NHĂ CA CÁI VIẾT RA MỚI THỰC SỰ QUAN TRỌNG
Nguyễn Xuân Hoàng



Tôi không biết ḿnh đă đọc đi đọc lại bao nhiêu lần những trang sách trong Hồi Kư Một Người Mất Ngày Tháng của Nhă Ca. Những ḍng chữ khô, lạnh, bén, sắc và ngắn như nhát dao đâm xoáy vào trái tim. Như một cái buá nện xuống một bàn tay đang bám vào vách đá chờ được kéo lên. Những ḍng chữ “phẫn nộ” có thể làm những đôi mắt khô khốc phải ứa lệ.

“Suốt buổi chiều, tôi ngồi với giỏ thăm. Xếp vào. Xếp ra. Nh́n. Rờ rịt. Anh c̣n mê man. Anh chưa nh́n thấy món ăn con thơ này. Dọn lên. Mắt mũi các con. Dọn lên. Tim gan các con. Dọn lên. Nước mắt các con, nước mắt Mẹ…. Tôi nằm xuống lúc nào không hay. Lúc tỉnh được dậy sau cơn mê mệt, giỏ thăm nuôi đổ, mấy gói cá muối bị xé rách, tung toé. Nơi lỗ cầu tiêu, lại nó, con chuột. Cặp mắt nhỏ như hai hạt đậu, tinh quái, thập tḥ. Ngày mấy? Tháng mấy? C̣n hỏi làm ǵ nữa.” [1]

Nhân vật “anh” là thi sĩ Trần Dạ Từ và các con thơ của anh chị. Và khung cảnh là một pḥng kiên giam dành riêng cho một người. Điều ǵ đă khiến một Trần Thy Nhă Ca với “buồn như lá cây, hồn thơ dại, xanh xao tháng ngày, …” [2] phải viết ra những ḍng chữ trần trụi lạnh lùng đến như thế? Câu trả lời đă rơ. Nhưng viết được như thế không phải là tưởng tượng của một nhà văn, và không chỉ là kinh nghiệm của một người đă trải nghiệm những nỗi đau đó. Viết được như thế có nghĩa là đă phải sống như thế. Và hơn là như thế! Bởi v́, có bao nhiêu người đă từng sống như thế để có đượcmột Nhă Ca như thế? Đó cũng là một câu hỏi đă có câu trả lời.

Chị đă đi trên một con đường đầy gai nhọn, không tên gọi, không ngày tháng. Con đường máu và nước mắt. Con đường của một nỗi đau bị nén lại, một hạnh phúc bị chia cắt, bầm dập. Con đường mà ai đă đọc hồi kư của chị sẽ chảy nước mắt, nhưng chính những ḍng chữ của chị chỉ là sự lặng câm.

Phải là một người có ư chí mạnh mẽ mới có thể đứng vững được trước những sóng gió của cơn hồng thuỷ 30 tháng Tư, 1975 đổ ập xuống Sài G̣n. Mặc dù, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhiều người đă trụ được. Nhiều ngựi đă đứng dậy được. Nhưng từ một thiếu nữ lớn lên ở Huế, thành phố trang nghiêm và khắt khe, …. Trần Thị Thu Vân đă làm những bước nhảy vọt lớn: từ Huế cổ kính nhảy vào Sài G̣n phóng khoáng, rồi nổi tiếng với những bài thơ, nổi tiếng hơn với Đêm Nghe Tiếng Đại Bác, với Giải Khăn Sô Cho Huế và th́nh ĺnh bị đẩy rơi từ một thể chế này xuống một thể chế khác như lao từ đỉnh cao xuống vực thẳm của một nỗi đau ngất, rát nhức như muối xát trên những vết thương c̣n tươi rói. Chị là người đi trên một sợi giây xiếc giữa sống và chết, một bên là cái sống mong manh và một bên là cái chết lúc nào cũng giang tay chờ đợi. Tất cả những ǵ chị có đều bị tước đoạt, trần trụi, trơ trọi, bức rời. Sau nhà tù nhỏ sẽ là nhà tù lớn: Một người đàn bà với đàn con thơ dại và hai bàn tay trắng đứng giữa chợ đời.

Làm sao có thể viết được giữa một hoàn cảnh như thế? Phải đợi 16 năm sau, khi cả gia đ́nh chị ra khỏi Việt Nam, Hồi Kư Không Ngày Tháng của Nhă Ca mới ra đời. Đây không phải chỉ là một ghi chép lẫn lộn thời gian và kỷ niệm. Hồi Kư đó là một tiếng nói mạnh mẽ của con người trước một thế giới bị tan ră, một tiếng chuông cảnh tỉnh của một vũ trụ bị mê đắm trong u minh.

Bao lâu c̣n chiến tranh – bất cứ một cuộc chiến nhân danh chủ nghĩa nào – tiếng nói ấy cần phải được cất lên, tiếng chuông ấy cần phải được gióng lên, thông điệp ấy cần phải được lắng nghe.

Người đọc biết Trần Thy Nhă Ca với “Bài Nhă Ca Thứ Nhất”, mở đầu cho một ḍng thơ mới trong văn chương Việt Nam từ năm 1960. Nhưng thật ra trước đó, từ năm 1955, chị đă từng làm thơ học tṛ kư tên Thu Vân, đăng trên các tuần báo Văn Nghệ Học Sinh, Văn Nghệ Tiền Phong tại Saigon, chưa kể thơ thời bích báo tiểu học, trung học. Và trước đó nữa, từ năm 1954, khi mới 15 tuổi cô bé Thu Vân đă viết truyện dài đầu tiên có tựa là “Đường Một Chiều”. Đó là thời cuối trận chiến tranh Việt-Pháp. Chị nói: ‘Truyện được viết theo “đơn đặt hàng” của ông anh trong nhà, để đăng từng kỳ trong báo “Hồn Xuân”, tờ báo chép tay của một nhóm văn nghệ choai choai tại Nam Giao, Huế. C̣n nhớ, người chủ trương nhóm báo Hồn Xuân là anh Tôn Thất Chi, người vẽ b́a số báo đầu tiên là ông anh Trần Văn Lễ. Sau đó có hiệp định Geneve ngưng chiến, chia đôi đất nước, rồi di cư, tập kết. Báo Hồn Xuân chỉ mới “xuất bản” được ba số th́ đành tự “đ́nh bản”. Truyện dài đầu tay “Đường Một Chiều” vĩnh viễn dang dở.”

Giờ đây đọc lại thơ và truyện Nhă Ca của những năm Sáu Mươi, Sáu Mươi Tám, Nhă Ca của 1975 và môt Nhă Ca của 2005, người ta khám phá ra một khuôn mặt văn chương đă đi qua hạnh phúc và khổ đau, đi qua một t́nh yêu lớn, đi qua những thao thức và chờ đợi, đi qua những phút giây làm mẹ và trải nghiệm qua biết bao nỗi đau làm người.

Nhă Ca kể lại báo chữ in đầu tiên của chị sau khi đă làm báo tường báo chép tay là tờ “Văn Nghệ Học Sinh”, do nhà báo Giang Tân làm Tổng Thư Kư. Chủ nhiệm, chủ bút là ông Lê Bá Thảng, chánh văn pḥng của Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành.

Thơ, tuỳ bút, truyện ngắn kư tên Thu Vân được liên tiếp chọn đăng. Những “tác giả” có bài đăng trong tờ báo “văn nghệ họcsinh” này về sau thành bạn nhau. Khởi đầu có Lê Đ́nh Điểu (làm thơ t́nh với bút hiệu Y Dịch, viết khôi hài với bút hiệu Lê Ngông Nghênh), Nguyễn Thụy Long (viết truyện mộng mơ với bút hiệu Mặc Lan Giao). Tiếp theo, có Lê Tất Điều (viết truyện con nít thậtdễ thương với bút hiệu Ái Nhân); Dương Nghiễm Mậu (triết lư như một ông già với bút hiệu Hương Việt Hương); Đỗ Quí Toàn (làm thơ với bút hiệu Đỗ Quí), Viên Linh (thơ sáu chữ, thơ lục bát số một), Nguyễn Khắc Nhân (viết tuỳ bút giọng miền Trung với bút hiệu Thùy Nhân), Tô Tam Kiệt (thơ chiến đấu hùng dũng)... Th́nh ĺnh, vào khoảng 1956, bỗng thấy Điểu và Long giới thiệu cho chàng thi sĩ Hoài Nam, người sau này sẽ là Trần Dạ Từ ...

Trần Dạ Từ, t́nh yêu đầu tiên và sau cùng của chị. Chị nói: “Ừ, th́ đó, chuyện giản dị vậy thôi. Hai đứa quen nhau qua tờ Văn Nghệ Học Sinh, do Lê Đ́nh Điểu và Nguyễn Thụy Long giới thiệu. Tiếp theo, nhận cả ngàn bài thơ. Khác với các bạn viết văn làm thơ tài tử, Từ là “nhân vật toà soạn”, người trả lời hộp thư của toà báo. (Sau này mới biết, thật ra, thi sĩ chỉ là một anh nhóc bụi đời, các “văn hữu” nhóc t́ họp đại hội với ông chủ nhiệm yêu cầu cho chàng việc làm, nhờ đó chàng là “thầy c̣” sửa bài, kiêm biên tập viên duy nhất của tờ báo bên cạnh tổng thư kư Giang Tân). Bị cả ngàn bài thơ tấn công, cô bé 16 tuổi chịu không thấu. Sau hai năm viết thư, hai người trẻ tuổi gặp nhau lần đầu năm 1958.

Trong Hồi Kư, Nhă Ca kể chuyện, mùng một Tết chàng từ Sàig̣n ra Huế. Chị ngồi nghe tiếng ć̣ tàu. Đă biết trước nhưng vẫn giật ḿnh. Tàu hoả đang hú c̣i vào ga. Ghê quá, chị nghĩ, anh ta tới rồi đấy. Tàu từ Đà Nẵng ra đúng sáng mùng Một Tết. Chắc c̣n phải t́m đường, t́m nhà. Trước sau một giờ trưa, sẽ đi qua cổng. Bẩy giờ tối sẽ tới, sẽ gặp. Thư cuối năm, anh báo trước như vậy.

"Buổi trưa. Bao nhiêu người qua đường, biết ai là anh. Run quá. Coi tề, cái người nh́n ḿnh một cái rồi quay đi, bước nhanh hơn. Anh? Anh vậy há? Mỏng như tờ giấy. C̣n mặt mũi? Kịp thấy chi mô. Mới nghĩ chắc anh đó, mắt con bé đă hoa lên rồi. Nhát.”

Buổi tối, Trần Dạ Từ bước vào nhà. Chưa mời, anh đă ngồi, Nhă Ca viết trong Hồi Kư. Người cha vặn cái radio bóng đèn cổ lỗ đầy tiếng kêu rồ rồ. Ông anh lớn trong nhà nhăn mặt, bỏ sang pḥng bên. Chị ú ớ. “Những lá thư xuôi ngược cả năm Sàig̣n-Huế-Sàig̣n. Những bài thơ t́nh đầu. Anh ngồi đó ốm nhom.” Sáng mùng hai tết, khi gặp lại anh trong... khách sạn, trên bàn có bài thơ “Thủa Làm Thơ Yêu Em”, kư tên Trần Dạ Từ.

Thêm hai năm sau khi gặp nhau, chàng thi sĩ nhát như thỏ đế, vẫn không dám cầm tay người yêu. Vậy mà t́nh yêu của họ đă làm ồn thành phố Huế. Ồn đến nỗi, “nàng” phải đành bỏ chạy theo chàng. Vô tới Sài G̣n, một người bạn của Từ, Nguyễn Khắc Nhân, đứng tên ông anh, gửi chị vô nội trúù trường Đức Trí ở đường Vơ Tánh. Xong thời nội trú, Nhă Ca trở về Huế ở một năm để làm lành với gia đ́nh. Sau đó chị vào Sài G̣n, in thiệp cưới và năm 1962, sinh con đầu ḷng là Sớm Mai. Tiếp theo, thêm một loạt 5 đứa nữa. Cậu út là Hưng Chấn, cuối 1974. Hưng Chấn là tên do bố mẹ đỡ đầu của cháu là anh chị Cung Tiến đặt cho để lấy hên. Chị nói, nhưng hên đâu chả biết, chỉ thấy mấy tháng sau là miền Nam sập tiệm, hai vợ chồng đi tù.

Từ khi biết “chàng”, Nhă Ca bắt đầu viết nhiều hơn. Chàng không chỉ làm Văn Nghệ Học Sinh mà c̣n viết bài kiếm ăn ở các báo khác. Bài gửi cho chàng ở Văn Nghệ Học Sinh, bỗng th́nh ĺnh thấy xuất hiện trên mục “Mỗi Ngày Một Truyện” của nhật báo Ngôn Luận, rồi nhật báo Lẽ Sống, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong... vừa nhận báo vừa nhận cả nhuận bút. Biết mùi nhuận bút rồi, khó bỏ. Vậy là viết đêm viết ngày. Từ 1960, khi bỏ Huế vào Saigon với Trần Dạ Từ, bạn bè họp thành một bọn, mỗi tên tự chọn một bút hiệu chính thức và bắt đầu sống với nghề cầm bút. Từ 1960, 1961 ǵ đó, cùng lúc với việc Trần Dạ Từ làm nhật báo Dân Việt, các bạn của Từ -Nhă chủ trương tuần báo Ngàn Khơi, in ở nhà in Nguyễn Đ́nh Vượng, số 39 đường Phạm Ngũ Lăo. Năm 1963, ông Vượng ra báo “Văn”, yêu cầu chị góp bài. Năm 1964, bài viết cho Văn được in thành sách. Báo Văn và nhà xuất bản Nguyễn Đ́nh Vượng ấn hành truyện dài “Bóng Tối Thời Con Gái”. Nhà AnTiêm của Thanh Tuệ ấn hành tập truyện “Đêm Dậy Th́”. Sau đó là “Đêm Nghe Tiếng Đại Bác” và cứ thế đi tới...

Thế c̣n tập thơ “Nhă Ca Mới” và giải thưởng thi ca toàn quốc th́ sao? Chị nói thơ “Nhă Ca Mới” do “Ngôn Ngữ” xuất bản, cũng đầu năm 1964. Ngân khoản in thơ lẫn tên nhà xuất bản đều do anh Nguyên Sa. Cuối năm ấy, Nhă Ca được giải thi ca toàn quốc 1965. Tiền lănh giải dĩ nhiên không c̣n dấu vết. Huy hiệu giải thưởng là huy hiệu của nguyên thủ quốc gia nghe nói là bằng vàng – tương tự huy hiệu của Tổng Thống VNCH dành cho các giải thưởng về sau- chẳng nhớ đi đâu mất, có lẽ c̣n đâu đó trong... Sở Công An Thành Phố hoặc không chừng đă ra vỉa hè, bị nấu chẩy thành dăm ba “chỉ”, hay một hai “cây”...

Trong các bài viết về thơ Nhă Ca, từ Bùi Giáng, Vơ Phiến, Thi Vũ tới Huyền Không tức Hoà Thượng Măn Giác... thường nhắc tới bài thơ “Tiếng Chuông Thiên Mụ”. Vơ Phiến viết là trong lịch sử văn học Việt Nam chưa hề có tiếng chuông nào vang dội khác thường tới mức ấy. Hỏi chị tại sao? Chị bật mí: “ Bài thơ in lần đầu trên tuần báo Ngàn Khơi, đầu năm 1963. Đó là thời điểm vừa xẩy ravụ biểu t́nh đẫm máu tại Đài Phát Thanh Huế và Phật Giáo bị chính quyền đàn áp. Tuần báo Ngàn Khơi do bọn này chủ trương bàn nhau phải cùng nhau viết cái ǵ đó. Dự tính có Nguyên Sa, Nguyễn Mạnh Côn, Chu Tử, Đỗ Quí Toàn, Nguyễn Thụy Long, Tú Kếu, Nguyễn Hữu Đông, Trần Dạ Từ... mỗi người sẽ cùng viết nhiều ít ǵ đó. B́a offset do Đằng Giao tŕnh bầy in trước 4 số đă ghi sẵn tựa đề chung là “Tiếng Chuông Thiên Mụ”. Tới ngày ra báo, Nhất Linh tự tử, rồi sư săi bị bắt, Saigon giới nghiêm... Chỉ riêng bài thơ mang tên “Tiếng Chuông Thiên Mụ” được xuất hiện trên báo. C̣n nhớ trong bài thơ có câu “Thức dậy cùng tan vỡ, thức dậy cùng lịch sử” đă được các bạn trong “Sở Kiểm Duyệt” nhẹ tay cho qua... Mọi bài viết khác không qua khỏi lưỡi kéo kiểm duyệt, đành phổ biến cách khác.

Trần Dạ Từ và các bạn của anh làm báo “Lửa” đánh máy quay roneo bằng cái máy chữ của anh Nguyên Sa cho, cả bọn xúm nhau vào phát hành chui... Trong việc phổ biến số báo “Lửa” ở các đại học thời đó có cả các nhà văn Nguyễn Thị Vinh, Nhật Tiến. Sau đó, Trần Dạ Từ bị mật vụ nửa đêm bịt mắt dẫn đi mất tiêu, cả bọn trốn chui trốn nhủi... Đó cũng là lúc có bài “Thơ Sớm Mai”, sinh nhật năm đầu tiên của cháu.”

Trả lời câu hỏi hiện nay chị đang viết ǵ? Nhă Ca nói: “Truyện ngắn, đang lo viết cho báo tết. Truyện dài, đang sắp xếp, sửa chữa bộ “Đường Tự Do Saigon”. Truyện đă viết liên tục hơn 10 năm trên Việt Báo, mỗi ngày mỗi viết. Độc giả có ḷng hỏi. Có nhà xuất bản muốn trả tiền để in. Nh́n lại, đếm chữ thấy đă có tới hơn 10,000 trang sách. Truyện viết từng ngày, muốn thành sách, phải sửa chữa, sắp xếp lại. Cả năm nay, chỉ mới xong 640 trang cho cuốn 1, hiện đă đưa thử lên internet... Việc xuất bản trọn bộ, chắc c̣n phải mất thêm ngày tháng.

Về câu hỏi tác phẩm nào của chị được chị thích nhất, Nhă Ca trả lời có lẽ nhiều phần dành cho cuốn “Hồi Kư Một người Mất Ngày Tháng”. Đó là nói văn. C̣n trong ḷng, chị vẫn yêu và trân quí Thơ. Nhă Ca, tên tuổi ấy đă mang âm hưởng một bài thơ.

Nói về kỷ niệm mà chị nhớ hoài là thời kỳ trong nhà tù nhỏ và nhà tù lớn ở Việt Nam, Nhă Ca kể có lần được theo xe tù đi thăm nhà trưng bày tội ác Mỹ Ngụy ở trường Dược cũ tại Saigon, thấy sách của ḿnh và bạn hữu được bầy dưới danh nghĩa “tội ác Mỹ Ngụy”. Đặc biệt, cuốn “Giải Khăn Sô Cho Huế” được treo trang trọng. Đă đứng nghiêm cạnh Lê Xuyên, Hoàng Anh Tuấn, Trần Việt Sơn... chào kính tác phẩm của ḿnh và bạn hữu.

Hỏi chị đang đọc ǵ? Nhă Ca cho biết hiện chị đang đọc Milarepa, thơ và truyện kể về thi sĩ và thầy tăng lớn của Tây Tạng. C̣n tác giả ưa thích? Với chị đó là Thơ Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Mai Thảo, Trần Dạ Từ, Đỗ Quí Toàn, Viên Linh, Tú Kếu...

C̣n truyện? Chị nhắc đến Thảo Trường, Lê Tất Điều, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Thụy Long...

Với câu hỏi liệu có thể nói đến một nền văn học hải ngoại không, Nhă Ca cho rằng “Một nền văn học hải ngoại?” chắc chỉ là câu hỏi nhất thời hoặc tạm thời. Dăm ba chục năm, vài ba trăm năm, rồi sẽ qua đi. Những cái đáng c̣n sẽ c̣n lại. Yếu tố nơi sinh sống trong nước hay ngoài nước của tác giả bất quá chỉ là những ghi chú, không phải là yếu tố để tác phẩm văn chương tồn tại. Văn học hay văn chương Việt Nam là đủ. Người viết ở đâu cũng được, dù trong hay ngoài nước. Viết trong hay viết ngoài nhà tù chẵng phải là yếu tố quyết định giá trị. Cái viết ra mới thực sự quan trọng..

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

[1] Nhă Ca, Hồi Kư Một Người Mất Ngày Tháng, tr. 61. Nxb Thương Yêu, 1991.

[2] Bài Nhă Ca Thứ Nhất.



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home