CUỘC ĐẢO CHÁNH TRONG MỘT CHỮ
Nguyễn Hưng Quốc



Đọc bài ca dao “Con c̣ mà đi ăn đêm”, tôi cứ hay bị khựng lại ở chữ “con” trong “con c̣”. Ừ, th́ con c̣. Cũng giống như con ḅ, con trâu, con mèo, con chó. Ngỡ như không có ǵ đặc biệt. Thế nhưng tôi lại không thể không nhớ đến những bài ca dao khác trong đó, c̣ lại được gọi là “cái”, “cái c̣”. Tại sao lúc th́ “con”, lúc th́ “cái”? Mà số lượng “cái c̣” không phải ít. Có người c̣n làm thống kê được, trong kho tàng ca dao c̣n lại đến nay, có đến 19 bài bắt đầu bằng “cái c̣” trong khi chỉ có 14 bài bắt đầu bằng “con c̣”. Tần số xuất hiện của từ “cái c̣” cao hơn hẳn. Tại sao?

Hiện nay, hầu như tất cả các nhà ngữ pháp đều cho “con” và “cái” là danh từ chỉ loại, do đó, thỉnh thoảng c̣n được gọi là loại từ (classifier), với hai chức năng chính là nhằm chỉ đơn vị tự nhiên của sự vật và nhằm cá thể hoá sự vật ấy. Với chức năng thứ nhất, “cái” đứng trước những danh từ chỉ vật vô sinh như cái bàn, cái ghế, cái nhà, cái xe, v.v...; trong khi chữ “con” lại đứng trước những danh từ chỉ vật hữu sinh như con mèo, con chó, con gà, con vịt, v.v... Với chức năng thứ hai, “cái” hay “con” có tác dụng làm cho ư nghĩa của sự vật phía sau trở thành cụ thể. Ví dụ, khi nói đến một khái niệm nào đó một cách chung chung, tổng quát, chúng ta chỉ cần dùng danh từ mà không cần đến loại từ “cái” hay “con”. Chẳng hạn, chúng ta có thể nói “Ḅ là giống vật nhai lại” hay “Nhà ở Sydney mắc hơn ở Melbourne.” Tuy nhiên, nếu muốn nói đến một sự vật cụ thể nào đó, chúng ta bắt buộc phải dùng loại từ “cái” hay “con”. Chẳng hạn, “Ông ấy có ba con ḅ” hoặc “Trong nhà có hai cái ghế.” Khi bỏ “cái” hoặc “con” phía trước, ư nghĩa của câu nói sẽ khác hẳn. Nói “ông ấy có hai nhà” khác với nói “Ông ấy có hai cái nhà”. Chữ “nhà” trong câu “Ông ấy có hai nhà” mang ư nghĩa tương đối trừu tượng, chỉ nơi ăn chốn ở; c̣n chữ “nhà” trong câu “Ông ấy có hai cái nhà” lại mang ư nghĩa khá cụ thể, chỉ một căn nhà hay một ngôi nhà nhất định nào đó. Khi nói “Ông ấy có hai cái nhà”, chúng ta muốn nhấn mạnh đến phương diện tài sản, với hàm ư là ông ấy là người có tiền có của. Trong khi đó, khi nói “Ông ấy có hai nhà”, chúng ta ám chỉ đến ông ấy tự do và thoải mái, lúc th́ ở chỗ này, lúc th́ ở chỗ khác, chứ không nhất thiết bị buộc chân ở một địa điểm nào cố định. Tương tự như vậy, nói “nhà tôi”, người ta có thể hiểu theo hai nghĩa khác nhau, một là vợ hay chồng của tôi; hai là căn nhà do tôi sở hữu; nhưng nếu nói “cái nhà tôi” th́ không thể có khả năng gây hiểu lầm, bởi v́, khi thêm chữ “cái” phía trước, cái nhà ấy phải là một căn nhà hay một ngôi nhà cụ thể. Cũng vậy, nói “ông ấy có mèo”, người ta có thể hiểu lầm ư này ư nọ, nhưng nói “ông ấy có con mèo” th́ con mèo ấy nhất định phải là con mèo chứ không thể là một thứ con ǵ khác được.

Ở chức năng thứ nhất, có hai ngoại lệ: một, thỉnh thoảng trước một số danh từ chỉ vật vô sinh nhưng chứa đựng ư niệm vận động, người ta cũng dùng chữ “con” như con mắt, con tim, con đường, con sông, con dao, v.v...; hai, thỉnh thoảng trước một số động vật như c̣, vạc, nông, bống, tôm, trai và kiến, người ta cũng có thể dùng chữ “cái”, như trong các câu ca dao:

Cái c̣, cái vạc, cái nông
Sao mày ăn lúa nhà ông, hỡi c̣?
( Không, không, tôi đứng trên bờ
Mẹ con cái vạc đổ ngờ cho tôi!

hay:

Cái bống đi chợ Cầu Canh
Cái tôm đi trước củ hành đi sau

Có thể nói ngoại lệ thứ nhất, từ vô sinh biến thành hữu sinh, là những trường hợp thăng cấp; ngược lại, ngoại lệ thứ hai, từ hữu sinh mà biến thành vô sinh, rơ ràng là một sự giáng cấp. Thế nhưng tại sao lại có sự giáng cấp như thế? Tại sao chỉ có một số loài vật bị giáng cấp, c̣n những loài vật khác th́ không? Con c̣, con vạc, con nông, con bống, con tôm, con trai, con ve và con kiến... có tội t́nh mà bị truất phế ra khỏi thế giới hữu sinh?

Theo tôi, những giống vật ấy là những nạn nhân ngẫu nhiên của một cuộc đảo chánh âm thầm trong lănh vực ngôn ngữ.

H́nh như chưa ai nói đến một cuộc đảo chánh như thế th́ phải.

Chúng ta biết ngôn ngữ là một sinh thể biến động liên tục. Về phương diện từ vựng, có ba h́nh thức biến động chính: thứ nhất, một số từ “chết” đi; thứ hai, một số từ mới được ra đời; và thứ ba, một số từ vẫn tiếp tục sống nhưng bị thay h́nh đổi dạng, hoặc ở ngữ âm hoặc ở ngữ nghĩa, hoặc ở cả ngữ âm lẫn ngữ nghĩa.

Trong tiếng Việt, h́nh thức thay đổi trong ngữ âm khá phổ biến. Ví dụ, gần đây nhất, ở trong nước, chữ “thỉnh thoảng” hầu như đă biến dạng hẳn thành “thi thoảng”. Th́ cũng hay. Và b́nh thường. Trước, chúng ta cũng đă từng chứng kiến vô số những sự thay đổi như thế. V́ luật hoà âm mà chữ “nhỏ nhẹ” có lúc biến thành “nhỏ nhẻ” (ăn uống nhỏ nhẻ); “nền nếp” biến thành “nề nếp”; “dại dốt” (dại và dốt) thành “dại dột”; “phanh khui” thành “phanh phui”; “phong thanh” thành “phong phanh”; “nịnh hót” (nịnh và hót) thành “nịnh nọt”, “yếu nớt” (nớt là sinh đẻ thiếu tháng) thành “yếu ớt”; “chốc mào” (loại chim có mào ở chốc, hay trốc, có nghĩa là đầu) thành “chào mào”, “chấp nệ” thành “chấp nê”, “nguôi hoai” (trong Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, “hoai” được giải thích là: phai đi, nguôi đi) thành “nguôi ngoai”; “ngọt” có khi biến thành “ngót” (canh nấu ngót), “mặn” có khi biến thành “mẳn” (cá kho mẳn), “bắc” có khi biến thành “bấc” (gió bấc), “nam” biến thành “nồm” (gió nồm) hay “nôm” (chữ Nôm); “đă” có khi biến thành “đà” (Trong Truyện Kiều có 265 chữ “đă” và 35 chữ “đà” như: “Nàng đà biết đến ta chăng?” hay “Thuyền t́nh vừa ghé tới nơi / Th́ đà trâm găy b́nh rơi bao giờ.) Chữ “chẳng”, trong câu phủ định là “chẳng” (chẳng có), nhưng trong câu nghi vấn lại biến thành “chăng” (có chăng?). Chữ “chưa”, dùng trong cả câu phủ định (chưa có) lẫn câu nghi vấn (có chưa?), nhưng trong trường hợp phủ định, “chưa” có thể biến thành “chửa” (Ca dao: “Ngày đi lúa chửa đơm bông / Ngày về em đă con bồng con mang”). Chữ “không”, cũng vậy, được dùng trong câu phủ định (không có) lẫn nghi vấn (có không?), nhưng để diễn tả ư nghi vấn, nó có thể biến thành “hông” hay “hôn” (phải hông? hay phải hôn?), khi diễn tả ư phủ định một cách nũng nịu, không sẽ biến thành “khổng”(em nói mà chị khổng nghe), rồi “hổng” (hổng chịu đâu!) hay “hông” (hông thèm!).

Ngay trong số đếm, nơi rất cần sự chính xác, cũng có sự biến âm. Số mười (10) đứng một ḿnh hay đứng trước một số từ khác th́ là “mười”, nhưng khi đứng sau một số từ khác th́ lại biến thành “mươi” (không có dấu huyền): hai mươi thay v́ hai mười (2x10), ba mươi thay v́ ba mười (3x10). Có điều khi đứng một ḿnh, “mươi” lại mang tính chất ước chừng với nghĩa là khoảng trên dưới mười, không chắc chắn.

Cũng vậy, số một (1) khi đứng một ḿnh hoặc đứng trước một số từ khác hoặc đứng ngay sau chính nó (tức 11) th́ được đọc là “một”, nhưng khi đứng sau các số khác th́ lại trở thành “mốt”: hai mươi mốt, ba mươi mốt, bốn mươi mốt... Chữ “mốt” ấy, ở đơn vị trên hàng trăm th́ lại không c̣n mang nghĩa là một nữa, mà là đơn vị chẵn, dưới đơn vị nêu trước đó. Ví dụ: hai trăm mốt là 210 chứ không phải là 201; một ngàn mốt là 1.100 chứ không phải là 1.001, một triệu mốt là 1.100.000 chứ không phải là 1.000.001, v.v...

Như vậy, việc biến âm ít nhiều dẫn đến việc biến nghĩa. Chẳng hạn, chữ “thật” và chữ “thực” là một; sự thực hay sự thật đều giống nhau, thực ra hay thật ra cũng giống nhau, nhưng phân tích chi ly ra, ư nghĩa hai từ có khi lại khác nhau: “thực” là cái ǵ không phải hư ảo, trong khi “thật” lại là cái ǵ không phải là giả. Cảnh thực khác với cảnh thật. Nói cảnh thực là nhằm khẳng định nó không phải là trong mơ; nói cảnh thật là khẳng định nó không phải là cảnh nhân tạo.

Có khi h́nh thức ngữ âm vẫn y nguyên mà ư nghĩa lại thay đổi. Ngày trước, chữ “ân ái” có nghĩa là t́nh yêu, được lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong cuốn Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, với âm hưởng thanh tao và dịu dàng. Sau này, nó lại nghiêng nặng về ư nghĩa chỉ những hoạt động sinh lư hơn là những ràng buộc về t́nh cảm. Cũng vậy, ngày xưa, chữ “chơi” có âm hưởng hiền lành biết bao; bây giờ, nó lại gợi ra một điều ǵ hơi... tục. Chính v́ thế, tôi đă không nín được cười khi, mới đây, đọc lại bài thơ “Tuổi xuân” của Đông Hồ, trong đó có mấy câu:

“Anh ơi! Em muốn chơi,
Non nước chốn này vui...”

Điều đáng chú ư là có khi sự thay đổi diễn ra không đồng đều giữa các địa phương, từ đó, có thể dẫn đến sự hiểu lầm giữa người miền này và người miền nọ. Ví dụ, chữ “quay quắt”. Trong khi ở miền Nam trước đây cũng như ở hải ngoại hiện nay, chúng ta đều hiểu “quay quắt” theo cái nghĩa đă được ghi trong Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của là “xây tṛn, nhào lộn, rối rắm không yên, sự thể khốn đốn”; ở miền Bắc, trong Từ điển Tiếng Việt của Văn Tân (biên soạn năm 1974; in lần thứ ba năm 1994), “quay quắt” được định nghĩa là “xảo trá, hay lừa gạt”. Thử tưởng tượng một t́nh huống cực kỳ nguy hiểm: một thanh niên ở miền Nam (hay ở hải ngoại) viết thư cho một cô gái miền Bắc, trong đó, có câu: “Anh nhớ em quay quắt”; cô gái liền nghĩ đến hai khả năng: hoặc anh thanh niên đang tự nhận là đang giả vờ nhớ (chữ “quay quắt” bổ nghĩa cho chữ “nhớ”), hoặc anh đang mắng cô ấy là một kẻ xảo trá (chữ “quay quắt” bổ nghĩa cho “em”)! Khả năng nào cũng có thể làm t́nh yêu tan nát như chơi!

Những sự thay đổi vừa nêu, dù sao, cũng chỉ là những sự thay đổi. Chúng không phải là đảo chánh. Như trong hai chữ “cái” và “con”.


Trước hết là “đảo chánh” về từ loại. Nên nhớ là chữ “cái” và “con” với tư cách là một loại từ chỉ là một hiện tượng khá mới mẻ trong lịch sử tiếng Việt. Những cách nói “cái bàn”, “cái ghế”, “cái xe” hay “con cá”, “con cọp”, “con ḅ”... chỉ mới xuất hiện tại Việt Nam khoảng vài trăm năm gần đây mà thôi. Ngay trong Truyện Kiều, được Nguyễn Du sáng tác vào đầu thế kỷ 19, tần số xuất hiện của chữ “con” với tư cách là loại từ rất hiếm, chỉ có khoảng hơn 20 lần trong tổng số 3254 câu thơ. Chữ “cái” lại càng hiếm, chỉ có mỗi một lần trong câu “Con ong cái kiến kêu ǵ được oan”.

Nếu đi ngược thời gian, đọc lại thơ Nôm của Nguyễn Trăi vào đầu thế kỷ 15, chúng ta sẽ thấy cách dùng chữ “cái” và chữ “con” c̣n rất lộn xộn và tuỳ tiện. Nhà thơ Xuân Diệu có lần khen ngợi nức nở cách dùng chữ “cái” trong hai câu thơ của Nguyễn Trăi:

Tuổi cao, tóc bạc, cái râu bạc
Nhà ngặt, đèn xanh, con mắt xanh.

Theo ông, cách nói “cái râu bạc” của Nguyễn Trăi rất lạ. Nó thể hiện hết cái tinh thần cứng cỏi, ngang ngạnh, uy vũ bất năng khuất của Nguyễn Trăi. Tuy nhiên, theo tôi, h́nh như Xuân Diệu tán hơi quá. Sự thực, vào thế kỷ 15, Nguyễn Trăi chưa hề có sự phân biệt rơ ràng giữa “con” và “cái” như chúng ta hiện nay. Lúc ấy, ông gọi đứa đầy tớ là “con đ̣i”, nhưng lại gọi con ngựa là “bà ngựa” như trong câu:

Con đ̣i trốn, dường ai quyến
Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chăn.
(“Thủ vĩ ngâm”)

Bây giờ chúng ta gọi là “cái lều”, thời ấy Nguyễn Trăi gọi là “con lều”:

Con lều ṃn mọn cách hồng trần
Vướng vất tư mùa những bạn thân
(“Mạn thuật 2”)

Ông gọi cái am để ở là “con am”:

Bẻ cái trúc, ḥng phân suối
Quét con am để chứa mây
(“Mạn thuật 6”)

hay:

Thiêu hương, đọc sách, quét con am
Chẳng bụt, chẳng tiên, ắt chẳng phàm.
(“Tự thán, 27”)

Trong khi đó, con chim đỗ quyên th́ lại được gọi là “cái” “cái đỗ quyên”:

V́ ai cho cái đỗ quyên kêu
Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu.
(“Cảnh hè”)

Thành ra, chữ “cái” và “con” với tư cách loại từ chỉ là một sản phẩm khá mới mẻ.

Nguyên thủy, ngày xưa, “cái” và “con” vốn là danh từ. Ư nghĩa cổ nhất của “cái” có lẽ là mẹ. Vào thế kỷ thứ 9, khi nhà anh hùng Phùng Hưng qua đời, dân chúng suy tôn ông là “Bố Cái đại vương”. Chữ “cái” ấy có nghĩa là mẹ. “Cái” với nghĩa là mẹ c̣n xuất hiện trong câu tục ngữ “con dại cái mang” và câu ca dao “Nàng về nuôi cái cùng con / Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.”

“Cái” là mẹ. Mà mẹ, ở Việt Nam, vốn là nơi dấu vết mẫu hệ c̣n khá đậm, rất được kính trọng. Chính v́ thế, từ “cái” có thêm một số nghĩa phái sinh khác, chỉ những ǵ lớn lao, to tát và chính yếu, như trong các từ: sông cái, đường cái, cột cái, ngón tay cái, đũa cái, rễ cái, sổ cái, v.v... Từ đó, nó lại nảy sinh ư nghĩa là làm chủ, người quán xuyến, chịu trách nhiệm điều hành và quản lư, như trong chữ “cầm cái”, “nhà cái”, “bắt cái” hay “hốt cái” mà những người đánh bạc và đánh bài thường dùng. Rồi nó lại chuyển nghĩa sang phần chính, phần đặc, phần ngon nhất trong thức ăn, như tục ngữ có câu “khôn ăn cái, dại ăn nước”.

Tất cả những sự chuyển nghĩa trên đều là những sự chuyển nghĩa theo hướng tích cực, dưới ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ. Nhưng bên cạnh đó, trong chữ “cái” c̣n có một hướng chuyển nghĩa khác tiêu cực hơn và cũng triệt để hơn mà tôi muốn xem như một cuộc “đảo chánh” trong lănh vực ngôn ngữ. Cuộc “đảo chánh” này, tôi đoán, có lẽ diễn ra cùng lúc với việc bành trướng của Nho giáo, trong đó có cả tư tưởng trọng nam khinh nữ với những câu nói tiêu biểu như “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô”, hay “một trăm đứa con gái không bằng ḥn dái đứa con trai”. Trong tinh thần như vậy, người ta không c̣n nh́n chữ “cái” như một cái ǵ lớn lao nữa mà chỉ c̣n như một phái tính. “Cái” khác với “đực”. Thế thôi.

Trong ư nghĩa chỉ giống (sex), “cái” chỉ có ư nghĩa thuần sinh học, do đó, không c̣n xứng hợp với con người vốn không phải chỉ là một sinh vật mà c̣n là một sinh vật có văn hoá. V́ thế, người ta chỉ dùng chữ “cái” để chỉ một phái tính chung chung. C̣n với người, người ta gọi lệch chữ “cái” đi một chút thành chữ “gái”; với loài chim, loài cá, hay gia cầm, chữ “cái” lại được gọi lệch là “mái”; với heo, một loại gia súc phổ biến và là nguồn lợi nhuận chính của các gia đ́nh Việt Nam th́ “cái” lại thành ra “nái”. C̣n lại, tất cả các giống vật khác, ít thân thuộc hơn, th́ vẫn được giữ nguyên là “cái”. Như vậy, giữa chữ “cái” và những biến âm của nó, như “nái”, “mái” hay “gái” đă có sự phân biệt. Tuy đồng nghĩa, nhưng chúng không hoàn toàn b́nh đẳng với nhau.

Hơn nữa, trong tương quan với giống đực, “cái” là giống yếu. Do đó, dần dần có một sự giáng cấp trong ư nghĩa của chữ “cái”. Xưa, “cái” là mẹ; sau, “cái” là con (trong “con cái”); sau nữa, là con gái (con Hoa, con Lựu... c̣n được gọi là cái Hoa, cái Lựu...). Xưa, “cái” là lớn, là chính; sau, “cái” là nhỏ, là phụ. Xưa, sông cái là sông chính, sông lớn; sau, vào chinh phục miền Nam, người ta lại gọi những con rạch hoặc những nhánh sông nhỏ là “cái”: Cái Bè, Cái Mơn, Cái Thia, Cái Sắn, Cái Trôm, Cái Tre, Cái Cùng, Cái Cạn, v.v...


Một hậu quả khác của cuộc đảo chính trong ư nghĩa của từ “cái” là sự xuất hiện của từ “cái” như một từ chỉ xuất với ư nghĩa cảm thán hay chê trách, xỉa xói, bới móc, kiểu “cái thằng cha nọ” hay “cái con mẹ kia”. Có thể nói, từ tư cách danh từ chuyển qua tư cách loại từ, “cái” là một kẻ bị truất phế; từ tư cách loại từ chuyển qua tư cách một từ chỉ xuất, “cái” trở thành một thứ vũ khí để truất phế một người hay một sự vật nào đó. Nói “Nhà thơ mà anh gặp sáng nay...” khác hẳn với cách nói “Cái ông nhà thơ mà anh gặp sáng nay...” Khác, chủ yếu ở t́nh cảm của người nói: ở cách trước, có chút ǵ như tôn kính; ở cách sau, có chút ǵ như rẻ rúng. Các nhà thơ đă sớm biết tận dụng giá trị biểu cảm mới mẻ này. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du dùng đến bảy lần chữ “cái” với ư nghĩa than oán, chẳng hạn trong câu:

Rằng: hồng nhan tự thuở xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu?

hay:

Chém cha cái số hoa đào
Gỡ ra, rồi lại buộc vào như chơi.

Để ư đến tính chất cảm thán ấy của chữ “cái”, chúng ta dễ nắm bắt tâm trạng uất hận, đau đớn, day dứt, dằn vặt của Hồ Xuân Hương trong hai câu thơ nổi tiếng này:

Canh khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non.

“Hồng nhan” là một từ đẹp, nhưng khi đi liền sau chữ “cái”, nó lại biến thành một sự bẽ bàng. Nhất là khi “cái hồng nhan” ấy lại cứ trơ ra giữa trời đất.

May mắn là chữ “cái” không bị đẩy đến tận cùng sự trầm luân. Có lẽ, vào khoảng cuối thế kỷ 19 hay đầu thế kỷ 20, khi tiếp xúc nhiều với văn hoá Tây phương, một phần do nhu cầu dịch thuật, một phần do nhu cầu tự diễn đạt, người Việt Nam đă phải t́m cách tạo ra những từ mới để chỉ những khái niệm trừu tượng. Biện pháp tạo từ chủ yếu là dùng từ tố “cái” cộng với một tính từ nào đó, ví dụ: cái tài, cái t́nh, cái thiện, cái ác, cái đẹp, cái xấu, cái cao cả, v.v... Nhưng tại sao người ta lại nghĩ đến việc dùng chữ “cái”? Trước, trong những kết hợp tương tự, cha ông chúng ta vốn dùng chữ “chữ”, kiểu như Nguyễn Du viết, trong Truyện Kiều: “Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau”, hay Nguyễn Công Trứ viết, trong một bài hát nói, “Chữ t́nh là chữ chi chi”. Khi chuyển từ chữ “chữ” qua chữ “cái”, h́nh như người ta chỉ giữ lại một từ cũ: “chữ trinh” vẫn là “chữ trinh” chứ không phải là “cái trinh”.

Khó, nếu không muốn nói là không thể biết được tại sao người ta quyết định bỏ chữ “chữ” đă khá quen thuộc thời bấy giờ để thế vào đó bằng chữ “cái” và ai là người đầu tiên đi đến quyết định ấy. Dù vậy, bất kể v́ lư do ǵ, sáng kiến dùng chữ “cái” thay cho chữ “chữ” trong những kiểu tạo từ vừa nêu trên cũng đă cứu vớt được chữ “cái”. Trong kết hợp mới mẻ để biểu đạt những khái niệm trừu tượng, chữ “cái” xem chừng có vẻ sang trọng hẳn, chứ không c̣n cái vẻ yếu ớt, lam lũ, nhếch nhác và buồn thảm như trước.


Như vậy, đứng trước một chữ đơn giản như chữ “cái”, cách cảm thụ của người Việt Nam thuộc những thời đại khác nhau sẽ khác hẳn nhau. Ở trên, tôi có viết là Xuân Diệu tán hơi quá khi b́nh chữ “cái’ trong câu thơ “Tuổi cao, tóc bạc, cái râu bạc” của Nguyễn Trăi. Viết thế, tôi không hề có ư chê trách Xuân Diệu. Lỗi đâu phải ở ông. Nếu ông sinh sớm hơn, khi chữ “cái” chưa có cái vẻ ít nhiều sang trọng như hiện nay, nếu ông sinh vào cái thời người Việt Nam ưa dùng chữ “cái” để cực tả những ǵ nhỏ nhoi và tội nghiệp như lúc cha ông chúng ta dùng chữ “cái” để chỉ con c̣, con bống, con tôm, con kiến... biết đâu ông lại thấy trong câu thơ của Nguyễn Trăi có cái ǵ ngùi ngùi, xót xa, thương cho thân phận già nua và cô thế của ḿnh.

Biết đâu được.

NGUYỄN HƯNG QUỐC
1999



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home