|
||
|
Trong mối tương quan đặt lại ấy, cái gọi là đồ vật cung cấp khoái lạc, bài trí gia đ́nh, sản xuất con cái, không c̣n chấp nhận vị trí “đồ vật” nữa mà xác nhận như một chủ thể ư thức cũng biết nh́n ngắm, phán đoán, toan tính biến đối phương thành đồ vật. Helène của Le Sang des Autres nêu lên câu hỏi “đẻ con có làm cho cuộc đời phong phú hơn không?”, và suy nghĩ: “Để cho đứa trẻ sinh ra, ngăn nó đừng sinh ra, đều vô lư như nhau.” “Chồng và vợ” dưới mắt Simone de Beauvoir, chỉ là những nhân vật cổ điển lố bịch của những hài kịch, truyện kể v.v…. để mua vui quần chúng. Nhân vật đàn bà của Le Sang des Autres trách cứ người đàn ông “chẳng bao giờ nghĩ đến em, chỉ nghĩ đến chiến tranh”. Béatrice của Tous les hommes sont mortels “chỉ thích những điều cấm đoán”. Francoise của L’invitée cho rằng “trẻ tuổi trong thời đại này chẳng có ǵ thích thú” v́ chiến sĩ và những người không chiến đấu đều có chung nỗi lo âu siêu h́nh về sự hủy diệt. C̣n Ivich của l’âge de raison “thù luân lư”, “thích đùa rỡn, uống rượu”, biết thẩm định giá trị của những tên đàn ông luyến ái đồng tính v́ “những kẻ đó ít ra can đảm là không giống mọi người.” Chọn lọc, xác nhận, trong chủ quan tính và tự do, nữ tính hay cá tính đàn bà của ḿnh, giải tỏa, đập vỡ những huyền thoại trong đó ḿnh bị giam giữ, chinh phục lại tư thế của chủ thể tự do, đảm nhận từ điều kiện xác thịt, nhục dục đến thân phận làm người, ư nghĩa sự sống, cứu cánh cuộc đời xuyên qua hoàn cảnh của thời đại như chiến tranh cũng như xuyên qua t́nh ái, đó là h́nh ảnh của người đàn bà trong văn chương hiện đại cũng như trong thi phẩm của Nhă Ca. Những người bạn cùng chủ trương Hiện Đại, tạp chí đăng những bài thơ đầu tiên của người thơ nữ này, đă nói đến kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ, sự ḥa điệu của âm thanh, sức sống của h́nh ảnh. Nhă Ca của “hồn đứng im như tượng”, của “bầy chim én cũ qua thành phố”, của những ngày tháng mà “đời sống ôi buồn như cỏ khô. Này anh, em cũng tợ sương mù. Khi về tay nhỏ che trời rét. Nghe giá băng ṃn hết tuổi thơ” mà Trần Dạ Từ đă mang tới “tạp chí của những ngày tuổi trẻ” không phải là một người lạ mặt với thế giới ngôn ngữ thi ca. Những thời gian và những bài thơ đến sau cho phép tôi nh́n thấy sự cấu thành của một linh hồn nấp sau “b́nh thịt xương”, nói theo một nhà thơ tiền chiến, là âm thanh, là h́nh ảnh, kỹ thuật ngôn ngữ. Thực chất thi ca của Nhă Ca chính là sự xác nhận của một chủ thể tự do, chọn lựa một cá tính đàn bà vượt trên thụ động tính, thiết lập với đối phương một tương quan đi lại, chối từ tương quan chịu đựng, vị trí đồ vật với những huyền thoại đúc kết bởi phong tục, tập quán, luân lư cổ truyền, thái độ của đàn ông, thành một ṿng đai trùng trùng vây hăm. Tôi bỏ nhà ra đi năm mười chín tuổi, Nhă Ca không chấp nhận sự xếp đặt bản thân như một đồ vật bởi những chuỗi động tác quan thuộc: bị trêu chọc, được gả chồng, đẻ con trai… “Đổi họ thay tên viết văn làm báo”, người thiếu nữ, qua hành vi vứt bỏ, đă ư thức được sự đổi thay của bản ngă trên con đường dài “cơm áo dạy mồm ăn lơ nói láo”, sự xụp đổ, sự hư vô hóa của thế giới dĩ văng cam phận. Trong cái nh́n ném lại đằng sau, chỉ c̣n tuổi hồng sa chân chết đuối bao giờ, ngày tháng cũ cầm bằng như nước lũ. Từ chuyến đi chủ động vào đời, nhà thơ khởi hành vào những di chuyển t́nh ái. Người đàn bà trong thi ca cổ điển than khóc v́ bị bỏ quên trong cung vắng, bị lỡ bước sang ngang, than trách sự lănh đạm, phụ rẫy, đợi chờ sự cứu vớt gia ân, hồi tâm của đàn ông, người đàn bà đồ vật đó không có mặt trong chủ thể Nhă Ca. Nhă Ca xác nhận tư cách người của đàn bà ở “cưối cơn điên”, ở “đầu giấc ngủ”, trong cuộc thiêu đốt “tuổi thanh xuân” cùng với “lỡ lầm”. Người đàn bà ư thức và tự do không chấp nhận bị quên và phản ứng lại: “Và một bận có một người nhắc lại, tôi cố t́m nhưng chẳng nhớ tên ai.” Nếu người đàn ông có quyền quên người đàn bà th́ quyền đó không phải chỉ có một chiều mà có sự đảo ngược. Cũng vậy, không chấp nhận vai tṛ thụ động của con người bị săn, chủ thể tự do mang tên Nhă Ca “sắp anh vào hàng ngũ t́nh nhân”, chọn đối phương làm đề tài để “làm một bài thơ nói đến tên anh”. Người mẹ trong thơ Nhă Ca không phải chỉ sinh sản và nuôi con như một bổn phận một dĩ nhiên, mà c̣n biết dạy con “sự thật ḱa, con nói đi con”, c̣n biết “mẹ nghe củi mục trôi đầy giấc con”. Và bên cạnh chiếc nôi, vẫn có nỗi thắc mắc “đầu ai tiếng gơ nghe c̣n nhặt thưa”. Chính những yếu tính ư thức về nữ tính đó, phối hợp với một ngôn ngữ thi ca sử dụng vững vàng đă mang lại cho tôi sự thích thú, ít khi có, trong việc viết những gịng chữ mở đầu cho một tác phẩm thi ca. NGUYÊN SA Saigon, 1964 *Tựa “Nhă Ca Mới”,Nguyên Sa, 1964. |
|
|