TR̉ CHUYỆN VỚI TÁC GIẢ
Daughters of the River Huong
Nguyễn Xuân Hoàng





Có lẽ người đọc Việt hải ngoại không xa lạ ǵ với tác giả Dương Như Nguyện qua những truyện ngắn của cô trên các tạp chí văn học tại Hoa Kỳ những năm 90. Năm 1999 nhà xuất bản Văn Nghệ [California] ấn hành cuốn Mùi Hương Quế của cô, và năm nay, 2005, Dương Như Nguyện cùng lúc vừa cho phát hành cuốn Chín Chữ Của Nàng [nxb Văn Mới, California], đồng thời với cuốn Daughters of the River Huong -a Vietnamese royal concubine and her descendants, Uyen Nicole Duong (Dương Như Nguyện). Bià do Tom Suzuki tŕnh bày, RavensYard xuấtbản, sách dày 271 pages, SRP $17.95. Địa chỉ: RavensYard Publishing, Ltd. P.O. Box 176, Oakton, VA 22123 USA, www.ravensyard.com


Lâu lắm, dễ chừng 15 năm nay, tôi không gặp Dương Như Nguyện. Tôi nhớ khoảng năm 89, 90 ǵ đó tạp chí Văn Học của Nguyễn Mộng Giác đăng truyện Những Cỗ Quan Tài của Tịnh Tâm của một tác giả lần đầu tiên mà tôi được đọc: Dương Như Nguyện, và lập tức truyện của cô gây trong tôi một xúc động mạnh. Sao có thể có người viết nồng nàn đến thế. Không khí trong truyện tưởng là thư thả mà dồn dập, lạnh lùng mà nóng bỏng, và đẩy người đọc phải chạy theo tác giả mệt nghỉ. Như trong âm nhạc, có những dấu lặng, bỗng nhiên người đọc không thấy truyện của cô xuất hiện trên các tạp chí văn học Việt ngữ nữa. Cho đến năm 1999, người ta bỗng thấy trên kệ các nhà sách cuốn Mùi Hương Quế của cô. Dương Như Nguyện đă trở lại. Và sau đó là một khoảng lặng nữa. Sáu năm sau, 2005, các nhà xuất bản đồng lúc in hai tác phẩm của cô: Chín Chữ Của Nàng [Văn Mới] và Daugters of the River Huong [DORH] [RavensYard]. Đó chưa kể cũng trong năm nay cô sẽ cho in tiếp liền Con Gái của Sông Hương bản dịch Việt ngữ của Linh Chấn Brown.

Dương Như Nguyện cho biết cuốn DORH là một tiểu thuyết viết ở ngôi thứ nhất theo thể “ memoir” (hồi kư). Và cô nhấn mạnh, “ v́ đây là tiểu thuyết- hồi kư có nghĩa là hồi kư của nhân vật, chứ không phải hồi kư của tôi.” Cô không muốn người đọc ngộ nhận giữa tác giả và nhân vật.

Ơ bià lưng cuốn sách, dưới ḍng tít: Love & War /T́nh Yêu & Chiến Tranh, người ta đọc được câu : “Truyện t́nh giữa André và Simone Mỵ Uyên tượng trưng cho cái chết của đặc tính lăng mạn của nền văn hoá Pháp ở thuộc địa, cộng thêm sự mở cửa của một nước Việt Nam bị tàn phá v́ chiến tranh, phải đón trào lưu canh tân mang tính cách lệ thuộc của kinh tế toàn cầu. Bức tranh ấn tượng này sẽ nhắc nhở độc giả tới những chuyện có tầm vóc bao quát của Gone with the Wind và The Thorn Birds (Cuốn Theo Chiều gió và Tiếng Chim Hót trong bụi Mận Gai), đượm thêm nhân bản tính và t́nh yêu sâu xa giữa mẹ và con của The Joy Luck Club.”

Cô nói “Câu này không phải là quan điểm của tôi. Việc so sánh tác phẩm của tôi với Gone with the Wind, Thorn Birds, hay Joy Luck Club là ư nghĩ của nhà xuất bản, để giải thích lư do tại sao họ muốn đầu tư vào tiểu thuyết của tôi sau khi đă đọc bản thảo.”

Cô cho biết cô có thói quen là trong tiến tŕnh sáng tạo, không bao giờ viết để cho giống hay theo một khuôn mẫu của bất kỳ tác phẩm nổi tiếng nào. Viết là viết theo sự thôi thúc sáng tạo (artistic vision) của chính ḿnh mà thôi. Bằng chứng là trước khi RavensYard đến với cô, bà Sandra Kjistra, đại diện cho Amy Tan và Stephen King, đă hối thúc cô viết lại tác phẩm này cho giống cuốn Memoir of a Geisha của Arthur Golden, th́ bà ta mới nghĩ đến việc đem tác phẩm của cô đến với các nhà xuất bản danh tiếng của Hoa Kỳ. Thế nhưng Dương Như Nguyện đă bác bỏ đề nghị đó, cũng chỉ v́ không muốn đi theo một khuôn mẫu khi viết về nguồn cội của ḿnh.

Hỏi tại sao cô chọn River Huong mà không chọn Perfume River như một cách đẩy sách đến người đọc ḍng chính, Dương Như Nguyện cho biết lúc đầu nhà xuất bản RavensYard đề nghị đặt tên cho tác phẩm là“Những Cánh Hồng Đen”, dựa trên mối t́nh trái cấm của nhân vật chính, một thiếu nữ chỉ mới 14, 15 tuổi, nhưng cô không bằng ḷng, và cuối cùng quyết định để tác phẩm mang tên của ḍng sông Hương.

Cô cho rằng Perfume River là danh xưng do người ngoại quốc dịch tên của ḍng Hương giang xứ Huế.

Theo cô, “Người Huế không ai gọi ḍng sông lịch sử của quê hương ḿnh là “ḍng nước Hoa” cả. “Perfume” hay “parfum” là một kỹ nghệ buôn bán, một h́nh thức mỹ phẩm phù du bên ngoài, làm đẹp cho phụ nữ theo kiểu quyến rũ người khác phái, hoàn toàn có tính cách vật chất hời hợt, không phải là phẩm lượng bên trong. “Nước hoa” sẽ phai đi. “Mùi hương” trái lại có thể toả từ tiền kiếp, liên đới kiếp này sang kiếp khác, không gian này qua không gian khác, đi từ quá khư, ù hiện tại, và có thể chuyên chở vào tương lai, từ vô thức, tiềm thức, tới ư thức. Với mùi hương thật sự (authentic) như trong câu: “Hữu xạ tự nhiên hương” th́ “hương” có thể trở thành bất diệt trong trí tưởng và tâm thức của người thưởng ngoạn.

“Hương c̣n là tiếng thơm, có thể toả ra từ đáy hồn là một luyến nhớ vào rừng kỷ niệm. Tiếng tăm (cái ǵ lưu lại) là sợi dây liên đới giữa sựphán đoán của lịch sử (external) với đạo đức cá nhân (intrinsic). Đạo đức ở đây có nghĩa là “universal truths” công cuộc đi t́m sự thực của người cầm bút, chứ không phải là kỷ cương của tôn giáo hay xă hội.

Chữ “hương” do đó mang ư nghĩa tâm linh nhiều hơn vật chất, phải dịch là “fragrance” trong trí tưởng, hoặc “good name” như trong “tiếng thơm muôn thuở”. “Hương” là một “motif” liên tục trong sáng tạo của tôi. Thí dụ Mùi Hương Quế. "Đó là tập truyện độc nhất tôi đem đến cho cộng đồng ḿnh trong mười năm qua, hoàn toàn không có việc ra mắt sách, không có lời giới thiệu của ai, cũng không có bài phê b́nh nào, ngoại trừ bài của ông Đoàn Nhă Văn, một người tôi không hề biết, h́nh như cảm nhận được tâm thức của chữ “Hương” trong Mùi Hương Quế. Tôi chỉ mới đọc bài này ngày dạo gần đây.”

Dương Như Nguyện nói cô chủ trương đem bản chất văn hoá thực thụ của nguồn cội đến cho ḍng chính, chứ cô không cần thiết phải bắt nhịp cầu cho ḍng chính đến với nguồn cội của ḿnh một cách dễ dànghơn. “Tôi chẳng cần phải dịch chữ ‘Hương’ như người Âu Tây đă dịch tên ḍng sông quê ngoại! Nếu tôi gọi nó là ‘sông Hương’ th́ độc giả của ḍng chính cũng phải chịu khó viết và đọc chữ ‘Hương’ như tôi vậy thôi. Nếu tác phẩm gây được ảnh hưởng trong ḍng chính, th́ ḍng chính sẽ biết đến tên ‘Hương’ (tiếng Việt) của ḍng sông.”

Theo tác giả, đă đến lúc người nghệ sĩ sáng tạo phải viết lại h́nh ảnh sông Hương ngay trong ḷng dân tộc, chứ đừng nói chi đến ngoài dân tộc. “Từ một lúc nào đó, sông Hương bị mang theo h́nh ảnh các cô gái‘ngủ đ̣’, nói về việc bán thân nuôi miệng của người phụ nữ. Đây là lư do khiến cô rất thận trọng trong việc chọn tên cho bản dịch. ‘Con Gái của Sông Hương’ để nói lên ư nghĩa liên hệ máu huyết, nguồn cội. Nếu sông Hương đă bị đồng hoá với việc ‘bán phấn buôn hương’ th́ gọi nó là mỹ phẩm ‘parfum’ chỉ làm cho h́nh ảnh đó thêm độc địa mà thôi. Từ trước đến nay, người Việt ḿnh cứ điềm nhiên mà chấp nhận những ǵ đă xảy ra, b́nh thường hoá ngay cả sự ẩu tả hoặc tiêu cực trong vấn đề ngôn từ và biểu tượng có liên quan đến dân tộc tính.” Cô giải thích.

Theo cô, "nói như vậy không có nghĩa là cô khinh bỉ những phụ nữ 'ngủ đ̣' theo ư nghĩa b́nh dân này. T́nh tự dân tộc mà Nguyễn Du mang đến cho chúng ta bao thế kỷ nay là tiếng ḷng của một kỹ nữ. Một kỹ nữ đă được bậc thức giả, đại nho tôn xưng là biểu tượng của chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài"

Và cô kêu gọi: Xin nam giới và phụ nữ chấm dứt vấn đề coi sông Hương là chốn “ngủ đ̣” theo ư nghĩa tiêu cực này. Rồi truyền tụng lẫn nhau một cách vô ư thức, trong một thời điểm mà du khách ngoại quốc đă và đang đổ xô vào Việt Nam, thời điểm mà phụ nữ Việt Nam cất tiếng kêu thương trên toàn thế giới.

Dương Như Nguyện nhắc, hăy nhớ đến cái chết của Trần Cao Vân và Thái Phiên trong ngục tối, trong những ngày dầu sôi lửa bỏng bên thềm của phong trào lật đổ thực dân (decolonization) đầu thế kỷ 20. Cậu bé trai 16 tuổi trên ngai vàng vô nghĩa, đă đi theo tiếng ḥ trên sông, lời kêu gọi của hai nhà nho trong ngày tàn của quân chủ và thể chế Khổng Mạnh. Vang vang trong tiếng ḥ lịch sử ấy là ḷng thương xót cảnh khổ của người dân đen thấp cổ bé miệng, và trách nhiệm của người lănhđạo. Đó không phải là luân lư giáo điều của Khổng Mạnh, mà là căn bản của đạo đức dân tộc. Trước bến Vân Lâu...Nghe câu Mái Đẩy chạnh ḷng nước non! Đây mới đúng là chỗ đứng lịch sử của sông Hương.

Cô kết luận: “Why do we have to repeat the linguistic convention attached to our roots by outsiders? Just because someone from the West has called the river ‘Perfume’, do we, descendants of this river, must adhere to such terminology (thuật ngữ)? Make the West call it what we call it, Huong, in the native language. Isn’t that the by-product of the work of a Vietnamese American artist who injects her roots into the host country by simply pursuing her art? Đây chỉ là một thí dụ nhỏ để nói lên chiều hướng khai phóng.

As far as I am concerned, the superficial ‘Perfume’ connotation is out of my Song Huong. Out, for good! (Cô nói cô không biết phải dịch ư này ra tiếng Việt như thế nào, xin chấp nhận việc cô chêm những câu tiếng Anh để kết thúc câu trả lời).”

Thế hiện nay cô đang đọc tác giả nào, Dương Như Nguyện cho biết cô mới vừa đọc lại một số những tác phẩm bất hủ của văn học Nga, the classics, từ Tolstoy cho đến Dostoyevsky, ngay cả Solzhensitsyn của thời cận đại. “Dĩ nhiên là khi quay về classique,” cô nói, “tôi đọc lại luôn Boris Pasternak và Franz Kafka. (Nhân tiện tôi đọc lại cả Henrik Ibsen của Na Uy (the Master Builder) để suy gẫm, George Bernard Shaw (để nhận thức thêm một lần nữa rằng Shaw đă đi trước quá xa thời đại của ông sống khi ông viết về phụ nữ), và cả Theodore Dreiser (để nhắc lại cho ḿnh nhớ thế nào là một cuốn tiểu thuyết Hoa Kỳ, the cliche — the American novel, thật sự đúng nghĩa là tiểu thuyết với tất cả tâm lư nhân vật, cường độ, và cao độ của nghệ thuật tiểu thuyết!)”

Cô cũng đọc lại các nhà văn Nga và Đông Âu trong giai doan này v́ cô cho rằng cô mường tượng thấy h́nh như các tác giả này được truyền tụng trong giới trí thức thuộc “thế hệ của ông”. Cô muốn t́m hiểu về cách nh́n và nếp sống tâm linh của thế hệ này. Lư do? “Tôi muốn tạo dựng một nhân vật chính (protagonist) là một người đàn ông Việt Nam cùng thế hệ với ông, sống trong ḷng nước Mỹ, cho bản thảo sắp tới, bản thảo mà tôi chưa bắt đầu.”

Dương Như Nguyện nói cô rất trọng classiques, v́ classiques đă được minh chứng bởi thời gian. Tuy nhiên, khi đọc lại classiques, cô thấy rơ những ǵ đă lỗi thời về bút pháp bên cạnh tính chất vĩ đại trường cửu của classiques. “Tôi cố t́nh không chú ư đến những tác phẩm hiện đại đang bán chạy hay đang nổi tiếng, được giải này giải nọ, vân vân, để tránh khỏi bị ảnh hưởng hay chi phối bởi thị trường hay chính trị.”

Theo cô, việc đọc các tác phẩm nổi tiếng, đọc càng nhiều càng tốt. là đường lối giảng dạy viết văn của Âu tây. Đến một lúc nào đó, người sáng tác ngưng đọc hoàn toàn, và không c̣n bị ảnh hưởng, t́m ṭi cái ǵ nữa hết. Chỉ đọc những ǵ cần cho việc sáng tác mà thôi. “Tôi đă đi vào giai đoạn này kể từ năm 1998, sau khi làm xong một h́nh thức ‘fellowshi’ về tương quan giữa luật học và văn chương ở Harvard.”

Hiện tại, cô chỉ đọc những cuốn sách không nổi tiếng, mà cô lạicho rằng rất hay. “Đọc để thưởng thức, và đọc để t́m thấy chính ḿnh.” Cô nói, “trong đó có cuốn The Sevigne Letters viết bởi một nhà văn trí thức không nổi tiếng: William Eisner, xuất bản bởi một nhà xuất bản boutique, chuyên về tiểu thuyết văn chương, h́nh như lúcnày không c̣n hoạt động thường trực nữa. Đây là tác phẩm hay nhất mà tôi đă đọc trong suốt một thời gian dài rất bứt rứt không t́m thấy đâu là tác phẩm ưng ư.”

“Nếu một ngày nào đó, có một nhà văn rất trí thức sẽ đọc Sông Hương hoặc những tác phẩm khác của tôi, như tôi đă đọc The Sevigne Letters, th́ tôi cho đó là ḿnh đă thành công, dù là thành công trong bóng tối.”

Về câu hỏi: Cô có chịu ảnh hưởng bút pháp của tác gỉa nào không?, Dương Như Nguyện nói:

“Bút pháp Hoa Kỳ? Thưa không. Hoàn toàn không. Tôi c̣n chủ trương sẽ đem metaphor, simile (bút pháp ẩn dụ) của tiếng Việt vào văn chương Mỹ. Tôi đă từng bị một, hai ‘readers’ phê b́nh (đây là những readers tốt nghiệp khóa văn chương) cho là văn của tôi ‘unAmerican’ v́ các metaphor lạ hoắc! Một vài người khác (thường thường là trong ngành báo chí) th́ hết ḷng bênh vực tôi, nói rằng tiếng Anh của tôi nổi bật lên một giọng nói (the voice) rất đặc biệt và authentic. Mainstream nghĩ thế nào? Khi chọn con đường đặt tác phẩm vào tay Ravensyard (v́ họ yêu cầu) và không đi qua các trung gian vănchương ở Nữu Ước, tôi chẳng nghĩ đến việc sẽ có tên tác phẩm ḿnh trên mục book review của tờ New York Times. Điều đó thật t́nh không quan trọng đối với tôi. Tôi càng lớn tuổi càng lư tưởng và lăng mạn: nếu Hương quả thật là Hương, th́ không cần New York Times cũng tạo ra Hương; Hương tỏa trong bóng tối th́ mới là hương đặc biệt. Hương đem bán thành perfume ở Gallerie LaFayette là hương mại bản.”

C̣n bút pháp của tác giả Việt Nam trong các sáng tác tiếng Việt của cô th́ sao? “Hoàn toàn không.” Cô tiếp, “tôi viết song ngữ; viết thẳng bằng tiếng Việt; tuy nhiên bây giờ th́ ngưng hẳn và chú trọng hoàn toàn vào tiếng Anh.”

“Không bị ảnh hưởng,” cô thêm, “không có nghĩa là tôi không yêu thích một số tác giả nào đó.”

Cô cho biết cô thích Nabokov, v́ ông là người độc nhất trong văn chương Tây Phương viết nhiều thứ tiếng cùng một lúc cũng như tiếngmẹ đẻ: Anh, Pháp, Nga. Ông thật sự là một nhà văn song ngữ, một nhà văn lưu vong với rất nhiều khuôn mặt.

Cô nói, khi viết tiếng Anh, cô không thể theo nổi ng̣i bút trác tuyệt của Nabokov. “Không dám có tham vọng đó. Viết chỉ để mà viết. Tôi rất ghét những người viết với tham vọng - some sort of a ‘hidden agenda’ như cái thang để leo trèo. Tôi chỉ có thể là tôi. Never any hidden agenda in what I write. The heart is the heart, pen is pen, and art is art.”

Theo Dương Như Nguyện, trong thế giới văn chương tiếng Việt, không ai viết tiếng Việt theo kiểu “lanh chao” [chanh chua và linh động] xứ Huế, thâm thúy và trung thực về tâm lư và sự chua xót nhọc nhằn của phái nữ trong đời sống trung lưu ở miền Nam Việt Nam hay hơn nhà văn Túy Hồng. “Cho đến hôm nay, chưa ai viết một truyện ngắn nào làm tôi nhớ măi cho bằng một truyện ngắn của Trùng Dương. Và tôi chưa thấy có nhà văn nữ nào ở hải ngoại đă vượt lên trên đànchị nói trên. Đó là theo tiêu chuẩn chủ quan của tôi, dựa trên những ǵ tôi đọc từ tủ sách của bố mẹ tôi, thời thơ ấu.”

Cô nhắc câu: “Đập cổ kính ra t́m lấy bóng, xếp tàn y lại để dành hơi...” và nói “Hơi ấy chắc chắn phải vương vấn mùi hương quyện lên y trang như một hoài niệm tinh thần về quá khứ, một sự quyến luyến tinh thần, măi măi không phai nhạt v́ đă nằm trong trí tưởng, chứ không thể là mùi nước hoa Chanel hay Calvin Klein ở cửa tiệm được!”

Trả lời câu hỏi Cô nghĩ sao về văn chương trong nước, văn chương ngoài nước, chuyện “nhếch nhác” bên trong và chuyện “lăo hoá” bên ngoài?, Dương Như Nguyện cho biết: “Tôi không dám nói về văn chương trong nước v́ không đủ dữ kiện. Tuy nhiên, những ǵ tôi đă đọc, ngoài vài truyện ngắn của Nguyễân Huy Thiệp, chỉ đem đến cho tôi sự thất vọng. Câu hỏi được đặt ra, trong một môi trường thiếu tự do ngôn luận, làm thế nào cho văn chương khởi sắc? Văn chương chống đối, dissident, được đánh giá theo một số tiêu chuẩn dành riêng cho văn chương chống đối. Tiêu chuẩn ấy chưa hẳn là tiêu chuẩn văn chương.”

“Nhưng trên văn đàn Mỹ Quốc, tự do ngôn luận đầy dẫy, trong những thập niên gần đây, đă có sự khởi sắc nào chưa, dù rằng Toni Morrison đă đem giải Nobel văn chương về cho nước Mỹ? Nên có một sự phục hưng (renaissance) nào đó hay không, cho dù tờ New York Times sẽ không bao giờ công nhận nhu cầu phục hưng khi họ viết về những tác phẩm được xuất bản trong guồng máy lớn?” (Cô cho biết cô nói ‘guồng máy’ là v́ cô dạy luật công ty, thương mại - cái gọi là luật thương trường của tư bản. Theo con mắt nh́n của một luật gia, cô cho rằng kỹ nghệ xuất bản của nước Mỹ bây giờ là một guồng máy thương mại rất lớn có tính cách ‘độc tôn’ (monopoly) của thể chế tư bản).

“Về văn chương hải ngoại, Vietnamese exile literature, tôi công nhận và đồng ư với ông, rằng ngọn đuốc phải chuyền đến tay người của thế hệ mới. Nh́n vào thế hệ mới, theo tôi, th́ ngay cả những tác phẩm bestsellers, và ngay cả cá nhân tôi với sông Hương (với tất cả những hạn định v́ t́nh huống riêng biệt của nó (limitations by circumstances), hầu như chưa có một chỗ đứng ǵ đáng kể trong phạm vi rộng lớn.

Everything still remains to be seen. Con đường đi, dưới mắt tôi, là conđường thiên lư. Đường đi chưa đến.”

Nói về ‘lăo hóa’ - Dương Như Nguyện hiểu theo một nghĩa khác của từ này* - cô gọi đó là chu tŕnh chung của tất cả mọi sự việc. Cô nói “Trong lănh vực văn chương, chưa chắc ‘lăo hóa’ là điều đáng ,tiếc. (Nếu ‘lăo hóa’ có nghĩa là ‘tuyệt tự’, không có ai để thắp tiếp ngọn đuốc, th́ vâng, nên có tiếng chuông kêu cứu. Nhưng nếu thật sư đă ‘tuyệt tự’ th́ có kêu cứu cũng không làm ǵ được. Nguy hiểm là ở sự ‘tuyệt tự,’ chứ không phải ở sự thật hiển nhiên: Lăo Hóa.

“Văn chương cần tuổi tác và kinh nghiệm, giống như rượu ngon, giống như mỹ nhân tự cổ như danh tướng, càng nhiều tuổi càng sắc sảo (trong tiêu chuẩn gourmet, nếu thật sự là mỹ nhân, th́ phải già đi mới đẹp. Nếu không tại sao người ta lại ví mỹ nhân với danh tướng? Có tướng nào trẻ măng mà có kinh nghiệm chiến trường đủ để trở thành danh tướng hay không, kể cả Napoleon và Alexandre? Thúy Kiều 16 làm sao thu hút cho bằng Thúy Kiều 35, khi mặt hồ thu đă long lanh ngấn lệ v́ đường đời, và trái tim đă trưởng thành đủ để mang t́nh cầm sắc đổi ra cầm kỳ?”

Điều mà cô lo ngại hơn vấn đề ‘lăo hóa’ là vấn đề ‘thoái hóa trong tiêu chuẩn’ (sub-standardization, chữ dùng của riêng cô). “Trong cộng đồng Việt Nam, hiện tượng này xảy ra, là trách nhiệm của những người cầm bút đi sau, và là trách nhiệm của độc giả. Của cộng đồngngười đọc. Điều này quá nan giải, vượt ra ngoài cuộc nói chuyện của chúng ta hôm nay, v́ có liên quan đến vấn đề xă hội học của t́nh huống di dân.”

Cô nêu một thí dụ về cái mà cô gọi là ‘sub-standardization’.

“Cách đây mấy tháng, tôi được biết rằng tôi đă được xếp loại vào chung với một số phụ nữ viết văn tiếng Việt - viết về t́nh dục. Tôi xin khẳng định - tôi chưa bao giờ viết về t́nh dục cả. Tôi chỉ viết về kinh nghiệm làm người. Người nữ nồng nàn và người nữ nhọc nhằn. Và tôi cũng không lấy ǵ làm hănh diện được chỗ đứng ‘tiền phong’ cho phong trào ‘viết về t́nh dục’ này.

“Trong việc phê b́nh văn học (một địa hạt quá thiếu vắng trong t́nh huống eo hẹp của kiếp di dân), dùng tiêu chuẩn ǵ đây để đánh gía hiện tượng này - cái gọi là ‘nhà văn Việt Nam viết về t́nh dục, nữ cũng như nam?’ Nếu nói rằng nhà văn nữ Việt Nam đi vào một thế giới mà trước kia là chỗ đứng của đàn ông, th́ Anais Nin đă làm điều này từ thập niên 1930. Tại sao đàn bà Việt Nam bây giờ đi làm chuyện đó, chỉ để công nhận ḿnh đă thụt lùi sau Anais Nin gần cả một thế kỷ?

“Artists write art. Artists write humanity. Thinkers write thoughts. Thinkers write social justice. Artists and thinkers do not write sexuality for the sake of sexuality. Nếu t́nh dục là một phần của kinh nghiệm nhân sinh, th́ artists sẽ tả dục t́nh để đi t́m cái đẹp của nhân sinh và nhà tư tưởng sẽ mô tả dục t́nh để tranh đấu cho nhân sinh. Dục t́nh viết khơi khơi, gratuitously, là khởi điểm của mại bản, dùng ngay thân xác con người để làm shock effect, mà trong đó phụ nữ thường thường là bị bóc lột. Người luật gia nói rằng đây là mại bản appealing to the prurient interest. Không thể dùng realism để bào chữa cho chiều hướng mại bản này.

“T́nh dục, realism, trong phạm vi tiểu thuyết, cần phải được authenticated trở thành một kinh nghiệm nhân sinh (tôi không biết phải dịch chữ ‘authenticated’ làm sao), Chu kỳ ‘authentication’ đó phải đặt trên kiến thức, trí tuệ, và sự ngậm ngùi suy gẫm về kiếp người — knowledge, experience, and then the necessary elaboration. Đi vào lănh vực mô tả t́nh dục con người bằng trí tưởng tượng, và chạm cả vào phạm vi chuyên môn của tâm lư học và y học — có thể sẽ trở thành faux pas lớn nhất cho người tập cầm viết. Write only what you know! Đây là nguyên lư rơ rệt nhất cho trường dạy văn chương sáng tạo ở xứ này. Nếu không, viết về t́nh dục sẽ trở thành một sự trịch thượng, kệch cỡm và gượng ép. Có nhiều khi đi luôn vào cái mà độc giả có tầm vóc sẽ cho là ‘bad taste.’”

“Người cầm bút của thế hệ mới trực tiếp chịu trách nhiệm nếu sự trịch thượng, kệch cỡm và gượng ép này xảy ra trong cái được mệnh danh là ‘văn chương, văn học’ làm cho nó không c̣n là ‘văn chương, văn học’ nữa. Và như thế th́ chẳng thà lăo hóa c̣n hơn.”

Dương Như Nguyện nhấn mạnh: “Xin đừng hiểu lầm là tôi muốn phê b́nh những ‘nhà văn nữ’ của cộng đồng. Con đường viết là con đường riêng biệt của mọi người. Văn chương là cái ǵ c̣n lại của cái ǵ bị quên đi, bị bỏ đi, bởi người đọc (người đọc, chứ không phải là người đi mua trong thế giới mại bản).”

“Substandardization lại càng trầm trọng hơn nữa trong môi trường di dân, nơi mà người đọc ngày càng ít đi, và t́nh trạng ‘tự xuất bản’ gây nên một môi trường tàn khốc cho tiêu chuẩn.”

Cô cho biết cô yêu thích một vài tác phẩm của Vũ Khắc Khoan và Nghiêm Xuân Hồng, cũng như trường thiên tiểu thuyết cuối cùng của Nhất Linh trước khi ông mất – “cuốn tiểu thuyết đó mới thật sự là tiểu thuyết của ông Tam. Ba vị này, rất ư là lăo hóa. Lăo hóa như thế th́ thế hệ mới của tôi cần nên lăo hóa.”

“Cái khổ là có những người trong thế hệ mới này cứ chuyên môn đem chuyện ông Hemingway ra hỏi ông Doăn Quốc Sỹ, làm như thể ông Doăn Quốc Sỹ phải biết ông Hemingway th́ mới trở thành nhà văn! Trong khi đó, nếu ông Hemingway c̣n sống, ông Hemingway không biết ông Doăn Quốc Sỹ là ai, v́ ông Doăn Quốc Sỹ viết bằng tiếng Việt, mà sách lại không được phổ biến cho 80 triệu dân. Ngọn đuốc của thế hệ mới nên soicho những ông Hemingway của Đại Tây Dương được biết về bác Doăn Quốc Sỹ nhà ḿnh, ngồi câu cá bên cái Hồ Thùy Dương của bác ấy (câu cá thay v́ viết văn v́ tác giả Hồ Thùy Dương đă lăo hóa, lăo hóa sau khi tấm thân gầy g̣ đă chịu đựng ngục tù chỉ v́ nhà giáo đă từng cầm bút). Có những người khác trong thế hệ mới lại rất dễ bỏ quên hẳn bác Doăn Quốc Sỹ nhà ḿnh, v́ con đường đi vào ḍng chính không cần sự lót đá (grounding) của cái Hồ Thùy Dương ngày xưa.

“Đó, mới chính thức là ngọn đuốc của người đi sau để giải quyết vấn đề lăo hóa. Ngọn đuốc này phải thắp nên bởi nhiên liệu đến từ độc gỉa?. Tôi đau đớn mà nhận ra rằng vấn đề ông nêu lên không biết giải quyết ra sao. Thật t́nh mà nói, có thể tôi méo mó nghề nghiệp luật sư thương mại, nhưng tôi cho rằng vấn đề này mang tính chất của một vấn đề kinh tế. Cần có một Bill Gates cho văn chương hải ngoại. Tôi nghĩ đến điều này hằng đêm.

“Về phần tôi (con người nghệ sĩ tách ngoài phạm vi nghề nghiệp), sau tác phẩm này, tôi chỉ mong là một số độc gỉa hiếm hoi trong ḍng chính sẽ nhớ cái tên ḍng sông Hương, thay v́ ‘Perfume River’ của nhà quảng cáo trung tâm du lịch. Như thế là tôi đă tạm thành công.

“Chỉ có thế thôi. Và chỉ có trời biết, cho dù rằng tên tôi là Như- Nguyện. May All Your Wishes Come True. Rút cục lại, tôi tự bảo ḿnh: cứ viết đi, đừng suy nghĩ đến thành công hay không th́ tốt hơn. Con đường thiên lư đẹp v́ hoa nở trên đường đi, chứ không phải v́ nó dẫn đến đích: một ngôi nhà vàng nào đó để nhốt con chim hót!”

San Jose-Denver
Aug 15, 2005

NGUYỄN XUÂN HOÀNG


Tác giả:

Sinh quán tại miền Trung Việt Nam, Uyên Nicole Duong [Dương Như Nguyện] đến Mỹ năm 16 tuổi, năm ngày trước khi Sài G̣n sụp đổ.

Tốt nghiệp Báo Chí và Luật Khoa tại Southern Illinois University, the University of Houston Law Center và Harvard Law School. Đă theo học ngành diễn xuất tai American Academy of Dramatic Arts ở New York và Pasadena, California, đồng thời cũng là một bỉnh bút cho Quận Học Chánh Houston. Được bổ nhiệm làm giám đốc cơ quan quản lư các sự kiện có thể gây rủi ro, và là người phụ nữ Á Châu đầu tiên có chân trong Ban quản lư điều hành của Sở Học Chánh Houston, ở tuổi 24. Đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán tại Houston, Tiểu Bang Texas và là người được Luật Sư Đoàn Hoa Kỳ vinh danh là vị chánh án người Mỹ gốc Việt đầu tiên tại Hoa Kỳ trong năm 1992. Từng hành nghề tư vấn trong lănh vực kỹ nghệ dầu lửa quốc tế, là luật sư của cơ quan giám sát thị trường chứng khoán Securities andExchange Commission, Hoa Kỳ, đồng thời là Giáo sư tại Đại học Luật Khoa Denver, Colorado.

Đă xuất bản:

Mùi Hương Quế (nxb Văn nghệ 1999)
Chín Chữ Của Nàng (nxb Văn mới 2005)
Daughters of the River Huong (nxb RavensYard 2005)
Con Gái của Sông Hương (bản dịch, RavensYard 2005)

Sẽ xuất bản:

Mimi and Her Mirror
Postcards from Nam
(Hai tác phẩm này đă hoàn thành từ năm 1999 nhưng vấn đề thương lượng với nhà xuất bản chưa xong.)
(Bản dịch: Bưu Thiếp từ Nam, Văn Mới 2006) - đă có sự chấp thuận tiên khởi của Văn Mới)
T́nh Yêu, Đời Sống và Lưu Đầy (tập thơ song ngữ PenAsia 2006)
(PenAsia là imprint của một LLC - limited liability company - làcông ty con của một nhà xuất bản rất nhỏ ở Luân Đôn; đang tiến hành].

Đang viết:

Book of the Seven Dreams

"Đối với tôi, các tác phẩm đă in hoặc đang tiên hành không c̣n quan trọng. Các bản thảo chưa viết mới là quan trọng. Như tôi nói, trong trái tim tôi có con đường thiên lư."



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home