SỔ TAY THÁNG NĂM 2002
Nguyễn Xuân Hoàng



Đi t́m nguồn cội

Trong cuộc hội thảo mang tên East Coast/West Coast: Vietnamese American Writers, Poets and Performers tổ chức hôm 2 tháng Ba, 2002 tại Đại Học San Francisco State, các nhà văn trẻ Mỹ gốc Việt đă gặp gỡ trong một khung cảnh ấm áp và cảm động. Họ là những nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ tŕnh diễn người Việt Nam, nhưng họ nói và viết bằng Anh ngữ. Tác phẩm của họ có khác nhau về nội dung, nhưng cùng chứa một ư nghĩa: Đi t́m nguồn cội, đi t́m câu trả lời cho câu hỏi "Tôi là ai? Tôi đứng ở đâu?"

Monique T.D. Trương, Mộng Lan, Andrew Lâm, Andrew X. Phạm, Nguyễn Quí Đức, Lê Thị Diễm Thúy, Trường Trần, Kiên Nguyễn, Lan Trần, và Maura N. Donahue, Nguyễn Đại Hải. là những người đang đi t́m câu trả lời đó.

Bài viết này, thay thế Sổ Tay tháng Năm, chỉ là một giới thiệu chung chung về một hiện tượng mới: những nhà văn Mỹ gốc Việt trong văn chương Mỹ. Để có một cái nh́n tương đối đúng đắn hơn về tác giả và tác phẩm của họ, thiết nghĩ cần nhiều bài viết khác do những người hít thở được không khí văn chương và ngôn ngữ của họ. Người viết cần một ch́a khóa ngôn ngữ để mở cánh cửa đó.

Monique T.D. Trương, tác phẩm đầu tay The Book of Salt sẽ được phát hành năm 2003, trả lời câu hỏi là động cơ nào đă khiến cô chọn nghề viết văn, cho biết như mọi người, cô cũng muốn chọn một ngành nghề nào làm ra tiền và bảo đảm cuộc sống, "nhưng tôi không thích nghề luật sư" mặc dù cô đă tốt nghiệp luật khoa trường Đại Học Columbia 1995. "Cha tôi thường bảo tôi hăy làm nghề ǵ tôi ưa thích." Chị nói, "V́ vậy bây giờ tôi đă dành toàn thời gian cho việc viết lách." Monique Trương là một trong những tác giả trẻ Mỹ gốc Việt viết văn bằng tiếng Anh.

Với Andrew Lâm, một nhà báo, một nhà b́nh luận, tác giả nhiều truyện ngắn - th́ viết là một thôi thúc. Từ hồi nhỏ ở Việt Nam, anh đă thích viết. Thuở đó anh đă từng làm thơ tiếng Việt. Nhưng sau khi tốt nghiệp Đại Học Berkeley ngành sinh hóa, Andrew Lâm quyết định đi theo con đường viết văn. Và anh đă chọn việc diễn tả suy nghĩ của ḿnh bằng Anh ngữ.

Mộng Lan đơn giản hơn. Cô viết v́ muốn bày tỏ cảm xúc và ư nghĩ của ḿnh. Trước khi là nhà văn, Mộng Lan là một họa sĩ. Chọn ngôn ngữ viết v́ theo cô, cách diễn tả này "chính xác hơn."

Về đề tài trong tác phẩm, Mộng Lan nói rằng cô không chọn đề tài. "Chính đề tài chọn tôi. Tôi viết về những ǵ tôi thấy và tôi cảm, những ǵ xảy ra quanh tôi, những ǵ chạm đến tôi."

Tập thơ đầu tay của Mộng Lan, Song of the Cicadas (Khúc Hát của Những Con Ve Sầu). Cô nói "Một cách nào đó, trong tác phẩm đầu tay này của tôi, có từ 70 tới 75 phần trăm được viết từ kinh nghiệm ở Việt Nam," kinh nghiệm mà cô có được trong sáu tháng trời giữa hai năm 1995-96. Phần c̣n lại của cuốn sách là kinh nghiệm sống của cô trong những tháng năm ở Vùng Vịnh này.

Trong tác phẩm của những người trẻ nói trên, người đọc vẫn như c̣n ngửi được mùi hương khói, tro tàn của cuộc chiến Việt Nam, vẫn c̣n mang nặng dấu vết, hơi hám, nỗi đau của cuộc chiến Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam như một lớp mây, một lớp mù sương bao trùm những trang chữ của họ.

H́nh ảnh những nhà văn trẻ Mỹ gốc Việt này được miêu tả như một con người đứng giữa hai thế giới. Viết với họ là đi t́m lại bản sắc của ḿnh. Một mặt họ sống và trưởng thành trên đất Mỹ, hấp thụ nền văn hóa Hoa Kỳ, trong khi đó họ vẫn sống giữa một gia đ́nh c̣n nặng quá khứ trong phong tục tập quán, trong lời ăn tiếng nói, trong liên quan xă hội.

"Tôi là ai?" Có thể là câu hỏi thường trực của họ.

Với Monique Trương, The Book of Salt là câu chuyện về một người trẻ tuổi Việt Nam sống ở Paris vào cuối thập niên 1920. Anh nhận làm bếp và sống trong nhà bà Gertrude Stein, một văn sĩ người Mỹ lưu vong trong thời kỳ "Lost Generation" cùng với nhà văn Ernest Hemingway. Đây là thời gian bà Gertrude Stein sống với người yêu của bà ta là Alice B. Toklas.

Trong tác phẩm này, Monique viết lư do tại sao người đàn ông kia đă rời Việt Nam ra đi và v́ sao anh ta quay về lại cố hương. Ư tưởng xây dựng tác phẩm này, cô cho biết được gợi từ một cuốn sách dạy nấu ăn của bà Toklas.

Monique Trương cho biết cô không chọn đề tài chiến tranh cho cuốn sách đầu tay của cô. "Tôi chỉ muốn qua tác phẩm này đưa ra một câu hỏi: chiến tranh là ǵ mà khiến cho một người phải bỏ nước ra đi, và bỏ lại sau lưng gia đ́nh (nhà cửa). Với cuốn sách này, tôi muốn dùng trí tưởng tượng vẽ lại khung cảnh đầy xúc động trong đó chiến tranh không phải là yếu tố chính tác động lên t́nh cảm và quyết định của con người."

Andrew Lâm th́ khác. Anh cho biết mặc dầu rời Việt Nam lúc mới 11 tuổi, anh đă lớn lên trong một gia đ́nh quân nhân, đă từng nh́n thấy sự đỗ vỡ tan nát và tro than của cuộc chiến.

"Ta không thể nào chối bỏ được quá khứ, muốn vươn lên khỏi dĩ văng ta phải luôn luôn học hỏi quá khứ."

Anh chọn đề tài nào đập vào cảm xúc anh mănh liệt nhất, như mối quan hệ Việt-Mỹ vốn tác động lên cuộc sống cá nhân mỗi người Việt Nam.

Andrew X. Phạm, với Catfish and Mandala, viết theo thể loại non-fiction, anh đă mở toang cánh cửa ngôi nhà của ḿnh ra trong một thái độ can đảm hiếm thấy trong loại hồi kư tiểu thuyết - nếu có thể tạm gọi như vậy - của một người viết trẻ tuổi Việt Nam. Cuốn sách của anh như một cơn lốc lôi cuốn người đọc vào một cuộc hành tŕnh đầy hứng thú. Sức mạnh của tác phẩm này là chất liệu cuộc sống. Nhưng vẫn là câu hỏi chưa được trả lời: tôi là người Việt hay tôi là người Mỹ?

Theo Mộng Lan vấn đề bản sắc không đặt ra với cô. Cô nói "khi ở Mỹ tôi coi ḿnh là người Mỹ, khi về lại Việt Nam tôi là Việt Kiều. Ở California, tôi là dân Cali. Chuyện rất là giản dị. Việt Nam là đất nước nơi tôi chào đời, c̣n nước Mỹ là nơi tôi lớn lên. Tôi chịu nợ cả hai xứ sở này."

Những bài thơ của Mộng Lan, Trường Trần, Andrew X. Phạm, Kiên Nguyễn (The Unwanted) và Lan Cao (Monkey Bridge), Đinh Linh (Fake House), Lại Thanh Hà... ở Mỹ; và tiểu thuyết của Kim Lefevre (Métisse Blanche), Linda Lê (Les Trois Parques) ở Pháp... là những nụ hoa mới nở trong vườn văn chương Mỹ và văn chương Pháp.

Nhưng trường hợp của Nguyễn Quí Đức là một ngoại lệ, là một sự ngạc nhiên thích thú và là một khao khát khó đạt. Anh là một người đa dạng và tài hoa: nhà báo, nhà phát thanh, nhà văn viết bằng hai ngôn ngữ Việt và Anh, dịch giả Behind the Red Mist của Hồ Anh Thái, tác giả hồi kư Where the Ashes Are - và nhiều truyện ngắn viết bằng tiếng Việt của anh đăng trên các tạp chí văn chương tại hải ngoại như Văn, Văn Học, Hợp Lưu.

Với những tác phẩm viết bằng Việt ngữ - ngoài nước với 2 triệu dân, và có lẽ kể cả trong nước với trên 80 triệu dân - cái readership của các tác giả có vẻ như chỉ dừng lại ở con số 500 hay 1,000.

Viết bằng ngôn ngữ Anh hay Pháp, người ta dễ hiểu cái readership ấy rộng lớn hơn nhiều. Một tác phẩm được nhiều người đọc bao giờ cũng là niềm vui của tác giả. Người ta không in sách để bỏ vào một xó. Bởi v́ không ǵ buồn hơn một cuốn sách in ra trong 5 năm trời không bán quá 1,000 cuốn.

Tác phẩm của những người trẻ này cho thấy cơ may cái ṿng readership rộng lớn, mà c̣n cho thấy một hội nhập nhanh chóng của người Việt trên vùng đất mới: chưa kịp bước qua một phần tư thế kỷ, văn chương Việt Nam hải ngoại đă nhảy qua ba giai đoạn: viết về quê hương, tù đày, khốn khó, hoài niệm, quá khứ bằng tiếng Việt; chuyển dịch [chuyển ngữ?] những trang chữ tràn ngập dĩ văng sang Anh ngữ [Pháp ngữ]; và giờ đây, chính những người trẻ tuổi này đă viết thẳng từ trái tim của họ ngôn ngữ của dân tộc mà họ đang sống với.

Nhưng liệu có thể gọi những tác phẩm của những người trẻ tuổi Việt Nam này viết bằng thứ ngôn ngữ không phải của mẹ đẻ - dù đề tài của nó vẫn là Việt Nam, nhân vật Việt Nam, khung cảnh Việt Nam - là văn học Việt Nam?

Nhà văn Nguyễn Quí Đức cho rằng tuy viết bằng Anh ngữ, nhưng linh hồn, tinh thần vẫn c̣n mang ảnh hưởng của văn hóa và lịch sử đất nước, vẫn c̣n gần gũi với kinh nghiệm người đi trước. Chỉ khác là họ dùng hư cấu để nói lên kinh nghiệm, thay v́ dùng tự truyện hay hồi kư, và do đó đem vào tác phẩm một khả năng phổ cập. Chính những tác giả có quyền chọn chỗ đứng cho chính ḿnh."

Trước đây vào thập niên 50, Cung Giũ Nguyên, tác giả Le Fils de La Baleine, là một nhà văn được biết ở Pháp và ở những nước nói tiếng Pháp. Cũng giống như vậy cho Phạm Duy Khiêm, tác giả Légendes des Terres Sereines. Trong văn học Việt Nam, người ta không ghi danh hai ông vào danh sách nhà văn Việt Nam.

Cao Hành Kiện, Nobel Văn Chương, tác giả Linh Sơn, viết bằng tiếng Hoa, nhưng khi ông nhập tịch Pháp, viết bằng tiếng Pháp, giải Nobel trao cho ông như trao cho một nhà văn Pháp; trường hợp Nobel Văn Chương V.S. Naipaul cũng tương tự. Ông đă mang danh dự về cho nước Anh, không phải cho xứ Trinidad của ông. Và như thế cho Amy Tan (The Joy Luck Club), cho Maxine Hong Kingston (The Woman Warriors), cho Henry Wang (The Golden Child). họ đâu phải là nhà văn Trung Quốc. Họ là những nhà văn Hoa Kỳ trong ḍng chính của văn học Mỹ.

Họ đă nhập vào đất nước họ đang sống, suy nghĩ bằng thứ ngôn ngữ của người bản xứ, phản ứng như một người Mỹ - hay một người Anh hoặc Pháp - tác phẩm của họ cho dù là một cuộc du hành trở về nguồn cội, t́m lại một quá khứ mà họ chưa có, có chăng chỉ là một nỗi đau ngay từ gia đ́nh bơ vơ những ngày trên đất mới, và sự hội nhập của gia đ́nh và chính họ.

So với các nhà văn Trung Quốc, Ần Độ hay Nhật Bản viết bằng Anh ngữ hiện nay, có thể các nhà văn trẻ Mỹ gốc Việt chưa đủ trọng lượng, vài người c̣n bị nặng h́nh thức và kỹ thuật diễn tả, có những bước dọ dẫm, nhưng đă sao, họ c̣n trẻ, c̣n nhiều hứa hẹn. Họ là những nhà văn Mỹ đang bước vào ḍng chính của văn học bản xứ, bằng thứ ngôn ngữ phổ biến và được đọc nhiều nhất hiện nay trên thế giới.

Dù sao, họ đang đóng góp vào văn học Hoa Kỳ những tiếng nói mới. Liệu tiếng nói ấy có được nghe? Liệu văn chương của họ có chiếm lĩnh những chỗ đứng đặc biệt trong thế giới chữ nghĩa vốn mỗi ngày mỗi tháng mỗi năm tràn ngập những đầu sách của những người viết mới tài năng và sâu sắc? Sự tồn tại của tác phẩm họ cần được thử thách qua ngọn lửa thời gian. Nó đ̣i hỏi không chỉ là ḷng đam mê chữ nghĩa mà c̣n tài năng của họ. Nếu không, những tác phẩm ấy rồi cũng sẽ nhanh chóng rơi vào quên lăng.*

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

* Tạp chí Văn hiện đang chuẩn bị làm một số đặc biệt về những nhà văn Mỹ gốc Việt với các tác giả nói trên (cùng với Lan Cao, Đinh Linh,...) qua sự điều hợp của nhà văn Nguyễn Quí Đức.



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home