượt biên đường bộ qua tới Căm-pu-chia. Hay tư cách đạo tặc của những kẻ trương bảng giải phóng đi cướp nhà hôi của giữa ban ngày.... Không nói tới, v́ biết là mỗi độc giả sẽ suy nghiệm và đối chiếu với những cảnh đă thấy, những chuyện đă nghe, để tin chắc rằng địa ngục có thật. Không nói tới, nhưng biết là từng trang sách của Nhă Ca sẽ c̣n làm người đọc chưng hửng và phẫn nô.. Người ta khó tin là trên quê hương ḿnh, người với người lại đối xử như vâ.y. Nhưng, Hồi Kư Nhă Ca không là một bản án của chế độ cộng sản. Tác phẩm thứ 41 của bà cũng không chỉ là cái mặt trái sô gai của cái gấm hoa giả trá cộng sản. Người viết không nghĩ là Nhă Ca đă cầm bút trong mục tiêu thanh toán nợ nần với những người đă gieo bao tai họa cho quê hương và bản thân hay gia đ́nh, hay bạn hữu của bà. Bà viết trước hết cho các bạn c̣n ở la.i. Mỗi lần vào thăm tù thăm chồng, Nhă Ca đều được Trần Dạ Từ nhắc nhở: “B́nh tĩnh. Tin tưởng. Thở cho đều”. Gặp nhau là họ hỏi han về t́nh h́nh bạn hữu. Ra tù trước, Nhă Ca là người chứa chấp Mai Thảo khi ông c̣n lẩn trốn tại Sài G̣n. Theo lời khuyên của Từ. Bà cũng là người giúp Mai Thảo t́m đường dây vượt biển, trong khi chính ḿnh bị một bạn cũ cự tuyệt không dám chứa lúc bị đuổi khỏi nhà đi kinh tế mới. Trong Hồi Kư Nhă Ca, bạn hữu của Từ và Nhă chiếm một vị trí đặc biệt. Nhờ vậy mà chúng ta có biết nhiều về cảnh địa ngục th́ sẽ biết nhiều hơn về những người đă tạo nên không khí sinh hoạt văn học của miền Nam trước 1975. Và nhất là sau đó. Những chân dung của Nguyễn Gia Trí - khẳng khiu như một thiền sư - của Doăn Quốc Sỹ gầy g̣ mà tươi tỉnh, nhanh nhẹn - của Nguyễn Khánh Giư - to lớn dềnh dàng, mắt muốn lồi khỏi kính, với cḥm râu khiêu khích -Nguyễn Sỹ Tế - chững chạc áo sơ mi trắng ngay giữa rừng - được Nhă Ca ghi khắc căn kẽ. Y như qua khe cửa nhà tù, mặt trời lấp lánh như sợi chỉ. Chúng ta sẽ bật cười về thái độ sống thật đáng yêu của NguyễnĐức Sơn, Nguyễn Trung. Chúng ta không quên được tiếng cười sảng khoái của Hoàng Anh Tuấn, tà áo dài lạc lơng của Nguyễn Thị Hoàng, ngày bà cố t́nh trang điểm thật đẹp, đạp xe đi chào Từ và Nhă trước khi họ ra đi. Chúng ta gặp Trần Lê Nguyễn bán đồ cổ ngoài chợ trời, MinhĐăng Khánh bị liệt trong tù, được thả, lê xe lăn đi thăm bạn bè, miệng cười móm mém. Tú Kếu, Nguyễn Thụy Long trốn chui trốn lủi ngoài đường ngoài chơ.. Người đọc sẽ nhớ Thảo Trường, đóng vai “tướng cướp Mây Tào” chặn đường chào hỏi Nhă Ca khi chỉ là anh tù khổ sai xách rựa đi đốn tre trên rừng, cũng như h́nh ảnh c̣m cơi của Trần Việt Sơn, những buổi trưa nắng lội bộ đi chia quà củacác bạn gửi về cho bằng hữu. Ông nói câu than thở, nhưng vẫn với nụ cười b́nh dị, trung hâ.u. Nụ cười ấm áp của Trần Việt Sơn, Nhă Cakhông quên được, và người đọc cũng không thể được quên. Ông đă mất. Như thầy Trí Thủ, như Nguyễn Mạnh Côn, như Hồ Hữu Tường,như Minh Đăng Khánh, như Hoàng Vĩnh Lộc, như Nguyễn Hoạt.... Người viết thú thật đă thấy ḿnh ứa nước mắt khi đọc đoạn hồikư Nhă Ca về nhà văn Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Ông bị tù tháng Năm, năm 1985, cùng khoảng thời gian với Ḥa thượng Trí Thủ. Và chết tại Chí Ḥa. Theo lời dặn, con rể ông đă hỏa táng thi thể và bưng cốt tro đi chào một vài người bạn thân quư của ông, trước khi rải xuống sông Sài G̣n. Bạn bè khi đó có c̣n ai, người đă đi trước, kẻ c̣n ở tù. Chỉ c̣n Nhă Ca lang thang trong thành phố. Có ai tưởng tưởng ra một đám táng như vậy không? Sau phút bàng hoàng, bà thất thểu chạy ra bờ sông nắng chói chang. Phải nh́n thấy ḍng nước. Khi cả nước gặp nạn, các bạn văn lần lượt bị tù, chỉ riêng ḿnh Hiếu Chân được yên. H́nh như do một món nợ ân t́nh vài chục nămvề trước với một người lănh đạo chế độ mới. Ông không được yên ḷng trong cái thế được yên đó. Cuối cùng, tác giả của Tỵ Bái, ng̣ibút sâu sắc thâm trầm của mục Nói Hay Đừng trên nhật báo Tự Do thập niên 60, cũng được thỏa ḷng. Vào tù và chết thảm. Nhiều bạn văn khác của Hiếu Chân, bị tù, có phân vân về cái nỗi được yên của ông, cho tới ngày ông mất mới tấm tức ân hận về nỗi phân vân của ḿnh. Phải nói là vào thời đó, hắc bạch quả khó phân minh. Và bạn hữu của Nhă Ca lại thuộc đủ thành phần, bất đồng chính kiến với nhau cũng có - người khuynh tả người chống cô.ng- bất đồng sở thích với nhau cũng có - kẻ mê rượu người yêu kinh - và yếu đuối hay can trường trước bạo lực cũng có... nhưng đối với ai, Nhă Ca cũng vẫn một ḷng cư xử đâu ra đấy và giữ được ḥa khí với mọi người. Chỉ riêng đối với các “quan cách mạng”, mới hay cũ, thành danh hoặc vừa nổi, th́ rơ ràng là Nhă Ca có thái độ xử thế dứt khoát. Chừng mực nhưng dứt khoát. Những đoạn gặp gỡ Nguyễn Tuân -Trán cao. Hói kiểu cách. Miệng mỏng. Ăn nói duyên dáng có TrịnhCông Sơn, Sơn Nam, hay cuộc gặp gỡ với Nguyễn Đắc Xuân - tác giả Giải Khăn Sô Cho Huế gặp nhân vật của ḿnh, người ngồi xử những phiên ṭa chôn người trong trận Mậu Thân - là những đoạn lư thú nhất, sảng khoái nhất. Tội nghiệp cho ho.. Ngần ấy nhân vật, chẳng thấy ai hồ hởi cả! T́nh bạn trong Hồi Kư Nhă Ca mở rộng sang t́nh người. Phần thứ ba của quyển hồi kư hơn 500 trang, viết về kỷ niệm của tác giả với chùa Già Lam và thầy Trí Thủ là một cơi riêng, mang h́nh ảnh thấp thoáng của một vị bồ tát và làm người ta càng quư mến tâm hồncủa tác giả. Ở đây, người viết muốn nhắc đến những người bạn ngoài đời của Nhă Ca, không thuộc giới văn hữu của bà. Người ta nhớ không hết những câu chuyện thương tâm và cảm động bà ghi lại khi nói tới những người có khi chỉ mới quen, hoặc cũng chẳng quen, đă từng cưu mang cứu giúp một gia đ́nh khốn khổ gồm toàn người già, phụ nữ và trẻ thơ, là gia đ́nh Nhă Ca. Nhưng người viết khó quên Nguyễn Chánh Lư, cựu tổng giám đốc Kỹ Thương Ngân Hàng, một người bạn tận t́nh và chu đáo của gia đ́nh Từ và Nhă, cũng như không quên “công ty tiêu tùng”, những Lượm, Bảy, Cường... những thanh niên bụi đời đă tôn trọng một luật giang hồ rất người và rất đẹp ngay trong thời loạn. HayAndre và Stefan, hai người Đức ở hai nước Đông Tây, chưa bao giờ gặp nhau mà cùng chia xẻ một nỗi xót xa với gia cảnh áo le của tác giả và t́m đủ mọi cách giúp đỡ bà và bầy con dại. Chói lọi hơn cả, bên cạnh một Nhă Ca “biệt kích văn hóa” dữ như cọp cái khi phải xoè cánh che chở đàn con trước lũ công an hung ác, Hồi Kư Nhă Ca c̣n làm nổi bật khuôn mặt của một bà mẹ khác: bà Vũ, hiền thê của cố khoa trưởng trường luật Vũ Quốc Thông. Cuộc thăm nuôi những người tù trên vùng Gia Rai Công Tum, qua lời kể của Nhă Ca, có nét độc đáo của một cuộc hành quân. Bà Vũ là người chỉ huy tất cả, thật tươm tất, và đầy t́nh cảm ân cần với các tù nhân và các bà vợ đi thăm nuôi. Không hiểu sao, người viết luôn luôn có cảm nghĩ trong nhà của bà phải có một bàn thờ Phật, và chính khuôn mặtbà đẹp ẩn hiện như nét đôn hậu của đức Quán Thế Âm. H́nh ảnh và cách xử thế của bà - không khác ǵ bóng mát trên chùa Già Lam - và của những khuôn mặt nhân hậu khác đă khiến Hồi Kư Nhă Ca không thể là một bản án về tội ác con người. Khác với Sài G̣n Cười Một Ḿnh, tập hồi kư làm người đọc không tuyệt vo.ng. H́nh như t́nh người vẫn đưa đến phép la.. Và quả nhiên là t́nh thương đă nẩy nở ở những nơi bất ngờ nhất, vào những lúc bất ngờ nhất. Hoàn cảnh của Nhă Ca và Trần Dạ Từ khiến nhiều người ngoạiquốc xúc động. Nhà văn, nhà báo Thụy Điển đă biết đến trường hợpNhă Ca. Sau đó là sự can thiệp của chính quyền Thụy Điển. Cái chế độ Hà Nội đang cầm bát ăn xin đă phải nhả cho chính phủ ân nhân của họ những người họ đă đày đọa trong mười mấy năm. Vợ chồng Trần Dạ Từ và Nhă Ca cùng năm người con c̣n lạicuối cùng được phép đi Thụy Điển. Hồi Kư Nhă Ca viết về cảnh tiễn đưa cũng làm ta bồi hồi nhộn nhạo như lúc bà bị bắt vào tù ở chương đầu. Nhưng trong tiếng rộn ràng của một khúc happy ending, h́nh như vẫn xen lời nức nở. V́ ở đằng sau, cái nhà tù lớn kia vẫn c̣n đó. Sừng sững. Nhă Ca viết cho cái nhà tù đó, cho hơn sáu mươi triệu bạn tù c̣n lại của bà. NGUYỄN XUÂN NGHĨA * Nhă Ca: Hồi Kư Một Người Mất Ngày Tháng, Thương Yêu xuất bản, 1991 |
|
|