|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Nói một cách cải lương và pha thêm chút thiền vị cho hợp thời thượng là khi bước vào thế giới văn chương hay đời sống xă hội, thân phận ngựa đă bị giằng co giữa hai t́nh cảm trái ngược: yêu đấy mà ghét đấy, trọng đấy mà khinh đấy: lăng mạn hoá cũng có mà nhơ nhuốc hoá cũng có, cứ là sắc sắc không không. Lăng mạn th́ đại loại "ngựa hồng", "ngựa buồn", "ngựa hoang", thậm chí ngựa dở cuộc chơi "nhớ sa trường", ngựa thời buổi nhố nhăng "nản chân bon". Nhơ nhuốc, bệ rạc th́ có con hay đồ... "đĩ ngựa", hay gọn hơn, như một động hay tính từ, "ngựa". Lăng mạn như Trịnh Công Sơn:
hay Vũ Đức Sao Biển:
Rồi chợt, một lúc nào đó, ngựa buồn, như Thanh Tâm Tuyền:
Thế rồi, một lúc nào đó ngựa bỏ đi hoang, cũng Vũ Đức Sao Biển, lúc hát trên đồi:
rồi Phạm Duy - Ngọc Chánh Ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời / Đồng cỏ nào xanh ngắt lưng trời, gợi hứng từ "Vết thù trên lưng...." của Duyên Anh... Cứ vậy, vân vân và... vân vân vân. Rồi... "nản chân bon" như con ngựa của Nguyễn Mộng Giác những ngày biện-chứng-hậu-75. Rồi ngựa hết thời sầu thân lỡ vận: Nh́n lui cố quận / Đă cùn thanh gươm / Quan hà mấy dặm / Ngựa kêu tiếng buồn (Hoàng Lộc - Tiếng ngựa buồn); ngựa bại cuộc - cuộc trận hay cuộc ǵ cũng có - sầu thân... ngă ngựa, trong mấy giọng thơ tỉ tê sầu đắng thấp thoáng đó đây, kiểu Tưởng đây ḿnh Quan Đế tuyệt đường siêu / Giờ ngă ngựa tiểu nhân như Tào Tháo (Nguyễn Tất Nhiên - Bài tạ lỗi cùng người). Hết thảy, ngựa ? dù là trong lời tự oán hay lời tự xỉ vả ? đều phảng phất một chút ǵ đó lăng mạn và kiêu bạc, đại khái cũng phảng phất chút ǵ gọi là mơ ước ngày xanh, phảng phất chút ǵ gọi là sương gió cuộc đời, chút ǵ gọi là tiết tháo ǵn vàng giữ ngọc hay quá khứ vàng son. Tuy nhiên, chỉ cần lạc bước thôi, bước sang thế giới của đàn bà th́ đă khác. Chẳng "hồng" phơi phới hay "hoang" dặm trường khinh bạc đă đành, bước vào cơi ấy trông ngựa cứ là tơm tởm, kinh kinh. Trông như trái với cả đạo lư, luân thường. Gọi một thiếu nữ hay một người đàn bà lăng loàn: đồ đĩ ngựa. Bảo một người đàn bà ngang tắt ở phía tường Đông: đi ngựa. Rồi họ, cái lúc "cỏ cây cũng muốn nổi t́nh mây mưa": ngựa. Tại sao lại rắc rối như thế chứ? Ngựa thời hiện đại mà đă vậy th́ giữa ngựa cổ xưa có phiền nhiễu hơn không? T́m câu trả lời, ắt là phải lội ngược thời gian. Nhưng lạ, càng ngược về xưa sẽ càng thấy rằng sự thể càng đơn giản, đơn giản như lịch sử mấy ngàn năm mà chỉ trần x́ mỗ hai con, một sắt và một đa. Dân tộc ta cơ hồ là một dân tộc rất ngại làm phiền ngựa! Trên đ́nh th́ chỉ bắt rùa đội hạc, dưới chùa chỉ bắt rùa đội bia, ngựa hoàn toàn vô can: Thương thay thân phận con ruà /Trên đ́nh đội hạc dưới chùa đội bia... Và, trừ mấy câu hiếm hoi kiểu:
hay:
hoặc cái cảnh vinh quy bái tổ Ngựa anh đi trước vơng nàng theo sau - những cái cảnh phong lưu hay vinh hiển chắc là học hỏi từ Tàu, riêng cho một giai tầng thượng lưu hay một thành phần ưu tú nào đó thôi - hầu như ngựa đă bị thế giới ca dao phong toả chặt. Thế giới đó ăm ắp gà, lợn, trâu, mèo, heo, chó, những cái c̣ cái vạc cái nông ba cái cùng béo vặt lông cái nào, hết cái c̣ trắng bạch như vôi th́ đến cái c̣ là cái c̣ vàng nhưng chỉ tiện tặn dành vài ba chỗ đứng hiếm hoi cho ngựa. V́ một xă hội nông nghiệp trồng lúa nước hoàn toàn không phải là môi trường lư tưởng của ngựa. Cổ thư Trung Hoa Sử kư Việt Tuyệt Thư,từng ghi về người Việt: "Họ ở núi mà đi đường thủy, lấy thuyền làm xe, lấy chèo làm ngựa, đến th́ như gió thoảng, đi th́ khó đuổi theo" và sự khác biệt lại là "Nam di chu, Bắc di mă": người Nam đi bằng thuyền, người phương Bắc đi bằng ngựa (1). Và như thế, những trang sử ngun ngút khói chiến tranh của chúng ta cứ là thưa thớt vó ngựa: những chiến công lừng lẫy gắn chặt với sông nước đă đành, những chiến công rầm vang mặt đất cũng không có ngựa... xí phần. Từ cái cảnh chia tay kiểu "hậu phương - tiền tuyến" kiểu:
hay đời lính của một thời:
cho đến những chiến công dậy sóng Bạch Đằng hay Rạch Gầm - Xoài Mút, ngựa không có chỗ chen chân th́ cũng là điều dễ hiểu; tuy nhiên, cả trong những chiến công sạt lỡ núi non ngựa vẫn phải đứng một bên lề. Chỉ có... voi. Thời Bà Trưng, Bà Triệu khởi binh đánh Hán cũng thế mà thời Quang Trung cất binh đánh Thanh cũng thế. Nguyễn Trăi, trong B́nh Ngô Đại Cáo, cũng chẳng khác hơn:
Cả một lịch sử sôi động, trải dài mấy ngàn năm thế mà chỉ có con ngựa sắt của Phù Đổng Thiên Vương và con ngựa đá ở thái miếu nhà Trần, trong mấy câu thơ của Thượng hoàng Thánh Tông:
Nức ḷng với khí thế đánh giặc con người khó ḷng mà rứt ḿnh ra khỏi cái hào khí chung của non sông và trở nên đầy... hiện thực chủ nghĩa. Ngoài bóng dáng ba quân, ngoài ánh gươm ngọn giáo lấp lánh dưới trời, cùng lắm th́ họ đeo đẵng những điều như cái "chí" của đấng nam nhi, phảng phất chút hơi Tàu, chẳng hạn như Phạm Ngũ Lăo:
Cả con ngựa đá ở thái miếu nhà Trần, cũng chỉ vùng vẩy thành thơ sau khi chiến trận đă yên, và chỉ gợi nên qua vết bùn có thực ai làm vướng ở gót chân thế thôi. Như thế, có nghĩa là, chỉ khi không bị cuốn hút vào cái không khí nức ḷng của non sông, khi không phải thực sự chua chát mài kiếm dưới trăng "Thế sự du du nại lăo hà"; con người mới có chút xíu b́nh tĩnh để bay bổng trí tưởng tượng, có đủ rảnh rang để ước lệ hoá những h́nh ảnh của chiến trận theo một khuôn mẫu cho là đường bệ hơn và cao nhă hơn. Khuôn mẫu đó, hẳn nhiên, đến từ Trung Hoa. Và ngựa, như thế, cũng đă bước vào băi chiến trường của văn chương Việt Nam như là bạn đồng hành của vô số những điển phạm văn học, những địa danh xa lắc ở phương Bắc, nơi có tuyết rơi, có tàn lá liễu. Như con ngựa trong Chinh Phụ Ngâm:
Từ "Thân trai da ngựa bọc thây" nghe đâu là của Mă Viện cho đến "Thét roi cầu Vị": "Tuấn mă nhược phong phiêu, minh tiên xuất Vị kiều" của Lư Bạch; hết thảy đều là đồ... vay mượn. Hay như ở mấy câu sau đó:
và:
toàn những Tế Liễu, Tràng Dương hay Tiêu Tương cách trở, bởi, chỉ ở nơi như thế mới có màu của tuyết, cái sắc màu cao nhă như là con ngựa đưa người ra trận. Và, cứ xem Kim Trọng và Lục Vân Tiên, trong cái cảnh chạm mặt lần đầu với hai vai nữ thuyền quyên, trước hết là Kim:
Và Lục, cái khoảng khắc trước khi gặp Kiều Nguyệt Nga:
Thong dong với... ngựa, và với một ḍng máu ăm ắp điển cố Trung Hoa, Kim trông lịch lăm hẵn lên. Ḿnh trần thân trụi với nhành cây bẻ được bên đàng, Lục trông hộc tốc quê kệch thế nào trong cái cảnh lẽ ra phải đầy nét anh hào, thơ mộng; hết "khoan khoan ngồi đó" lại là "nghe nói liền cười", lại là "ngơ mặt chẳng nh́n"; thậm chí, c̣n tệ hơn: Vân Tiên ngó lại rằng: "Ừ!" Ngựa, như thế, chính là một biểu tượng phong lưu và mă thượng vay mượn. Ở xứ sở chưa bao giờ có tuyết, tuyết luôn luôn đẹp. Ở cái xứ không có ai bọc thây da ngựa, ngựa càng lấp lánh hơn như là biểu tượng cao nhất của khí chất nam nhi, không những trên băi chiến trường mà c̣n trong mọi ngóc ngách của đời sống xă hội, cái khí chất được quan niệm như một thứ độc quyền bất khả xâm phạm mà nữ giới không thể nào giành giật. Có lẽ v́ thế mà mới có... "ngựa", như một động hay tính từ; hay những "đĩ ngựa", như một danh từ hay một tính từ! Có thể là đời sống t́nh dục của loài ngựa cái ǵ đó đáng chú ư, tuy nhiên, nếu ḍng ca dao xưa đă... trừ ngựa ra th́ ngôn ngữ hôm nay cũng khó mà ôm đồm cá tính của một loài thú hiếm hoi ấy. Những "đĩ", "đi" như thế có ra đời cũng ra đời như một đ̣n thế pre-empt của cánh đàn ông chăm chẳm bảo vệ độc quyền làm kẻ bề trên, độc quyền ra ân của kẻ anh hào cứu khổn pḥ nguy. Đố kỵ hoá nó, nhơ nhuốc hoá nó riêng cho một đối tượng cũng có nghĩa là phong toả những tham vọng chen chân của họ. Như thế, xét cho cùng, khi những Trịnh, Vũ, Phạm, Duyên v.v... có phả chút hơi thở lăng mạn phơi phới màu hồng hay hoang dại kiểu Tây phương vào biểu tượng cho sự mă thượng và phong lưu rất Tàu của chàng tuổi trẻ hào kiệt hay văn nhân "lỏng tay buông khấu" thời xưa, họ cũng chẳng khác ǵ. Con... đĩ ngựa th́ hoặc mượn màu son phấn, hoặc lang chạ lung tung, có khi kiêm cả hai đường. Người nghệ sĩ - từ văn, thơ, đến nhạc, hoạ - th́ cũng cái tṛ ấy, cũng lang chạ từ Tàu tới Tây và mượn màu son phấn tứ tung, từ những điển cố cổ kim cho đến những thể cách, những ism... Và, nếu thân con ngựa trớ trêu thế nào th́ cái cái sự mượn màu hay lang chạ ở đây cũng trớ trêu như vậy. Mượn màu và lang chạ để thoát thai, để duyên hơn, mặn mà hơn hay chỉ để trây trớt như một thứ đĩ thoả loè loẹt và kệch cỡm phấn son; nghĩa là ngựa như một con đĩ ngựa và ngựa như một con ngựa hồng tự vẽ tôi ra, và tự bày ra trươc mặt một thảo nguyên xanh ngắt... Bởi, nghệ thuật mà chính chuyên quá th́, trước khi chết cũng ra ma, trông cứ là quê kệch, cù lần thế nào. Quê như cái cảnh Vân Tiên lúc giáp gặp nhi nữ thuyền quyên: đă hùng hục bẻ cây lại c̣n hùng hục nhắm làng xông vô, đến khi gặp mặt th́ khuôn phép cứ như là gỗ đá, hết "khoan khoan ngồi đó chớ ra" th́ "ngó lại rằng: Ừ!" Giá mà lúc đó Lục có thêm con ngựa để dập dồn tung vó hay đủng đỉnh "lỏng tay buông khấu", thậm chí c̣n biết "Mau với chứ vội vàng lên với chứ" th́ khung cảnh đâu đến nỗi nào! Th́ cũng phải đợi sáu bảy chục năm sau mới có được người tên Diệu lang chạ cùng thơ lăng mạn Pháp để phả ra những lời thơ như thế. Tuy nhiên giữa cái thời mà người ta hăy c̣n mực thước "khoan khoan ngồi đó..." mà Lục đă dám táo bạo mở lời Em ơi t́nh non sắp già rồi như thế, ngày nay ai dám coi Lục - như nhà thơ tiên phong của trào lưu lăng mạn, của thơ mới Việt Nam - là một tráng sĩ cù lần? NGUYỄN HOÀNG VĂN Chú thích: 1.Dẫn theo Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn. 2.Dù trước đó 10 câu, cha Lục Vân Tiên có căn dặn "Hiếm v́ ngựa chạy đường xa / Thỏ vừa ló bóng gà đà gáy tan" tuy nhiên theo những đoạn thơ sau, chúng ta có thể hiểu là Lục Vân Tiên... lội bộ, lời cha căn dặn chỉ là lời giáo huấn có tính ví von! |
|
|