CĂN NHÀ KHÔNG CÓ CỬA SAU
Nguyễn Thị Thảo An



Năm lên sáu, tôi về quê sau khi mẹ mất. Căn nhà ngoại phía sau giáp sông cửa Tiểu, khúc ngang cù lao Tân Thới. Dọc bờ sông, nhiều loại bần hoang mọc um tùm, có chỗ cành oằn, trái chấm mặt nước. Những lúc rỗi, tôi thích ra bờ sông sau vườn, ngồi trên chiếc xuồng mục neo gần đó, ngắm mây, nghe sóng vỗ. Sợ tôi buồn, ngoại cũng theo ra và nghe tôi hỏi những câu vớ vẩn. Đại loại: “Ai trồng bần nhiều thế hở ngoại?” “Bần hoang, không ai trồng hết.” “Bần chua lắm,” Tôi nhăn mặt, nuốt nước miếng. “Sao ngoại không đốn, trồng thứ khác.” “Bần mọc sát bờ để giữ đất.” Bà chỉ vào chỗ đất lõm, nơi có chiếc xuồng neo, “Không có bần chặn, sóng đánh lở đất còn gì?”

Tôi nhìn ngọn nước mấp mé liếm vào bụi rễ bần trần trụi, hỏi: “Thế sóng vỡ đất mang đi đâu?”

Ngoại nhìn ra xa, phía có dải đất trồi lên từ mặt nước. “Sóng mang đất qua bên kia, bồi thành cù lao Tân Thới.” Rồi bà kéo tôi vào lòng, “Đất, bên này lở thì bên kia bồi. Đời người cũng vậy, mất cái này được cái khác là lẽ thường.” Xong, bà hôn vào trán tôi nhiều cái. Tôi hiểu ra cảm động lắm. Ý bà muốn nói, tuy mất cha mẹ nhưng còn có ngoại, dì, cậu, ai nấy đều thương tôi. Thời gian sau, ngoại không còn theo tôi ngắm sông. Nhưng vẫn sợ tôi buồn, bà giao bầy gà cho tôi chăm sóc. Sáng sớm, tôi rải thóc sẵn trước cửa chuồng, rồi đi học. Tới chiều, tôi dẫn chúng ra bờ sông ngồi đợi gió nồm từ phương xa thổi tới.

Gần cuối năm, lá bần rụng vàng ven sông. Đàn gà lớn nhanh như thổi. Những chú gà con mới đó đã cao gần bằng mẹ. Bộ lông vàng mượt bắt đầu trổ sang màu cánh gián. Thời gian gần tết, gà mẹ lại bắt đầu đẻ. Tôi bận rộn lo lót ổ cho nó nằm ấp trứng. Trong lúc đi kiếm cọng kẽm để treo máng nước, tình cờ tôi bắt gặp một nhúm lông gà ướt nhẹp, bị vùi sau sàn nước. Hớt hãi chạy khắp vườn, tôi chu miệng kêu “chíp chíp” liên hồi. Điểm quân, mất hai con mái tơ đẹp nhất. Buổi chiều, tôi bất lực nhìn trên bàn thờ: một cặp gà luộc, hai cánh và giò bị bẻ quặt để gài cái đầu ngẩng lên trong dáng tế lạy; đằng sau, cái đít chỏng lên rỏ những giọt mỡ vàng tươi béo ngậy. Tôi giận dỗi bỏ bữa chiều trước sự ngạc nhiên của cả nhà cậu mợ. Ngoại chạy theo dỗ:

“Gà nuôi để ăn thịt. Trên đời đâu có ai để gà chết già đâu con.”

Nghĩ tới gà mẹ đang nằm ấp lứa con mới trong ổ, không biết cái chết đang chờ đợi cả đàn, tôi khóc rống.

“Gà mẹ mất con, nó khổ lắm.”

“Con gà đâu biết khổ như người.”

“Ngoại không là gà, sao ngoại biết?” Tôi tấm tức, hỏi vặn.

Ngoại lúng túng, “Nó không biết con nó chết.”

“Mợ vứt lông gà đằng sau, nó thấy nhận ra ngay.”

“Ừ, để ngoại giấu lông gà. Nó tưởng con nó đi xa thôi.”

Trên đường về, ngoại nói: “Con gà mau quên lắm, thấy hạt thóc thì vui.” Câu an ủi của ngoại làm tôi an tâm. Và tin, trong hạt thóc chắc có sự mầu nhiệm nào đó.

Ít lâu sau, thấy tôi không có bạn, vả trường quê dạy lấy lệ nên ngoại dẫn tôi trở về Sàigòn, gởi dì nuôi ăn học. Dì là chị kế của mẹ. Theo vai vế, tôi phải gọi các con của dì là anh hay chị, kể cả cái thằng nhỏ còn ăn đút. Dì cưng tôi một cách đặc biệt. Hễ có món ăn ngon, dì để phần tôi nhiều nhất. Có quà ai cho, tôi được ưu tiên chọn trước. Khi chúng tôi cãi nhau, dì bênh tôi hơn con ruột. Tôi cảm động hiểu, dì muốn bù đắp nỗi bất hạnh cho tôi. Nhưng đó cũng là nguyên nhân khiến tôi bị nhiều người ganh tị. Tôi ít dịp gần gủi với người chị lớn. Mấy đứa nhỏ hơn, thường ra oai bằng cách cố kiếm cớ gọi, chỉ cốt nghe tôi “Dạ” rồi xúm nhau cười khoái trá. Tôi bực, nhưng không chấp. Người làm tôi hãi là chị Tú, hơn tôi hai tuổi. Đứng bên chị, tôi mới hiện rõ là một con bé nhà quê, vụng về. Chị lanh lợi, xinh xắn như con búp bê Nhật, làm ai thấy cũng thương. Dì cứ nghĩ, chúng tôi sàn tuổi dễ làm thân nên cố gán hai đứa gần nhau cho có bạn. Cái gì dì sắm cho chị, thì cũng cho tôi một cái y hệt. Từ quần áo, giày dép, cặp vở, đồ chơi... Tới nỗi trong trường, nhiều người tưởng chúng tôi là cặp sinh đôi. Sự hiểu lầm chỉ khiến tôi mỉm cười. Còn chị nghĩ gì, có trời mới biết.

Trường học ở phía bên kia con đường rộng, đông xe cộ. Mỗi sáng, dì dặn: “Bận đi, bận về con chờ nắm tay em băng qua đường, nghe.” Chị dạ, rất ngoan. Nhưng khi nắm tay dắt tôi đi, chị đã dùng hết sức để siết. Lúc buông ra, tôi nhìn bàn tay đỏ ửng, chảy nước mắt. Còn chị vào lớp, tỉnh queo.

Buổi tối, chúng tôi ngủ chung với chị lớn trên bộ ván vừa ba người nằm. Thường tôi học bài trễ nên vào sau, nằm mé ngoài. Chị Tú lúc nào cũng giành nằm giữa. Tới khi mọi người ngủ say, chị day vào trong rồi bất thần dùng sức, chu mông tống thẳng thật mạnh, tôi rơi bịch xuống đất. Một chút sau, tôi nghe tiếng cười khúc khích ém trong gối của chị.

Thường ngày, chị ưa bắt nạt, trêu tôi vô cớ. Nhiều lần chị rình lấy con búp bê của tôi, bẻ chân tay rồi liệng ngoài hè. Tệ hơn, chị là chúa ăn quà chịu, rồi gài tôi trả tiền. Thuở nhỏ, tầm mắt ngắn. Tôi thấy khổ vớià những trò vặt do chị bày ra. Một hôm, con nhỏ lớp trưởng vô tình đẩy tôi té trong lúc chào cờ. Từ lớp kế bên chị xông tới làm dữ, nó đâm sợ. Cuối cùng, chị bắt nó xin lỗi tôi.

Chiều trên đường về, chị nói: “Mày thật ngu, bị nó chèn cứ làm thinh?” Tôi nói đỡ: “Chắc nó không cố ý. Vả, nó xin lỗi rồi.” “Không có tao, đố nó xin lỗi mày.” Chị hứ một tiếng thật dài. Rồi đột nhiên hỏi, giọng nghi ngờ: “Trước giờ, ai ăn hiếp mày nhiều nhất?” Tôi chưng hửng, lẽ nào chị không biết chị chèn tôi đến nghẹt thở. Trong khi tôi chưa hết ngạc nhiên, chị lên giọng kẻ cả:

“Mày phải biết, đứa nào muốn chọc tức mày, mà mày phớt tỉnh, kẻ tức chính là nó. Đứa nào dữ với mày, mày phải dữ hơn nó, nó mới sợ.”

Rồi sợ tôi quên, chị dặn đi dặn lại: “Từ rày có ai bắt nạt, phải nói tao nghe.” Tôi xúc động, không ngờ chị bênh tôi vậy. Lời chị bảo, thật có lý. Chỉ cần học được nửa điều, cũng vô hiệu hóa những trò trêu của chị. Trong lúc tâm đắc, tôi cười ý nhị. Chị trông thấy, nhiếc: “Ngốc ơi ngốc, vậy còn cười.” Lần này bị mắng, tôi càng cười to.

Dì tôi là người có nhan sắc trung bình. Năm mười bảy tuổi, ngoại gả cho con trai người bạn thân trên Sàigòn. Ngày cưới, dì mới biết mặt chồng. Chừng có năm mặt con, dượng tôi dọn ra riêng với người vợ mới. Hàng tháng, dượng về thăm con và cấp dưỡng. Nhưng tuyệt nhiên, không ở lại đêm nào. Thời chiến tranh lan rộng, các hãng buôn ngoại quốc rút vốn về nước. Chỉ ít lâu sau khi dượng thất nghiệp, người vợ mới bỏ đi. Dượng trở về ngôi nhà cũ, nhẫn nhịn nghe những lời nhiếc móc của dì. Nhưng khi say, ông chửi đời, chửi đàn bà, rồi khóc lóc, kể lể như một đứa trẻ bị điều oan. Cũng có lúc men rượu khiến ông trở nên hung dữ, nhầm lẫn giữa người vợ cũ và vợ mới, rồi đánh đập dì về tội bỏ rơi ông. Khi tỉnh rượu, ông xin lỗi và cười hiền khô. Mãi về sau, thời gian ông say nhiều hơn tỉnh, dì quyết định ra riêng.

Ngoại tôi bán hai công đất thuộc phần ruộng hương hỏa giúp dì mua lại một căn nhà nhỏ trong con hẻm ở Ngã Sáu. Nhờ bạn bè giúp, chỉ thời gian ngắn dì kiếm được một chân đánh máy trong Phòng Hành Chánh Quận. Ổn định xong, dì dẫn tôi theo.

Cuộc sống mới làm dì thay đổi hẳn. Mỗi sáng, dì bôi phấn, kẽ lông mày và vận chiếc áo dài thêu hoa tươi rói. Dì hôn tôi, rồi đi làm. Lúc được hôn, tôi tham lam nhún mũi hít một hơi dài. Mùi phấn thơm ngây ngất làm tôi quên béng, kiểu hôn lạ không biết dì bắt chước ở đâu.

Mỗi cuối tuần, dì đèo tôi trên chiếc xe gắn máy về thăm con. Hàng xóm trầm trồ khen dì đẹp và trẻ ra nhiều. Các anh chị tôi ai nấy đều hãnh diện. Chỉ có dượng nghe xong, thở dài.

Đôi lúc, tôi ở lại căn nhà cũ mấy ngày để dì thay phiên chở những đứa khác qua chơi bên căn nhà mới. Được ở gần mẹ như được nhận một đặc ân, các anh chị tôi tranh đi tới cãi nhau. Lần nào cũng vậy, rốt cuộc ít ai giành lại chị Tú.

Một hôm trở về, vừa xuống xe chị lôi tôi ra sau vườn hỏi,:

“Mày biết chú Sửu?”

Tôi gật đầu: “Ừm,... chú là bạn của dì.”

“Bạn như thế nào? Mắt chị lộ vẻ nghi ngờ, “Chú tới chơi thường không?”

Tôi còn ngẩn người suy tính, không biết bao nhiêu lần trong tuần mới được coi là thường, thì chị ký vào đầu cái “cốc”, mắng:

“Mày ngu, chú Sửu tới chơi sao không cho tao biết.”

“Ổng tới,... đâu có gì quan trọng đâu.” Tôi xoa đầu, hít hà.

Chị thầm thì, giọng nghiêm trọng: “Tao nghi mẹ... thương chú Sửu.”

Tôi nhảy dựng như bị ong chích.

“Nói bậy, chị không được nói bậy nghe.” Tôi quả quyết, “Không bao giờ, dì lại thương... ai đâu.”

Hồi lâu, chúng tôi im lặng theo đuổi những ý nghĩ riêng. Thời gian đủ cho tôi lấy lại bình tĩnh. Bấy giờ, Tú đã ngồi bệt xuống đất. Chị giơ tay bứt những cọng cỏ non quanh chân, hỏi lơ đãng: “Sửu, có nghĩa là gì?” Tôi lẩm nhẩm: “Tý, Sửu, Dần, Mẹo... à, Sửu là con trâu.” Không hẹn, tôi và chị đều sực nhớ vóc dáng chú Sửu, đồng la to: “Trâu nước.”

Chúng tôi cùng cười ngất.

Biệt hiệu “Trâu nước” dành cho chú Sửu chỉ có ba người không biết: Dì, dượng và chú Sửu. Từ đó, mỗi lần nhìn thấy hình con trâu ở đâu, tôi sực nghĩ ngay tới chú. Và, mỗi lần thấy chú, tôi lại đâm nhớ mấy con trâu. Cũng oan, khi gán cho chú cái biệt hiệu này. Ngoài vóc dáng to lớn và nước da ngăm đen, chú Sửu hiền và tốt với tôi lắm. Mỗi lần tới thăm, chú mang đủ thứ kẹo bánh, trái cây... đặc sản từ Bạc Liêu, quê chú. Chú kể cho tôi nghe về những cánh đồng cò bay, về những đêm trăng đập lúa, những người bạn thời thơ ấu, những ngày nhập ngũ, những trận chiến từng trãi qua và về những người đồng đội đã nằm xuống. Nhưng, chú chưa từng nhắc với ai về người thân của chú.

Lúc này, tôi đâm mất tự nhiên. Những nghi vấn của chị Tú cứ bám riết trong đầu khiến tôi để ý. Chú là sĩ quan pháo binh, đóng ở Tây Ninh, thế mà hầu như tuần nào cũng đến thăm dì. Cũng có lúc tình hình căng thẳng chú không tới, dì nóng ruột bắc ghế ra hàng hiên ngồi ngóng. Mỗi tiếng xe đầu hẻm là một tia hy vọng. Lóe rồi tắt, rất nhanh. Thời hai dì cháu nằm ngủ chung đã qua. Giờ cái giường của tôi là một tấm nệm mỏng, trải trên sàn căn gác lửng. Từ trên nhìn thẳng xuống chiếc giường của dì đặt sau tấm màn kéo. Phía trước màn có bộ bàn ghế để tiếp khách, học hành. Phía sau là nhà bếp. Chỗ tôi nằm gần sát nóc nhà, không thể đứng thẳng. Buổi tối, tôi nằm đếm những lổ hổng điểm sáng trên mái tôn nhờ trăng dọi. Chốc chốc nhìn xuống ngưỡng cửa thấy dì ngồi, khi thì cười một mình, lúc lại thở dài. Tôi nằm nghe những tiếng xe vụt qua tới chán rồi ngủ quên.

Nửa đêm thức dậy, môi khô ran. Vừa nhỏm dậy định đi uống nước, bất ngờ tôi nhìn xuống thấy chiếc xe Honda của chú Sửu nằm lù lù giữa nhà, không biết chú tới từ lúc nào. Tôi rón rén ngã lưng nằm lại. Nhớ lại lời chị Tú, bất giác tôi rùng mình. Chắc hai người đang nằm với nhau trên giường. Tôi giở một góc nệm, hé mắt nhìn qua khe hở của sàn gỗ. Bên dưới, dì nằm ngả đầu vào vai chú. Tôi nghe họ thì thào, tiếng được tiếng mất.

“Nhớ anh không?”

“Nhớ.” Giọng dì tha thiết, “Cũng may, em đang hóa đá thì anh về.”

Tiếng chú cười khục trong cổ như có bàn tay bụm lại.

“Suỵt..., “ Dì trỏ tay lên gác.

Chú Sửu khẻ giọng, hỏi: “Đứa nào ở trển?”

Dì trấn an, “Đừng lo, cháu em đó mà.”

Chú thở phào: “Con Thu hả? Ừ, con nhỏ khờ đến dễ thương, nói gì tin nấy.”

Tôi nằm im nhìn lên trần với nỗi trống không, giận vô cớ. Hồi lâu, không nghe gì thêm, khi nhìn xuống chỉ còn thấy chiếc mền mầu nhà binh trùm kín hai người.

Sáng, chú Sửu đi rất sớm. Tôi trèo xuống gác, rửa mặt. Trong gương, tôi nhìn thấy mình ngu ngơ, lạ hoắc.

Dì đối với các con, vẫn bình thường. Các anh chị vẫn quấn quýt dì mỗi lần về thăm. Duy có một sự đồng thuận làm tôi thấy lạ. Hình như ai nấy đều có ý nhường chị Tú đi với mẹ.

Một hôm, tôi đang kể truyện cho mấy đứa nhỏ nghe trong căn nhà cũ, thì xe dì về đổ xịt trước cổng, Chị Tú chạy ào vào nhà, ôm mặt khóc bù lu. Chúng tôi chưa kịp hỏi, thì dì cũng theo vào, mắt đỏ hoe.

“Con Tú cả gan, dám lấy cắp tiền tao tới ba ngàn đồng.”

“Ba ngàn?” Chúng tôi sửng sốt. Một số tiền quá to, không ai ngờ. Mọi người còn đang ngơ ngác, dì đã ngồi bệt xuống sàn, òa khóc.

“Trời ơi là trời! Cuộc đời tui hy sinh như vậy, chưa đủ sao?” Dì kể lể, “Tui không dám ăn ngon, không dám mặc đẹp. Làm ra đồng nào, cũng chắt mót để dành cho con. Vậy mà..., Tú ơi là Tú, mày nỡ lòng nào... Tú ơi.” Xong, dì nấc từng tiếng rất thảm. “Mẹ ơi, đừng nói oan con. Con thề, con không có lấy đồng nào của mẹ hết. Tin con đi, mẹ ơi.” Trong góc nhà, chị Tú gào lên như đứt ruột. “Không lẽ,... tao đẻ mày ra, để vu oan mày, sao Tú? Trong nhà chỉ có hai người, không mày thì ai?” Dì giận dữ hỏi. “Mẹ không tin, thì mẹ xét đi.” Chị giũ bộ đồ đang mặc phành phạch: “Con mới bước vô cửa, tất cả đồ đạc còn ngoài xe, chưa kịp cất đi đâu.”

Mọi người quay lại dì, ngầm bảo, “Có lý.”

Dì nói: “Tao cũng mới biết mất đây thôi. Nó lấy, chắc giấu ở đâu rồi.”

Chị lớn quay sang hỏi bọn nhỏ: “Trong tụi bây, mấy hôm nay, có đứa nào thấy con Tú làm gì đáng nghi không?”

Ai nấy còn đang suy nghĩ thì một đứa reo lên: “A..., em thấy bữa trước chị Tú đào gốc mì sau nhà.”

Vừa nghe thấy, chị Tú vụt ngưng khóc, đứng bật dậy chạy một mạch ra sau nhà. Tôi tức tốc bám theo sau. Ra đến vồng mì, chị ngồi thụp xuống. Giơ hai tay cào đất quanh gốc. Rồi vội vả nhổ phăng những khúc mì lùn mới cắm, liệng bừa ra ngoài. Chị chổng mông, đào hùng hục. Quăng đất, đá lẫn rác ra phía sau. Phút chốc, một dãy năm gốc mì thành năm lổ đất hổng. Lúc đó, chị mới ngẩng đầu lên, gào. “Nè, xét đi. Ai muốn xét, ra đây xét.” Chị lập đi, lập lại đến khàn giọng. Rồi mệt mỏi, ngồi bệt xuống, thở dốc. Giơ hai tay ôm lấy mặt, chị bắt đầu khóc nức nở.

Tôi đứng sững nhìn chị. Qua kẽ tay còn lấm lem bùn đất, một dòng máu đỏ từ từ rỉ ra. Chắc miểng chai, đinh thiếc nằm lẫn trong đất đã cắt trúng. Tôi quỳ xuống, giữ hai tay chị trong tay tôi, rồi bật khóc. “Em tin. Em tin chị không có lấy.” Chỉ có vậy, tiếng khóc chị chợt nhỏ dần rồi thành những tiếng nấc.

Chúng tôi ngồi bên nhau hồi lâu. Tôi cũng không biết lòng mình ra sao nữa. Miệng tôi cứ leo lẻo nói tin chị, nhưng trong lòng đầy dẫy nghi ngờ.

Không kềm được, tôi buột miệng hỏi: “Nếu không phải chị, thì ai lấy?” Chị lắc đầu: “Tao không biết.” “Hay một người nào khác? Có ai đến nhà không?” “Không. Mấy hôm nay, chỉ có tao và mẹ.” Chị một mực không biết.

“Không ai lấy, sao lại mất?” Tôi thắc mắc, hỏi.

Chị nhìn vồng mì trống trơn, như ngó đâu đâu, “Tao nghĩ chắc không mất.” Tôi sửng sốt: “Không mất, sao dì lại kêu?”

Chị im lặng hồi lâu, rồi kể. Mấy hôm trước, nửa đêm thức giấc, bỗng chị phát hiện chú Sửu đang ôm mẹ. Quá tức giận, chị vớ cây chổi, từ trên gác phang vào lưng chú. Sau đó, cãi với mẹ một trận kịch liệt. Theo chị, mẹ chỉ muốn có cớ để chị đừng đòi theo vì sợ chú bỏ đi.

Tôi tin chị không lấy tiền. Nhưng tôi không tin những điều chị nói. Tiếng khóc của dì nghe nao lòng lắm. Tôi nghĩ, không ai có thể khóc dối được như vậy.

Hôm đó, trong khi tôi theo Tú ra vồng mì, mọi người trong nhà đổ xô nhau khám xét. Đồ đạc của chị được xem nhiều lần. Chị lớn tháo hộp phụ tùng, lật nệm ghế xe của dì. Thằng em kế còn mượn thang lên mái nhà coi cẩn thận, tuy không ai tin Tú có thể trèo tới đó. Một thời gian lâu sau, không hề thấy chị tiêu vặt một thứ gì.

Một nghi vấn kết thúc, để lại nhiều câu hỏi chưa giải đáp. Xưa nay, tôi vốn ghét chị Tú. Tới nỗi, từng ước ao được thấy chị khóc để tôi có dịp cười trừ. Nhưng lúc chị khóc, tôi chạnh lòng, quên mất tiêu những “ân oán” cũ.

Mẹ tôi mất sớm, nhưng hình ảnh Người lúc nào cũng ở trong lòng. Mẹ cao quý, gần gủi như hòa với tôi làm một. Tỉ như gặp ai tôi cũng so sánh. Mẹ tôi đẹp hơn, tốt hơn, yêu con hơn mẹ của họ. Sự vẽ vời của tôi làm mẹ như sống thật. Tôi ngầm kiêu hãnh về Người trong sự tưởng tượng của mình. Còn chị, nghĩ gì về mẹ?

Về sau, chị thường tránh giáp mặt dì. Cuối tuần, không còn cảnh tranh đi với mẹ. Thỉnh thoảng, ai nấy hỏi tôi về chú Sửu. Câu trả lời qua loa của tôi khiến các chị kết án, tôi là kẻ bị mua chuộc. Họ không biết, không khí giữa tôi, dì, và chú Sửu cũng tẻ nhạt. Kẹo của chú đã hết ngọt từ lâu. Tôi lười biện hộ. Mặc các chị oán. Dù sao, nỗi oan của mình nhỏ như hòn sỏi, thấm gì so với cái đau của chị Tú. Rảnh rỗi, tôi chiêm nghiệm tình yêu của người lớn. Lúc đó, nó là một sự huyền bí. Tôi thấy, nhưng không hiểu. Sức mạnh của nó sao lại đánh đổ được một thứ tình cao quý nhất mà con người thường ca ngợi?

Mọi người nghĩ, chú Sửu là người quyến rũ dì, kể cả ngoại. Tôi ngờ sai. Càng về sau, những lần chú về thăm càng nhặt. Nhiều khi ở lại mấy ngày. Ít lâu sau, chú bị kỷ luật, đổi ra vùng Một. Dì tôi hết chờ người, lại trông thư.

Năm 75, đất nước thay đổi chế độ. Chú Sửu bị bắt trên đường di tản về Sàigon. Sáu năm sau, nghe tin chú cải tạo về. Dì tôi tìm xuống Bạc Liêu thăm. Ngày gặp lại, họ không nói được điều gì. Chú ngồi bên người vợ quê, cứ ví bà như nàng Tô Thị. Lúc ra về, dì tôi ngùi trông lần cuối. Bóng chú tiều tụy, lẫn sau lũy tre, nhỏ dần.

Gia đình tôi cũng có nhiều biến chuyển không ngờ. Dượng bệnh mất. Dì tôi dọn về quê, vui nghề ruộng. Người chị lớn đã lập gia đình, ra riêng. Vài năm sau, chị Tú cũng muốn lấy chồng. Tôi nghe đồn, nhà bên đó đối với dâu rất bạc. Trước đám cưới, thấy tôi lo ngại, dì trấn an: “Không sao đâu, có tình yêu, nó vượt qua được hết.” Xong, dì gói tất cả nữ trang cho Tú. Tôi ngạc nhiên hỏi, sao dì không để dành còn cho những đứa khác. Dì cười buồn, chỉ e bao nhiêu đây chưa bù đắp được những gì dì thiếu Tú.

Sau đám cưới, mỗi khi về thăm, chị nhìn tôi thở dài : “Sống với người dưng, chị nhớ em lắm.”

Tôi ra trường, đi dạy. Và lo cho mấy đứa còn đi học bằng đồng lương chết đói của giáo viên. Chúng tôi ăn hôm nay, lo ngày mai. Cứ luân phiên vậy mà qua ngày. Hạnh phúc nhất là những khi dì mang gạo từ quê lên tiếp tế. Nếu không, tôi cũng chạy về xin. Cùng tắc biến, tôi nghĩ ra nhiều kế mang gạo vượt qua những trạm kiểm soát như kẻ buôn lậu rành nghề. Mọiï vất vả được đền bù khi nhìn thấy mấy đứa nhỏ nhảy tưng tưng quanh thúng gạo trắng xóa. Nhưng có lúc, tôi cũng bó tay. Nhìn cả nhà ăn cháo, ăn khoai trừ bữa mà xót dạ.

Một bữa, nhà đang cạn kiệt thì Tú về thăm. Chị khệ nệ vác một bao lớn, đặt phịch trước cửa, thở hổn hển. Tôi định chạy vào rót nước, thì chị khoát tay, nói:

“Chị không ở lâu được. Người ta chờ ngoài xe.” Chị chỉ vào cái bao: “Cái này là thóc. Em mướn người ta xay lấy gạo ăn.”

Tôi mừng húm, “Thóc ở đâu, sao có cả bao?”

Chị cười, đỏ mặt “Bên chồng, họ bắt chị đi về quê mua thóc. Đem thóc dễ qua trạm hơn gạo. Về đây, mình xay ra, rồi bán lại. Lời lắm.”

Tôi giật mình, lo lắng: “Chị cho nhiều vầy, họ biết.”

Chị đập vai tôi, “Khờ quá. Tưới nước vào thóc một đêm, nó nở ra. Cứ mười bao, dôi ra một. Đây là mình cũng bắt chước Đội Thu Mua Nông Nghiệp.” Rồi chị hấp tấp, nói: “Thôi chị đi, nghe.”

Buổi chiều, chúng tôi xúm nhau sàng thóc. Những hạt thóc vàng tươi, chắc hạt. Bay lên, rồi rơi xuống. Tôi chợt nhớ câu ngày xưa ngoại nói, “Con gà thấy hạt thóc thì vui.” Quả, trong hạt thóc có sự mầu nhiệm thật. Nó giúp người ta đi qua phần đời lở, để chờ khi tới bên bồi?

NGUYỄN THỊ THẢO AN



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home