30 NĂM NH̀N LẠI … NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM
NGOÀI VÀ … TRONG
Nguyễn Xuân Hoàng



Thử đọc lại những bài thơ của Cao Tần (1) và những lá Thư Nhà của Vơ Phiến, những bài thơ Thanh Nam, Nguyên Sa, Viên Linh, Du Tử Lê, … những ḍng chữ đầu tiên viết trong đợt di tản đầu tiên của người Việt trên đất mới, rồi sau đó là Mai Thảo, Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Thảo Trường, Tạ Tỵ, Trần Dạ Từ, Nhă Ca, Tô Thuỳ Yên, Thanh Tâm Tuyền, và những đợt người vượt biên ào ạt cao độ vào những năm 80, những chuyến bay ODP đoàn tụ gia đ́nh và H.O. mang theo dần dần từng đợt những người viết Sài G̣n c̣n lại …. mang theo những trang viết nóng hổi của một thời sự lao khổ, lao tù và phân biệt….

Ba mươi năm, những trang viết chiếm một số lượng không nhỏ trong tủ sách gia đ́nh ngựi Việt lưu vong/tha hương. Những người viết cũ, không ít người viết mới đă đến và đi.

Mai Thảo, Nguyên Sa, B́nh Nguyên Lộc, Trần Hồng Châu-Nguyễn Khắc Hoạch … đă chia tay chúng ta. Giờ đây, trong khi Vơ Phiến, Doăn Quốc Sỹ,… đang bắt đầu lơi tay “chấm bút vào một lọ mực chữ nghĩa”, người ta vẫn có thể c̣n đọc Vơ Đ́nh, Phan Nhiên Hạo, Nguyên Hương, Nguyễn Danh Bằng,…. [ở Mỹ], Thụy Khuê, Trần Vũ, Mai Ninh, Miêng, Thuận… [Pháp], Nam Dao [Canada], Hoàng Ngọc-Tuấn, Nguyễn Hưng Quốc [Úc], Lê Minh Hà, … [Đức],… những cây bút sâu sắc và đầy sức sống cùng một loạt những người viết mới không viết trực tiếp bằng tiếng Việt mà bằng tiếng bản xứ: Kim Lefèvre [Métisse Blanche], Linda Lê [Voix], Nguyễn Quí Đức [Where the Ashes Are…], Lan Cao [Monkey Bridge], Đinh Linh [Diorama, Drunkard Boxing…], Monique Truong [the Book of Salt], Le thi Diem Thúy [The Gangster We Are All Looking For], Mộng Lan, [Song of the Cicadas], Andrew X. Pham [Catfish and Mandala], Andrew Lam [Forever Tigers, Drinking Tiger Soup…], Kiên Nguyễn [The Unwanted, Tapesteries, The Colonial]…..

Giữa hai lớp người này là một loạt những nhà văn đă góp tay làm phong phú thêm cho nền văn học hải ngoại . Chính họ trong 30 năm qua đă làm cho văn chương hải ngoại được mùa và trên cánh đồng đó không lúc nào ngừng gặt hái hoa quả xanh tươị

Tôi không thể kể hết những tên tuổi ấy ra đây, v́ kể cách nào cũng sẽ là thiếu sót, nhưng tôi biết bên những người lơi tay vẫn c̣n nhiều người sung sức.


Nhưng nổi bật, theo tôi, có thể kể đến Trần Vũ, và sâu sắc, không thể không nhắc đến Vơ Đ́nh….

Đó là người viết, c̣n người in th́ sao ?

Vai tṛ của các tạp chí văn học như Văn Học, Văn, Hợp Lưu, Việt, tạp chí Thơ, Phố Văn, Gió Văn… vói Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Khánh Trường, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Xuân Thiệp, Khế Iêm, Nguyễn Thị Thanh B́nh, Hàn Song Tường,.. là cái gạch nối cần thiết giữa người viết và người đọc. Đó cũng là mănh đất cho những người viết mới có chỗ mà trồng trọt.

Và các nhà xuất bản nữa chứ. Nổi nhất là Văn Nghệ của ông Vơ Thắng Tiết, song song là Thanh Văn của Châu Văn Thọ, và giờ đây không thể không nhắc đến là Văn Mới của anh Nguyễn Khoa Kha .

Trong nhiều năm nhà xuất bản Văn Nghệ của ông Vơ Thắng Tiết ở nam California đă giới thiệu đến chúng ta – những người Việt lưu vong trên toàn thế giới - tác phẩm của những tác giả mà giá trị văn học của nó không thể chối căi . Mấy năm qua, sức khoẻ không cho ông Vơ tiếp tục công việc in ấn và phát hành, người ta thấy nhà xuất bản Văn Mới của anh Nguyễn Khoa Kha, tiếp tay ông Vơ, và giờ đây gần như hoàn toàn thay thế Văn Nghệ. Người ta cũng không quên nhà xuất bản An Tiêm của ông Thanh Tuệ, ở Pháp, vừa mới trở lại hoạt động, nhưng trong khi nhiều dự tính của ông chưa hoàn tất th́ ông đột ngột ra đi . (2)


Người ta hỏi văn học hải ngoại sẽ đi về đâu sau 30 năm?

Tất nhiên đó là câu hỏi không dành cho những người viết văn bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh – giống như trường hợp các nhà văn Phạm Duy Khiêm, Phạm văn Kư, Cung Giũ Nguyên, … trước đây - và những Monique Truong, Le thi Diem Thuy, Andrew X. Pham,… hiện nay . Mặc dù, những tác giả này đích thực là ngựi Việt Nam, nhưng liệu có thể gọi họ là nhà văn Việt được không?

Linda Lê trong cuốn Tu écriras sur le bonheur [nxb PUF, Paris 1999] có kể câu chuyện ở Việt Nam, tại một địa điểm cách Hà Nội chẳng bao xa, xảy ra một sự việc nho nhỏ. Có một anh nông dân 20 tuổi được đưa vào bệnh viện điều trị v́ anh bị đau bụng dữ dội . Bác sĩ giải phẩu lôi được từ trong bụng anh ra một bào thai nặng hai kí lô, với cái đầu đầy tóc và đầy đủ tứ chi, nhưng đă chết từ hồi nào . Người mẹ của anh nông dân kể với mọi người rằng hồi sanh anh, bà ngạc nhiên khi thấy chỉ có một ḿnh anh chào đời, bởi v́ bà nghĩ ḿnh phải sanh đôi mới đúng. Nhưng chắc hẳn v́ có trục trặc sao đó trong sự cấu tạo nên cái bào thai thứ nh́ chui tọt vào bào thai thứ nhất và nằm ĺ trong đó. Trong suốt 20 năm trời cái bọc bào thai đó cứ tiếp tục tăng trưởng trong bụng anh chàng nông dân trẻ tuổi….. “Quê hương tôi, tôi mang theo nó y hệt như anh chàng nông dân trẻ tuổi nọ đă mang cái bào thai của ngựi anh em song sinh như vậy . Quê hương ấy đă chết và cô đi t́m một quê hương khác, đó là văn chương. Một người lưu đầy khi chọn văn chương làm nơi cư ngụ sau khi đă từ bỏ ngôn ngữ của ḿnh, chấp nhận một ngôn ngữ khác để viết “chẳng khác nào làm t́nh với một thây ma .”

Đă có nhà văn Việt nào viết trực tiếp bằng tiếng Anh có suy nghĩ như thế không?


Nhiều người nhắc đến hiện tượng lăo hoá trong văn học Việt Nam – như Nguyễn Mộng Giác đă có lần nói trong tạp chí Văn Học, thời ông chủ trương (3) - theo đó, văn học hải ngoại không được tiếp nối tiếp sức bởi người trẻ.

C̣n trong nước th́ sao ?

Sau Nguyễn Huy Thiệp [Tướng Về Hưu,…], Phạm Thị Hoài [Thiên Sứ, Ma-ri Sến,…. nay đă sống tại Đức], người ta thấy Tạ Duy Anh [Bước Qua Lời Nguyền], Bảo Ninh [Nỗi Buồn Chiến Tranh],….nhưng h́nh như sau đó, sau chiếc ghế của những cây bút trên là một khoảng trống chưa có ai ngồi .

Trên Evăn [21/01/2005], ông Nguyễn Hoà, dưới tựa đề Văn Chương Việt Nam 2004 – Oằn Ḿnh Giữa Nhập Nḥa Cũ Mới – cho rằng “’Cái mới’ đang là khát vọng với những chấm phá chưa định h́nh, và ‘cái cũ’ hằng ngày vẫn ám ảnh đâu đó trong sự vận hành của từng cây bút – đó là t́nh trạng mà mấy năm rồi, văn học Việt Nam đang cố gắng vượt qua để chuyển ḿnh đổi mớị Văn học năm 2004 cũng vậy, nó ‘nhập nhoà’ giữa sự ra đời của những tác phẩm, những sự kiện khiến người ta vừa có điều ǵ đó để hy vọng, vừa khiến người ta không khỏi lo âu .” Dù vậy, bài viết của ông đă đưa ra một cái nh́n lạc quan vào văn học Việt Nam [trong nước] khi ở cuối đoạn ông gọi bài viết Hoa Thủy Tiên của Nguyễn Huy Thiệp là “mục hạ vô nhân”, gọi Thiệp là “nạn nhân đáng thương của tham-sân-sị” Ông Nguyễn Hoà cho rằng ông nhận thấy [ở Việt Nam] “đă có những tín hiệu mới xuất hiện trên một số phương diện của văn chương, văn học ….”

Nhưng chỉ bốn ngày sau, cũng trên mạng Evăn [25/01/2005], ông Đỗ Ngọc Yến, - dưới tựa đề Đời Sống Văn Học 2004 – Mừng hay Lo ? – đă không chia xẻ ư kiến đó. Ông viết: “Nh́n lại đời sống văn học nước nhà trong năm 2004, nhiều người trong giới sáng tác, phê b́nh cho rằng nó mới đáng buồn làm sao . Dường như cả năm không hề có một hiện tượng văn học nào để lại dư âm trong ḷng công chúng.” Ông cho biết thơ th́ in ra “chủ yếu là để tặng bạn bè”, c̣n văn xuôi th́ “dường như mất mùa .”

Cách đây 2 năm, nhà văn Nguyên Ngọc từ trong nước qua Mỹ đă đưa ra một nhận định: “Từ sau năm 1975, và kéo dài cho đến gần chục năm ... văn học Việt Nam bỗng nhiên rơi vào trong một t́nh trạng bất ngờ: nó mất hẳn độc giả. Người ta viết nhiều hơn, các nhà văn có bao nhiêu thuận lợi mới so với thời chiến tranh: thời giờ nhiều hơn, không c̣n ác liệt căng thẳng, vốn tích lũy trong cuộc chiến tranh dài rất phong phú, lại được mở mang giao lưu trong ngoài... Song sách in ra nhiều nhưng lại ế hẳn đi . Người đọc quay lưng lại với văn học trong nước, người ta chỉ c̣n đọc sách nước ngoài, và đọc văn học... cổ.” (“Văn xuôi Việt Nam hiện nay...” bài đăng lại trong Nhịp Sống số 9, 2004, trang 83)


Nếu gọi nền văn học hải ngoại sau 30 năm đang ở t́nh trạng lăo hoá th́ văn học trong nước với trên 80 triệu người, đọc và viết tiếng Việt, hiện tượng buồn thảm ấy sẽ gọi là ǵ?

NGUYỄN XUÂN HOÀNG
Tháng Giêng, 2005

(1) Ôi trong ví mỗi người dân mất nước
C̣n một oan hồn mặt mũi vu vơ
Ôi trong trí mỗi anh hùng thuở trước
C̣n dậy trời lên những buổi tung cờ….[1977]

(2) Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc đến các trang web có số lượng người đọc rất lớn, rất thời sự và rất phổ biến: Talawas của Phạm Thị Hoài và Tiền Vệ của Nguyễn Hưng Quốc….

(3) T́nh trạng lăo hoá trong sinh hoạt văn học, in lại trong cuốn Nghĩ Về Văn Học Hải Ngoại, nxb Văn Mới 2004: “Ở đâu có lực lượng nồng cốt để văn chương phát triễn [cũng phải] là lớp trẻ, học sinh, sinh viên, công chức, quân nhân. Như Tolstoi từng viết, những ông già bụng phệ kư giấy tuyên chiến, nhưng người cầm súng tấn công lúc nào cũng là thanh niên. Văn chương cũng thế. Mơ ước văn chương cất cánh hay trẻ trung hoá, mong ước xông pha vào những con đường mới mẻ kỳ thú … chỉ có thể biến thành hiện thực khi có giới trẻ tham gia vào cuộc xuống đường. Giới trẻ ở hải ngoại có tham gia vào sinh hoạt chữ nghĩa không?”

*Copyright by vanmagazine.saigonline.com, permitted by author to be printed in NHA magazine 3/2005.

Miễn trích đăng lại dưới mọi h́nh thức nếu không có sự đồng ư của tác giả.



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home