SỔ TAY sáu & bảy, 2002
Nguyễn Xuân Hoàng



Phạm Duy và vết thương di tản

Như những người cùng lứa tuổi, tôi ưa thích nhạc Phạm Duy, trước khi yêu thích nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi nghĩ, trước khi nổi tiếng với những ca khúc của chính ḿnh, Sơn cũng là một người yêu nhạc Phạm Duy. Thế hệ của anh tôi, theo kháng chiến chống Pháp, chắc chắn là thế hệ của những người chọn con đường ra chiến khu một phần cũng v́ âm nhạc của ông.

Nhưng tôi có thêm một lư do để nhớ đến ông nhiều hơn các bạn tôi một chút v́ cho đến năm 1972 - không nhớ chắc là năm 72 hay 70, cái năm mà nhà văn Ngô Thế Vinh cũng ra hầu ṭa v́ một bài báo của anh - tôi bị phiền phức do một ca khúc của ông: Bài bà Mẹ Gio Linh.

Phạm Duy viết Bà Mẹ Gio Linh năm 1948. Năm 1972, sau khi Trần Phong Giao thôi tờ Văn, ông Nguyễn Đ́nh Vượng nhờ tôi làm Tổng Thư Kư ṭa soạn ở 38 Phạm Ngũ Lăo. Lúc đó tạp chí Vấn Đề của kịch tác gia-giáo sư Vũ Khắc Khoan đặt trên lầu cùng địa chỉ với tờ Văn. Ông Thần Tháp Rùa khi đến ṭa soạn bao giờ cũng đi ngang qua chỗ ngồi của tôi. Một lần ông hỏi tôi cho Vấn Đề một truyện. Tôi hứa. Và lần nào đi ngang qua bàn viết của tôi, ông cũng nhắc: Sao? Có truyện cho số này không? Tôi xấu hổ v́ không viết được. Sau cùng, tôi quyết định nhất định phải nộp bài cho ông. Truyện ngắn Cha và Anh tôi đưa ông để đăng trên Vấn Đề - tôi nhớ h́nh như là số 52.

Một buổi chiều Mai Thảo đến ṭa soạn kéo ghế ngồi trước mặt tôi hỏi Hoàng viết cái ǵ cho Vấn Đề mà báo bị tịch thu, đóng cửa vậy?

Tôi ngớ người.

Truyện ngắn Cha Và Anh là một hồi tưởng với nhiều hư cấu về một gia đ́nh (tôi) bị chia cắt trong chiến tranh, và chia cắt ngay cả trong một thành phố. Một nhân vật bơ vơ mất hướng, không biết ḿnh đi đâu, về đâu.

Truyện c̣n chép một số đoạn trong ca khúc của Phạm Duy:

Mẹ già cuốc đất trồng khoai
Nuôi con đánh giặc đêm ngày
Cho dù áo rách sờn vai
Cơm ăn bát vơi bát đầy...
........
Nhà th́ nó đốt c̣n đâu
Khuyên con báo thù phen này
Mẹ mừng con giết nhiều Tây
Ra công xới vun cày cấy.
.........

Ông Khoan gặp tôi một tuần sau không vui. Tuy vậy, ông cũng tỏ vẻ lo cho tôi. "Anh có sao không? Có bị ǵ không?" Thưa anh, tất nhiên là có. Em phải hầu ṭa đây.

Đó cũng là thời gian mà Ngô Thế Vinh cũng từ Biệt Đoàn 81 Biệt kích Dù về hầu ṭa v́ bài báo Mặt Trận Ở Sài G̣n của anh.

Nhưng tôi đâu chỉ dính với ông Phạm Duy chỉ chừng đó thứ. Những ca khúc sau này của ông, những bài B́nh Ca (Dường Như Là Ḥa B́nh,Sống Sót Trở Về, Ngày Sẽ Tới...) cũng làm tôi ray rứt măi.

Tôi ngạc nhiên về những bài Tục Ca,Vỉa Hè Ca của ông cùng đi với Đạo Ca, Bé Ca, Nữ Ca của ông. Ông Phạm Duy đa tài, đa dạng và là một người giàu có về âm thanh. Ông mơ mộng hơn những người lăng mạn nhất, nhưng ông cũng là người thông tục hơn những người thông tục nhất. Ông có nhiều tiếng nói cho nhiều hoàn cảnh.

Ông là một trong số ít nhạc sĩ "sống" và "mạnh" không phải là thứ nghệ sĩ ẻo lả của bàn đèn và khói thuốc. Nhạc của ông được nhiều thế hệ hát và hát khắp nơi. Nhạc ông được nhiều người nhớ và nhớ bằng những kỷ niệm đặc biệt. Nhạc ông được hát với một trái tim sôi nổi, nhưng cũng được hát với một nỗi buồn cùng cực. Nhạc ông có nước mắt. Và cũng được hát với một nụ cười.

Thế gian có những thứ t́nh cảm nào, ông đều cho người ta cơ hội bày tỏ thứ t́nh cảm đó.

Nhưng tôi biết không phải ai cũng bằng ḷng ông.

Có người nh́n ông như một tài năng hư hỏng. Có người bảo sau những ca khúc phổ thơ từ Huy Cận, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, ông không c̣n để lại ǵ cho âm nhạc Việt Nam.

Tôi ngờ những người ấy sống bằng thành kiến.

Không người Việt Nam nào có thể quên ơn Phạm Duy.

Để soi sáng giá trị và ư nghĩa. của một tác phẩm nghệ thuật - một cuốn tiểu thuyết, một bức tranh, một nhạc phẩm - người ta thường qui chiếu về tác giả, về đời tư của người nghệ sĩ . Người ta nghĩ - cũng có lư thôi - giữa tác phẩm và tác giả chắc chắn phải có một mối giây nhân quả. Tác phẩm là sản phẩm của nghệ sĩ, nó tất yếu phải mang dấu ấn, hơi thở, đời sống, ư nghĩ của người sáng tạo.

Người ta đọc Kiều của Nguyễn Du và người ta đi t́m tiểu sử của ông để hiểu Kiều. Cũng vậy, người ta xem kịch Lưu Quang Vũ, xem tranh Nguyễn Trung, nghe nhạc Trịnh Công Sơn, người ta luôn luôn đi t́m tác giả. Người ta t́m đọc "những bản thảo dở dang, những thư từ, những nhật kư, hồi kư" và qua đó họ vẽ lại chân dung người nghệ sĩ. Chính chân dung ấy đă "soi sáng" tác phẩm của họ.

Tôi chia xẻ "một nửa" ư kiến đó.

Tôi không tin là cuộc đời của một nghệ sĩ hoàn toàn làm thành tác phẩm của họ.

Tôi không tin là tác phẩm đang được quần chúng yêu mến kia sẽ kém đi v́ tác giả có một cuộc sống xă hội "không tốt đẹp" theo ư kiến của những nhà đạo đức.

Tôi không tin giá trị tác phẩm sẽ bị tụt xuống khi tác giả có một cuộc sống không cân bằng với tiêu chuẩn xă hội.

Những điều "tôi không tin" ấy thật ra chưa đủ lư lẽ để thuyết phục người khác. Cho đến khi tôi đọc được mấy cuốn sách của Milan Kundera, một nhà văn Pháp gốc Czech.*

Dưới tựa đề Soixante-treize mots (Bảy mươi ba từ), phần thứ sáu của cuốn Nghệ Thuật Tiểu Thuyết, Milan Kundera viết: "L'artiste doit faire croire à la postérité qu'il n'a pas vécu", dit Flaubert.**

Vẫn theo Kundera, Maupassant không cho đưa chân dung của ḿnh vào một loạt chân dung các nhà văn nổi tiếng: "Đời tư của một người và khuôn mặt anh ta không phải là của công chúng." Heman Broch nói về ḿnh, về Musil, về Kafka: "Cả ba chúng tôi đều không có tiểu sử thật."

Nhà văn William Faulkner muốn làm "người bị triệt tiêu, bị xóa bỏ khỏi lịch sử, không để lại bất cứ dấu vết ǵ, không có cái ǵ khác ngoài những cuốn sách đă in." Và Kundera nhấn mạnh: Sách và để in,tức là không có các bản thảo dở dang, thư từ, nhật kư.)

Tôi muốn bắt chước Kundera nói theo một ẩn dụ của Kafka rằng nhạc sĩ Phạm Duy (nhà tiểu thuyết) phá ngôi nhà của ḿnh đi, để lấy gạch xây một ngôi nhà khác: các ca khúc của ông (cuốn tiểu thuyết).

Từ đó đi đến kết luận là những người viết tiểu sử về một nghệ sĩ (nhà tiểu thuyết, họa sĩ, kịch tác gia, nhạc sĩ, điêu khắc gia...) là người phá dỡ những ǵ mà nghệ sĩ đó đă làm, để làm lại cái mà người nghệ sĩ đă phá dỡ ra. Cái công việc chơ vào đời tư của một nghệ sĩ (tài năng) là một công việc tiêu cực, thuần túy tiêu cực, nó không thể soi sáng cả giá trị lẫn ư nghĩa của tác phẩm; "may ra th́ chỉ nhận dạng được vài viên gạch."***

Kundera không chỉ nói một lần về vấn đề này trong cuốn L'art Du Roman, mà ông nói nhiều lần. Trong phần thứ bảy cuốn sách này, dưới tựa đề Discours de Jerusalem: Le Roman et L'Europe. "Nhà tiểu thuyết là người, theo Flaubert, muốn biến ḿnh đi sau tác phẩm của ḿnh. Biến ḿnh đi sau tác phẩm của ḿnh, điều đó có nghĩa là từ chối vai tṛ nhân vật xă hội."****

Phạm Duy là một con người, như mọi người. Ông đă sống tận cùng đời sống của ông, ông đă hiến tận cùng những ǵ ông có trong trái tim ông và thân xác ông. Tôi đồng ư với Hoàng Khởi Phong, Phạm Duy không cần vinh danh, v́ cái danh ấy ông đă có, người ta nên biết ơn ông.

Trong cuộc sống của mỗi chúng ta, rơ ràng là chúng ta nợ nần quá nhiều người. Không chỉ nợ nần công ơn sinh và dưỡng của cha mẹ ta, mà ta c̣n nợ nần những người làm cho cuộc sống ta tốt đẹp hơn, có ư nghĩa hơn. Ngay khi họ làm ta đau đớn v́ bản chất của họ, ta cũng nợ họ, v́ nhờ đó ta khám phá ra sự đa dạng của con người,khám phá ra cái bộ mặt đen tối của một con thú tưởng là người, và ta cũng khám phá ra sức chịu đựng của mỗi chúng ta.

Phạm Duy và Stravinski

Chưa thấy nhà văn nào nói về âm nhạc say mê và đầy kiến thức như Milan Kundera. Trong cuốn Những Di Chúc Bị Phản Bội, ông dành nguyên phần thứ ba Improvisation en hommage à Stravinski (Ứng tác kính tặng Stravinski) từ trang 69 đến 119 để viết về Stravinski.

Tôi ước ǵ ḿnh có đủ kiến thức về âm nhạc để viết một chương về nhạc sĩ Phạm Duy. Nếu cuộc đời của Stravinski chia làm ba phần dài gần bằng nhau. Ở Nga, 27 năm; Pháp và Thụy Sĩ nói tiê?g Pháp, 29 năm; Mỹ, 32 năm; th́ Phạm Duy cũng chia phần đời ḿnh qua những con số tương tự: Miền Bắc 29 năm, vào Nam 25 năm, và ở Mỹ nay ông đă ở được 27 năm.

Kundera viết "Di tản: một cuộc lưu lạc bắt buộc ở nước ngoài đối với người coi đất nước nơi ḿnh sinh ra là tổ quốc duy nhất của ḿnh. Nhưng t́nh trạng di tản kéo dài và một sự trung thành mới đang nảy sinh, sự trung thành với đất nước ḿnh đă nhận; bấy giờ là đến lúc cắt đứt. Stravinski dần dần từ bỏ chủ đề Nga. Năm 1922 ông c̣n viết Mavra (hí kịch phỏng theo Pouchkine), rồi năm 1928, Nụ Hôn Của Bà Tiên, kỷ niệm về Tchaikovski, rồi ngoài mấy tác phẩm ngoại lệ không đáng kể, ông không trở lại chủ đề Nga nữa. Khi ông mất năm 1971, Vera vợ ông, tuân theo ư nguyện của ông, từ chối đề nghị của chính phủ Xô Viết chôn ông ở nước Nga và chuyển thi hài ông đến nghĩa trang Venise."

Kundera viết tiếp: "Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, Stravinski mang trong ḿnh vết thương của sự di tản, như tất cả những người khác; không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, sự phát triển nghệ thuật của ông sẽ đi một con đường khác nếu ông có thể ở lại nơi ông đă sinh ra.

Phần đầu của Stravinski và Phạm Duy có vẻ như trùng hợp nhau. Sự khác là ở phần cuối. Chủ đề trong âm nhạc Phạm Duy luôn luôn là Việt Nam.

"Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời."

Chủ đề ấy ở cuối đường là Minh Họa Kiều I và II. Việt Nam nhất trong những ǵ thuộc về Việt Nam.

Tôi viết những ḍng chữ này như một lời biết ơn Phạm Duy.

Tôi không có nhiều lư lẽ để nói về âm nhạc ông. Tôi mượn nhiều lời của Milan Kundera để cám ơn ông.

Xin ông khỏe măi.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

* L' art Du Roman, Collection Folio, 15 Novembre, 1999 và Les Testaments Trahis, Collection Folio, 18 Janvier, 2002. Bản dịch của Nguyên Ngọc, NX Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001.

** Sách đă dẫn, trang 177. Flaubert nói: "Người nghệ sĩ phải làm cho hậu thế tưởng rằng anh ta không hề sống."

*** Bản dịch của Nguyên Ngọc, sđd., tr. 156-157.

**** Bản dịch Nguyên Ngọc, Sđd., tr. 165



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home