nobel văn chương 1999 gunter grass:
NGÀY MAI LÀ NGÀY HÔM QUA
Nguyễn Tuấn Anh



Đó là câu mở đầu một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Đức, “Gặp gỡ ở Westphalie”. Sau cuộc Chiến Tranh Lớn 1939-45, những ǵ c̣n lại đối với nước Đức của ông chỉ là những mảnh vụn, và một nền văn chương đă phát sinh từ đó: văn chương của những mảnh vụn, những điêu tàn. Đề tài của Grass: phản ứng của những nhà văn như ông trước những mảnh vụn. Sau sự tận cùng, là ngôn từ: làm thế nào, sau Hitler, những ng̣i bút Đức viết lại sự sống, “Vũ trụ luận”? Làm thế nào họ phá huỷ, rồi tái tạo ngôn ngữ; làm thế nào họ sử dụng ngôn từ để tấn công, lột trần, chấp nhận, cưu mang, rồi tái tạo; làm thế nào con chim phượng hoàng tḥ cái mỏ của nó ra khỏi biển lửa?

Heinrich Boll, nhà văn Đức cùng thời với ông, Nobel văn chương, đă viết: Chúng ta chẳng có bất cứ một lư do ǵ để hổ thẹn về một nhăn hiệu như thế... Chúng ta nh́n sự vật như chúng là, với con mắt trần tục, thường không hoàn toàn khô, và cũng không hoàn toàn ướt, nhưng mà là ẩm, bởi v́ chúng ta đừng quên, từ la-tinh diễn tả “ẩm”, là humor (diễu cợt).

Nếu Grass hay “chọc quê” những đồng bào của ông, ngược lại, ông ít chú ư đến chuyện, ông là mục tiêu “tàn sát” của giới phê b́nh. Gần như cuốn nào của ông cũng bị “làm thịt”. Cuốn mới nhất, “Tất cả câu chuyện” (Ein weites Feld), cũng chẳng tránh được điều này. Đề tài của nó: chuyện thống nhất nước Đức. Đó là năm 1989, bức tường Bá Linh vừa sụp đổ. Hai nhân vật kỳ cục: Theo Wuttke, biệt danh Fonty, nhân viên cơ quan chuyên việc tư hữu hóa kinh tế Đông Đức, và c̣n là “tái đầu thai” của nhà văn Đức Theodor Fontaine (1819-1898), và cái bóng của ông ta, Hoftaller, “đời đời” mật vụ Stasi. Cả hai, những khi ngừng tranh luận, lại đưa mắt nh́n công cuộc tái thống nhất, trong lúc những người chuyên bán kỷ niệm rao to món hàng: những mảnh vụn của bức tường.

Bị coi như một “pamphlet” chống lại việc thống nhất, cuốn sách vừa ra ḷ đă bị chỉ trích nặng nề tại Đức, vào năm 1995. Trong một số báo Spiegel, trên trang b́a là h́nh Marcel Reich-Ranicki, được mệnh danh là “giáo hoàng của giới phê b́nh”. H́nh chụp giáo hoàng đang xé bỏ cuốn sách, và bằng một giọng “buồn phiền giả đ̣”, ngài phán: đây là một cuốn tiểu thuyết thất bại, chê trách Grass lại một lần nữa “quay lưng” với chuyện thống nhất đất nước.

Chiến dịch của giới báo chí và phê b́nh chẳng làm nản ḷng người đọc, ngay từ những tuần lễ đầu, hàng trăm ngàn ấn bản đă được bán ra. Nó đă nổi tiếng, tại Pháp, trước khi được dịch.

Nhân dịp nhà xuất bản Seuil tung ra bản dịch tiếng Pháp, “Toute une histoire”, tờ “Lire” đă phỏng vấn Grass. Về chuyện báo chí, giới phê b́nh tấn công cuốn sách, ông cho biết, họ đă có định kiến về ông, trước khi có cuốn sách. Nhưng ông không nghĩ họ “sa đọa” đến mức trương ra tấm h́nh “xé sách” như trên. Tuy nhiên, thành công, và những lời khích lệ ông là từ phía độc giả và giới phê b́nh phía đông nước Đức.

Nhưng tại sao lại có sự hung bạo đến như thế? Lưù do là, “người ta” thường viết dưới quan điểm của những người thắng trận, c̣n ông chỉ muốn đụng vào đề tài cấm kị (tabou). Trong cuốn “Cái trống” của ông, cũng t́nh trạng như vậy: tác giả đă đập nát h́nh ảnh về một thời đại huy hoàng, thay vào đó, là cái nh́n của một đứa trẻ ba tuổi. Trong “Tất cả câu chuyện” là một chủ nghĩa tư bản buông xuôâi, ba vạ, một chủ nghĩa tư bản mà chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xă hội đă bị bắt buộc phải chứng tỏ là nó văn minh hơn chúng. Một chủ nghĩa tư bản sau khi đă thắng trận rồi, cảm thấy rằng đâu có cần phải tỏ ra văn minh, và lúc này có thể quay về với chủ nghĩa tự do man rợ. Chuyện đó cũng chẳng mới mẻ ǵ. Mới mẻ là chuyện, mọi người đă tỏ ra muốn làm một điều ǵ đó, để thay đổi t́nh trạng này. Và đó là lư do ông viết “Tất cả câu chuyện”.

Về câu hỏi quan trọng, tại sao cuốn sách bị chụp mũ “chống thống nhất”, ông trả lời: chuyện thống nhất đất nước đúng ra là đă có thể xẩy ra vào năm...1975, ấy chết, xin lỗi, vào năm 1989. Chính v́ vậy nên đây là một câu hỏi “ đau thương, nhức nhối”. Thống nhất đă khả hữu mà chẳng cần đến một phát súng. Tất cả đă “ngon lành”, rồi đùng một cái, mọi chuyện rối tung lên, hỏng bét. Đến lúc đó, tôi đưa ra lời giải thích, rằng chẳng có chi là b́nh thường, câu chuyện Tây Đức tự coi ḿnh như là một sức mạnh thuộc địa, chiếm cứ cả đất nước, rồi hè nhau nắm trọn mọi chức vị quan trọng, mọi trách nhiệm. Người ta c̣n đổ lên đầu một “phía dân”, gánh nặng cuộc chiến mà đáng lẽ cả dân tộc phải cùng chịu đựng.

Liệu có thể có một “thống nhất” khác? Theo ông, điều này phải dựa trên một cơ bản vững chắc, đó là chế độ liên bang. “Cơ cấu xă hội chúng tôi không như Pháp: Paris ở một phía, phía kia là tỉnh lỵ. Chúng tôi không có thủ đô: ngay cả Berlin cũng không “sáng ngời” như Paris, Luân đôn, hay Varsovie. Chúng tôi có quá nhiều thủ đô, quá nhiều trung tâm; đó là t́nh trạng chia sẻ của nước Đức sau cuộc chiến 30 năm. Đây cũng là sức mạnh của chúng tôi. Nhưng khi chúng tôi muốn bắt chước những nước láng giềng, cũng muốn một chủ nghĩa trung tâm (centralisme), câu chuyện đă không xuông xẻ. Bismack, rồi Hitler là những toan tính, cuối cùng là thảm họa. Tôi tin rằng những quốc gia láng giềng, vốn đă đau khổ v́ nước Đức, họ sẽ được yên tâm hơn, nếu 80 triệu dân Đức cứ tiếp tục con đường liên bang của họ. Nhưng chẳng ai chịu nghe tôi cả!

Đức quốc là như thế nào đối với ông? Một dân tộc, một quốc gia, một văn hóa?

Vấn đề này thật phức tạp. Dây liên lạc bền nhất, theo tôi, là ngôn ngữ, tiếng Đức. Nhưng tiếng nói này không liên can tới một dân tộc. Người Áo cũng nói tiếng Đức. Tôi không sống như một nhà văn Đức, nhưng như một nhà văn của tiếng Đức.

Nếu chỉ nói chuyện nhà văn, thế hệ của tôi không làm chủ, những lựa chọn của ḿnh: những đề tài của tôi đă có sẵn, đă được “chỉ định”: chế độ Nazi, những hậu quả của nó. Tôi phải viết những cuốn sách như thế, dù muốn dù không: Cái trống, Những năm chó (Les années de chien). Những đề tài này vẫn c̣n đó.

Phải chấp nhận thực tế hiển nhiên là chúng tôi đă gây chiến, phạm những tội ác và phải trả giá. Nói ǵ th́ nói, đối với một nhà văn, mất mát luôn luôn là thu nhập, là cái có được (gain). Chính nó đem đến cho anh ta ám ảnh, sức mạnh viết, làm bật ra những ǵ mất mát, để tái tạo lại. Tương quan giữa tôi và nước Đức là như vậy. Nó là tổ quốc làm tôi đau, đau nhiều lắm. Theo nghĩa đó, tôi hiểu câu nói của Adorno, “Sau Auschwitz mà c̣n làm thơ th́ thật là dă man”, đây không phải là chuyện ngăn cấm làm thơ, mà chỉ là một cảnh cáo, một hăm dọa mang tính tiên tri, giống như câu đă được viết trên tường Babylone “Mane, theel, pharès”, để cho ai cũng phải nh́n thấy. Vẫn phải tiếp tục viết, nhưng sau Auschwitz, người ta không làm những bài thơ như trước nữa. Tôi c̣n nhớ, vào năm 1990, có một đường hướng văn nghệ chủ trương hăy trở về với “không giờ” (heure zéro), hăy lên tiếng, đây là cáo chung của văn chương dấn thân, hăy trở lại với thẩm mỹ học thuần tuư. Khi đó, tôi có đưa ra nhận xét, trong một buổi nói chuyện: kẻ nào muốn thống nhất nước Đức, kẻ đó phải ôm diết lấy Auschwitz.

Ông là một người bi quan? Một kẻ hồ nghi, chứ không phải bi quan. Đó là nguyên tắc của Sisyphe. Hồi trẻ, tôi bị ảnh hưởng bởi Camus. Sisyphe chẳng c̣n chút hy vọng, anh ta biết ḥn đá lại rớt xuống, nhưng anh ta không thể bi quan.

NGUYỄN TUẤN ANH
1999



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home