NHÂN VẬT TRUYỆN NGUYỄN TRUNG HỐI:
NHỮNG NGƯỜI XA LẠ
Nguyễn Mộng Giác



Thời mới bước chân vào làng văn, tôi thân với Hoàng Ngọc Tuấn, tuy hai chúng tôi tính t́nh khác nhau. Tôi, bản tính phất phơ ham vui nhưng trời sinh ra một khuôn mặt "nghiêm và buồn", rồi h́nh hài vận vào cách suy nghĩ, tâm trí lúc nào cũng băn khoăn lo lắng về những chuyện bá vơ. Hoàng Ngọc Tuấn, ngược lại, sống một cuộc đời long đong hơn tôi nhiều. Thời anh bị đưa ra Vùng Hai như một lao công đào binh, tôi đem xe lên đón anh về nhà mỗi cuối tuần. Tôi chờ anh kể chuyện lính tráng, chuyện ṭa án binh, chuyện tù tội. Không, sau khi nổi tiếng với "H́nh như là t́nh yêu", "Cô gái treo mùng", ... anh tiếp tục viết "Bến Ngự hoàng hoa", "Mơ nữ", "Thư về đường Sơn Cúc"... truyện nào cũng thơ mộng, t́nh yêu trai gái trong mọi truyện của anh không hề có tiếng đại bác đêm đêm vọng về thành phố, không hề có xác người, không hề có lửa cháy. H́nh như tâm hồn nhạy cảm của Hoàng Ngọc Tuấn chỉ "nhạy" với những điều nhẹ nhàng thơ mộng, dù cuộc đời anh không phải lúc nào cũng thơ mộng. Anh thả nổi cuộc đời ḿnh, để mặc cho hoàn cảnh đưa đến đâu th́ đưa, nhưng tâm hồn anh th́... vô cùng khôn ngoan. Anh chỉ lựa chọn những cái đẹp để quan tâm, để sống, để viết. Kết quả là những bạn bè thời đó được chia sẻ với anh những giấc mơ đẹp, dù phải sống trong thời nhiễu nhương bất trắc.

Đọc tập truyện "Trong Mê Cung"* của Nguyễn Trung Hối, tôi cũng thấy như thế. Truyện của anh không hề có những hồi tưởng tiếc nuối về một thời đă qua, như chất liệu chính của văn chương hải ngoại. Không phải anh không có một dĩ văng thân yêu để tưởng tiếc. Những truyện ngắn Nguyễn Trung Hối viết về kỷ niệm thời thanh xuân ở Huế như "Ḍng Sông Tuổi Thơ" vừa thơ mộng, bi đát, vừa quyến rũ đối với mọi tầng lớp độc giả, gốc Huế hay không gốc Huế. Nếu muốn, anh có thể viết không biết mệt mỏi về những cái đă mất, như hầu hết những cây bút ở hải ngoại. Nhưng Nguyễn Trung Hối không theo con đường ṃn ấy. Trong tập truyện, quá khứ chỉ chỉ chiếm một vai tṛ rất nhỏ. Cái đă qua, dù có thân thương thơ mộng đến bao nhiêu, cũng chỉ là nền của hiện tại. Như mối t́nh chênh lệch tuổi tác trong "Ḍng Sông Tuổi Thơ" của người cha là bối cảnh cho một mối t́nh tương tự của người con, trên quê hương mới.

Truyện của anh không hề có cảm thức bơ vơ lạc lơng của mọi ḍng văn chương lưu vong, mà hiện nay giới nghiên cứu phê b́nh văn học vẫn xem là cốt tủy của văn học hiện đại. Khi tiến bộ về khoa học truyền thông (nhất là Internet) đă xóa mờ biên giới quốc gia, cũng là lúc mọi người cảm thấy truyền thống và bản sắc dân tộc bị lâm nguy. Mọi người đều cảm thấy bị xâm phạm, bị tước đoạt cái riêng tư, và không cần phải sống ở xứ người cũng cảm thấy ḿnh là người xa lạ ngay trên quê hương ḿnh. Đối với những người Việt Nam phải sống xa quê hương, cảm thức bơ vơ ấy lại càng sâu sắc, mới mẻ. Ngoài t́nh hoài hương và nỗi tiếc nuối, cảm thức ấy là nguồn hứng quan trọng cho nhiều nhà văn, nhà thơ hải ngoại. Không ai có thể đứng ngoài sức quyến rũ của một nguồn hứng phong phú như thế, trừ NguyễƠn Trung Hối.

Truyện của anh không hề có những mơ ước tầm thường về một ngày trở về b́nh yên, về một ngày hồi hương rất gần để sống lại y nguyên như giai đoạn hoàng kim trước 1975. Những mơ ước ấy là bù đắp cho những thua thiệt không như ư trong cuộc sống hiện tại. Đó là một nhu cầu tinh thần chính đáng. Có lẽ v́ Nguyễn Trung Hối đă sống gần hai mươi năm dưới chế độ cộng sản nên anh thực tế hơn, thấy rơ những diễn biến phức tạp xẩy ra trên đất nước sau ngày Sài G̣n thất thủ. Ngay cả ranh giới chính trị cũng không đơn giản rơ ràng như con sông Bến Hải. Cha đi tù cải tạo về sống lây lất bất hợp pháp trong chính căn nhà của ḿnh, con đi "nghĩa vụ quốc tế" ở Kampuchia thành chú bộ đội. Cuộc di dân vĩ đại mà thầm lặng đưa không biết bao nhiêu người Bắc vào lập nghiệp ở vùng cực nam đất nước. Khoanh vùng để trở lại với những ranh giới cũ, những thành phần cũ, là một hy vọng quá đơn giản, dù chính đáng và hợp lư. Là một nhà văn nhạy cảm, giàu tưởng tượng, có dự phóng, Nguyễn Trung Hối không thể viết về những điều đơn giản dung thường.

Trong truyện của Nguyễn Trung Hối, chúng ta thường gặp những mẫu người Việt thành công, lạc quan, tự tín trong xă hội xứ người.

Chẳng những họ không có chút mặc cảm nào đối với người bản xứ, họ c̣n tự tin xông xáo để thăng tiến. Họ chủ động điều khiển cuộc đời ḿnh, và dù họ hoạt động trong ngành nghề nào, họ đều thành công. Chẳng những thành công về sự nghiệp, họ c̣n thành công cả trong t́nh yêu. Những chàng trai Việt trong tập truyện không hề có mặc cảm thua sút của những dân tộc nhược tiểu. Họ dư sức làm say mê những cô gái tóc vàng mắt xanh sống quanh họ. Các cô gái Việt trong truyện đều đẹp đẽ, có văn hóa, và có một nếp sống tự do tân tiến.

Như trường hợp Hoàng Ngọc Tuấn, h́nh như tâm hồn Nguyễn Trung Hối không "nhạy cảm" với những thua thiệt, thất bại, bất trắc, cay đắng. Anh chỉ say mê với những thành công.

Làm sao giải thích cách lựa chọn khác thường này của Nguyễn Trung Hối?

Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Trung Hối rất tỉ mỉ cẩn trọng trong việc viết xuống những brand names để mô tả nhân vật. Mỗi thời có một brand name của nó. Đẹp như Tây Thi. Xấu như Chung Vô Diệm. Chim sa cá lặn.

Ma chê quỉ hờn... Những lối nói quen thuộc của chúng ta, ngẫm cho cùng, cũng là những brand names lấy từ văn hóa Trung Hoa. Bây giờ văn minh tiêu thụ và văn hóa đại chúng của Tây phương đă tràn ngập khắp hang cùng ngơ hẹp của thế giới. Tất cả mọi loại hàng hóa đều được xếp loại giá trị cao thấp theo một tiêu chuẩn chính xác được mọi người công nhận, th́ tại sao lại phải dài ḍng quanh co khi có một lối nói đơn giản hơn. Nhân vật của Nguyễn Trung Hối là "mẫu số chung thời thượng" của một thế giới đă thu hẹp thành ngôi làng, của một cộng đồng không biên giới. Với những người đọc muốn t́m thấy ngay cái thân quen, cái dân tộc, cái truyền thống trong nhân vật tiểu thuyết, Nguyễn Trung Hối sẽ làm họ thất vọng. Nhưng nếu ư thức được sự thay đổi lớn lao của đời sống ngày nay, chúng ta thấy nhân vật của anh trở thành điển h́nh, tiêu biểu.

Hoặc cũng có thể giải thích đặc tính truyện Nguyễn Trung Hối qua cái nh́n xă hội học di dân. Qua tập truyện "Trong Mê Cung", chúng ta sẽ thấy kinh nghiệm di dân của người Việt Nam đă tiến thêm một cấp nữa.

Nhớ lại những ngày đầu bơ vơ nơi xứ lạ sau cuộc đổi đời bất ngờ cuối tháng Tư năm 1975. Nhân vật tiểu thuyết thời đó là "ông khó tính" của Nguyễn Bá Trạc, là bà cụ mơ tưởng chuyến xe về làng Đại Từ của Trần Diệu Hằng, là bà ngoại sợ làm phiền chàng rể người Mỹ không dám thắp hương của Nguyễn Thị Hoàng Bắc. Họ thực sự "lưu vong" trên đất "tạm dung". Tâm sự của họ được Cao Tần và Thanh Nam diễn đúng trong "Thơ Cao Tần" và "Đất Khách".

Một thời gian sau, những con người lưu lạc dần dần t́m về sống bên nhau, lập thành những cộng đồng nhỏ. Từ những người thầm lặng chịu đựng như "những củ khoai" (chữ của Nguyễn Bá Trạc), cuối tuần họ họp nhau, nấu nướng các món VIệt Nam, kể chuyện quê nhà, trong một góc ấm cúng đă có tiếng cười rôm rả. Họ dựng được những thiên đường nhỏ, như không khí truyện "Hợp Lưu" của Hồ Trường An. Công việc sinh sống bắt buộc người tỵ nạn Việt Nam phải giao tiếp với người bản xứ. Mặc cảm thua sút dần dần phai mờ, ḷng tự tin gia tăng. Nhân vật tiểu thuyết của Trần Thị Kim Lan trong "Gió Đêm", hay của Song Thao trong "Chân Mang Giày Số Sáu" là những bạn đồng nghiệp ăn nói thoải mái, ḥa đồng tự nhiên vào sinh hoạt chung với những đồng nghiệp da trắng khác nơi sở làm. Chất lưu vong biến mất, chỉ c̣n một chút khác biệt của chất di dân thế hệ thứ nhất.

Đến Nguyễn Trung Hối, tŕnh độ hội nhập mới cao hơn. Nhân vật truyện c̣n mang tên Việt, nhưng rơ ràng cách hành xử đă hoàn toàn Âu hóa. Chẳng những họ không thua sút những người bản xứ da trắng quanh họ, nhân vật truyện Nguyễn Trung Hối đă ngang bằng (đôi khi c̣n vượt hơn) người bản xứ, nhập hẳn vào giai tầng thượng lưu.

Người đọc Việt Nam b́nh thường có thể ganh tị với những nhân vật trong truyện của Nguyễn Trung Hối. Những nhân vật ấy như thuộc vào một thế giới khác. Thế giới của những người may mắn giữa đa số bất hạnh. Họ có vẻ xa lạ. Nhưng một lần nữa chúng ta thử lật ngược thói quen suy nghĩ, đặt câu hỏi : Có phải những mẫu người thành công là xa lạ hiếm hoi trong cuộc sống người Việt hải ngoại hay không? Xin chịu khó nh́n những thành đạt của con cháu trong gia đ́nh, hoặc thành thực nh́n ngay cuộc sống hiện tại của chúng ta ngày nay.

Năm ngoái, một người bạn thơ từ Việt Nam sang Mỹ có đến thăm tôi. Tôi dẫn anh đi thăm một số bạn cũ khác cũng thuộc loại "thường thường bậc trung" như tôi. Tôi cũng cho anh đọc một số tác phẩm văn thơ tiêu biểu ở hải ngoại. Đọc xong, anh cười bảo: "Các cậu đạo đức giả bỏ mẹ! Nhà như thế, xe như thế, con cái đỗ đạt như thế, muốn nói ǵ th́ nói, muốn in ǵ th́ in, nay c̣n ngồi đây mai muốn qua chơi Paris th́ nhấc cái điện thoại giữ vé... Thế mà văn chương lúc nào cũng "thân phận lưu vong" với "tạm dung đất khách". Cậu đổi cái "thân phận lưu vong" cho tôi đi!"

Bạn tôi có lư. Quả thật trong những lời rên rỉ trong văn chương hải ngoại, cũng có những kiểu làm dáng theo thời, kiểu nhà giàu đứt tay. Cũng có thể là sự khôn ngoan chọn cái dễ: v́ viết về hạnh phúc khó hơn viết về sự đau khổ, bất hạnh. Viết về thành công c̣n khó hơn. Hiểu như thế, trong cách dựng nhân vật, Nguyễn Trung Hối đă t́m con đường khó.

* "Trong Mê Cung" tập truyện của Nguyễn Trung Hối, tạp chí Văn Học xuất bản, 1999 (260 tr. Giá $ 13.00). Văn Nghệ phát hành.

NGUYỄN MỘNG GIÁC
17 tháng Ba, 1999



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home