|
||
|
Đến thăm Bảo tàng, du khách có cảm giác như đang đi ngược lại thời gian, về những năm tháng mà Đông Ấu c̣n nằm sau "tấm màn thép" của thời kỳ chiến tranh lạnh; quá khứ ấy, dù đă trôi qua hơn một thập niên, nhưng dường như vẫn lẩn khuất, hiện hữu đâu đây, giữa và trong mỗi chúng ta. Đặc biệt, có thể cảm nhận một cách sâu sắc điều đó qua bài thơ "Một câu về độc tài" (Egy mondat a zsarnokságról) khắc trên mặt chính diện, được xây dựng theo phong cách hoành tráng của trường phái kiến trúc "hiện thực xă hội chủ nghĩa", của viện bảo tàng đặc biệt này. "Một câu về độc tài" là thi phẩm nổi tiếng của thi sĩ, nhà soạn kịch Illyés Gyula (1902-1983). Thuộc hàng các nhà thơ hàng đầu thế kỷ XX ở Hung, ông từng theo học trường Sorbonne (1922-1926), là bạn của Aragon, Éluard và thuộc nhóm khởi xướng trường phái siêu thực và ấn tượng ở Hung. Trong sự nghiệp sáng tác, Illyés Gyula đă được nhận nhiều giải thưởng thi ca cao quí như Giải Baumgarten (4 lần; 1931-1936), Giải thưởng lớn Knokke (1956), Giải Herder (1970), Giải thưởng lớn của Hội các nhà thơ Pháp (1978), Giải Kossuth (3 lần: 1948, 1953, 1970; giải lớn nhất trong khoa học và nghệ thuật ở Hung), Giải József Attila (1950; giải thưởng lớn của Hung về thi ca). Bài thơ "Một câu về độc tài" được Illyés Gyula sáng tác từ năm 1950, nhưng chỉ được công bố năm 1956, vào thời gian diễn ra cuộc cách mạng dân chủ Hungary. Đó là một bản án mạnh mẽ giáng vào chế độ độc tài nói chung và độc tài cộng sản nói riêng. Illyés Gyula đă bóc trần và lên án bản chất và cơ chế của thể chế độc tài, đồng thời ông cũng chỉ ra tính chất "đồng hóa" của nó: độc tài xuất hiện ở mọi nơi mọi chỗ, ngự trị trong tinh thần và thể xác của mỗi con người, biến họ thành nạn nhân và như một căn bệnh lây lan từ người này qua người khác, dần dần nó bắt các nạn nhân trở thành tín đồ phục vụ cho chính nó. Về mặt nghệ thuật, "Một câu về độc tài" mang dáng dấp một thi phẩm "tân h́nh thức" với cách diễn đạt hàm súc, chứa nhiều h́nh ảnh ẩn dụ. Có thể coi bài thơ là một "tiểu trường ca" với 50 khổ thơ (mỗi khổ bốn ḍng); độc giả có thể đọc nó một hồi, không nghỉ, và sẽ có ấn tượng như đang đối diện với những cơn sống biển dạt dào, có lúc ồ ạt, không ngừng nghỉ. Đọc tác phẩm này của Illyés Gyula, chúng ta dễ liên tưởng tới bài thơ "Tự do" của Paul Éluárd với điệp khúc "Ta viết tên em: Tự do" được lặp lại nhiều lần. Điều thú vị là Éluard sáng tác "Tự do" khi châu Ấu đang nằm dưới gót giày xâm lăng của Đức Quốc xă, c̣n "Một câu về độc tài" lại nhằm vào chế độ độc tài Stalin, vốn tự hào đă đánh thắng phát-xít Đức, hoành hành tại vùng Đông Âu chỉ sau đó ít năm. Cách đây 10 năm, "Một câu về độc tài" đă được Diễm Châu chuyển ngữ ra tiếng Việt (nguyệt san "Thế kỷ 21" số 25, tháng 5-1991, trang 60-62). Đó là một bản dịch tương đối thành công, tuy nhiên có thiếu vài ba khổ thơ và đôi chỗ chưa thật chính xác (có lẽ v́ phải thông qua ngôn ngữ trung gian là bản tiếng Pháp?) Chúng tôi xin dịch lại từ nguyên bản tiếng Hung để giới thiệu với bạn đọc một tác phẩm lớn và có tiếng vang của nền thi ca Hung thế kỷ XX.
Ở nơi có độc tài,
có độc tài
không chỉ ở lời buộc tội
không chỉ trong phán quyết
trong tiếng gằn giọng: "Bắn!"
không chỉ trong những tin tức
không chỉ trong ngón tay đặt trước miệng
không chỉ trong nét mặt
trong lớp sóng trào
độc tài có trong tiếng trườn của chiếc xe
nó có khi anh "A-lô"
không chỉ như nạn nhân
bởi có độc tài
nó có trong những bàn tay
nó có ở góc phố
nó có trong pḥng tranh muôn màu
bởi độc tài có
bởi độc tài có ở
trong câu ấp úng của một đứa bé
không chỉ trong dây kẽm gai,
nó cũng c̣n đó
trong những câu "khỏe không?"
trong khuôn mặt người thương
không chỉ trong cuộc khẩu cung,
bởi anh chẳng c̣n một ḿnh
bởi anh chỉ tin là đẹp
nó ở trong đĩa và trong ly,
như thể cánh cửa để ngỏ
khi anh th́ thầm một ḿnh,
trời cao nhung nhúc những lều vải
từ cửa miệng người tu sĩ đang giải tội,
anh hoài công khép mở mí mắt,
bánh tàu quay, anh nghe,
khi lằn chớp lóe lên, nó đấy
trong sự yên tĩnh
trong cơn tuyết đổ cầm chân anh
và bởi nó có mặt trong mọi dự định,
như con nước theo ḍng chảy,
anh hoài công muốn trốn, nó ŕnh rập anh
nó thấm vào anh, nó ăn sâu
anh muốn nh́n, nhưng chỉ thấy
bởi khi liệng đi,
và anh không c̣n cảm thấy: thế nào là sống,
và như thế, chính kẻ nô lệ
ở nơi có độc tài:
bởi, v́ anh, đứa trẻ
như bầy chuột chũi dưới nắng mặt trời
bởi ở nơi có độc tài,
bởi nó ở
NGUYỄN HOÀNG LINH
Ghi chú: 1. Nguyên văn: fal-morse (trong tù, các tù nhân thường liên lạc với nhau theo tín hiệu Morse bằng cách gơ vào tường). 2. Ở đây, tác giả dùng một điển tích trong thần thoại Hy Lạp, không dịch được. Xin dịch thoát ư. |
|
|