|
||
|
Cốt truyện: Một ông già da trắng và một thằng bé da màu. Một cuộc t́nh cấm kỵ trong sa mạc hoang vu? Một cơn ác mộng loạn luân trên đồi gió hú? Một mối căm thù khôn nguôi giữa hai dân tộc? Dục t́nh và cưỡng bức để làm dụ ẩn diễn tả thời thuộc địa? Hay chỉ là một bài thơ "t́nh thù rực rỡ", một giấc mơ "phiêu lưu", một chuyện t́nh "dị thường, dị chủng trong vườn địa đàng hoang vắng", một luận án về "sức mạnh của ngôn từ" ở trong đầu một gă da trắng? Nghị Hách: một "Tướng về hưu" xa nhân loại và thế giới, một "Tá về chiều", cô đơn, dưới một mái nhà hoang liêu. Ngài đại tá không chờ thư, mà chỉ chờ đợi, suốt đời, một thiên thần da màu bé bỏng sẽ mang t́nh yêu chân chất đến hiến dâng. Cuối cùng thiên thần cũng đă tới, một đêm trăng... Thị Mịch: một chú nhỏ quê mùa, mồ côi, cô đơn, ngây thơ, man rợ. Một nhà thơ, một nghệ nhân, một thiên thần chỉ có đôi cánh mỏng vạn dặm dưới gót chân du tử lang thang. Và ḷng câm thù người da trắng trong quả tim non để trao tặng... Phần c̣n lại là lịch sử. Và định mệnh. Mà cũng có thể chỉ là mộng mơ thôi! Như Emily BrontỒ, cô con gái iền lành của một vị mục sư, đă mơ mộng. Để viết Đỉnh Gió Hú. ông già đôi khi chỉ là một đứa con nít, và thằng bé th́ có khi lại "nghiêm chỉnh" hơn người lớn. "Những giọt máu của người đàn ông đó cũng là những giọt máu của tôi, dẫu tôi không dám thú nhận nó là máu huyết của tôi đến mức độ nào", thằng bé con đó đă viết... Huyền thoại: Trong khoảng đầu thập niên 50, vài nhà văn, nhà thơ ưu ái của nước Pháp, như André Gide, étiemble, Yves Bonnefoy... thỉnh thoảng nhận được các tập bản thảo nho nhỏ, rất lạ lùng, dưới cái tên chung là Le vieillard et l'enfant. Các tập này, in trên giấy màu và đầy những chỗ gạch xóa sửa chữa thêm, đều ghi tên tác giả là Abdallah Chaamba, và được gởi đi từ vùng sa mạc Bắc Phi. Nhà văn André Gide cảm thấy "một niềm vui sướng tột cùng và lạ kỳ" khi ông đọc đi đọc lại các trang viết đó. Tác giả h́nh như là một cậu bé người An-giê-ri hay Ma-rốc, mới tập viết tiếng Pháp, do vậy mà văn chương có khi "vụng về", nhưng cũng nhờ thế mà thêm thi vị. Cuối cùng, năm 1954, nhà xuất bản Les éditions de Minuit đă thâu gom các tập đó lại và in chung thành một quyển truyện cùng một tựa đề như đă kể, với khổ trang lớn In-8 và khá dày (272 trang). Sự thật: Năm 1963, Nhà Minuit in lại tập truyện này dưới dạng khổ rất nhỏ In-16, gồm có bốn chương và một bài dẫn nhập "ZIRARA", do chính tác giả viết. …n bản mới này được cả thảy là 84 trang, với cái tên tác giả sửa đổi lại như sau: FRAN†OIS AUGIéRAS (ABDALLAH CHAAMBA). Bởi tác giả cuốn truyện này thật ra là một người Pháp, sinh ngày 18 tháng Bảy năm 1915, tại Rochester, Mỹ. Mẹ ông là người Ba-lan, có ḍng máu dân Nga miền Đông Bắc. Người cha đă đem gia đ́nh sang Mỹ để dạy nhạc tại trường Eastman ở Rochester (New York), và mới qua đời v́ ruột dư bị sưng mủ. Tháng Mười Một, người vợ đáp chiếc tàu thủy France, đem con và xác chồng về Paris sinh sống. Sự cắt tỉa bớt cuốn truyện đầu tay đă được tác giả giải thích cặn kẽ trong lời đề tựa. Tuy nhiên, vẫn tiếc thay, v́ trong ấn bản đầu tiên tôi mua "xôn" trong tiệm sách Xuân Thu (Librairie Portail - sát vách quán "cái Chùa" La Pagode dưới thời Pháp thuộc) trong thời c̣n đi học ở Sài g̣n, có nhiều đoạn nói về các đồn lính tây và các phiên chợ thổ dân rất hấp dẫn. ông đại tá và cái trang trại (bordj) trong truyện có thật. ông già này là bác ruột của Augiéras và bạn thân của tướng De Gaulle. De Gaule cũng có đến viếng cái bảo tàng viện của bạn ḿnh ở El Goléa. Cậu bé chính là tác giả, nhưng "cậu" đă hai mươi tuổi khi đến El Goléa sống với bác để t́m một liên hệ cha con mà cậu đă cảm thấy rất thiếu thốn. Tất nhiên, đời sống thật chỉ được sử dụng đôi phần thôi, và chỉ là cái cớ để sáng tạo một tác phẩm văn chương đă kết tinh trong trí tưởng tượng trước đó. FranÓois Augiéras có thư từ qua lại với André Gide, và trong năm 1950, có được gặp mặt nhà văn tên tuổi này một lần ở Taormina. Tác phẩm FranÓois Augiéras để lại gồm có: Le vieillard et l'enfant, Le voyage des morts, L'apprenti sorcier, Une adolescence au temps du Maréchal, Les Noces avec l'Occident, Domme ou L'essai d'occupation, và nhiều bức tranh giá trị, vẽ trên ván và trên vải (tissu chứ không phải toile / bố). Nhưng ông già và Thằng bé vẫn được coi như tác phẩm độc đáo nhất của nhà văn này. Có người đă xem nó như một dụ ẩn về đạo Thiên Chúa, Thượng đế và đức Ki-tô, cha và con, chỉ là một người duy nhất, và Thượng đế đă đóng đinh / đă để mặc cho loài người đóng đinh đứa con yêu dấu của ḿnh. Năm 34 tuổi (1960) F. Augiéras, một người đồng tính, cưới một cô em họ 17 tuổi (như Gide), và người vợ xin ly dị năm 1967. ông mất ngày 18 tháng 12, năm 1971, trong sự cô đơn, túng thiếu. Chỉ có ba người bạn thân tiển đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Tới nay (1984) ngôi mộ ông vẫn chưa có tấm bia đá. Với FranÓois Augiéras, "tôi" không chỉ là "một người khác" như với Rimbaud, mà tôi lại c̣n là "một kẻ man rợ" (Je est un barbare). Sau đây là phần trích dịch "Zirara", lời dẫn nhập, và chương một của ông già và Thằng bé, tác phẩm "dị thảo" có một không hai của văn chương nước Pháp. Thổ dân mê-ha-rít chắc cũng đă được biết những t́nh cảm đối nghịch giống như tôi vậy, bị áy náy đến mức độ cảm thấy xấu hổ, v́ họ cũng muốn chống lại những người đồng chủng. Đúng thế, chúng tôi đều đă thích mùi vũ khí, mặc dầu trong thâm tâm họ đă không muốn dùng khí giới để chiến đấu một kẻ thù có thể đang ŕnh rập từ những đỉnh cao xung quanh, và ở đây chẳng có ai đă thực t́nh muốn lùng bắt kẻ thù cả, mà chính kẻ thù đó, cũng vậy, cũng vẫn c̣n thư thả như chưa muốn tiếp xúc vội với đối thủ. Trên nguyên tắc, chúng tôi đă kiểm soát một vùng đất dành cho dân du mục và sự có mặt của chúng tôi chỉ để tượng trưng thôi, Zirara chỉ là một cái đồn bót ở cách xa đường đi hiện nay, nó nằm trên cái ngả di chuyển cũ, về hướng El Goléa, trong một cảnh trí tuyệt đẹp. Chúng tôi lúc đó chỉ là một lá cờ cắm trên một ngọn núi. Rất đúng, là sa mạc không khuyến khích những hoạt động thực sự. Hai hay ba gia đ́nh du mục, luôn luôn là những gia đ́nh này, đă tới lấy nước giếng trong bóng mát các bờ tường của chúng tôi, rồi lặng lẽ ra đi, họ tất nhiên phải biết rơ về quân số và vũ khí của chúng tôi, trong lúc chúng tôi mù tịt về dự tính của phe địch. Các nhóm du mục ở những nơi xa hơn và gặp gỡ trong các cuộc tuần tiễu vất vă, đă lănh đạm chứng kiến cái cảnh đoàn quân xa bị lún śnh, họ đă tĩnh bơ trong khi các chiếc phi cơ thám thính đă báo cho chúng tôi biết có những toán vơ trang đang từ hướng Bắc di chuyển xuống, các anh bộ đội của nhóm Belounis đă mang theo quân trang và vũ khí ra chiến khu, các nhóm này vẫn thích trở về đầu thú, thường bị phân tán, và chỉ c̣n lẻ tẻ vài ba mạng hết biết đi đâu, nên sẵn sàng bắn giết, cũng như sẵn sàng quy nạp nếu có lời hứa sẽ không bị xử bắn. Thảy đều đă rất bấp bênh trong sự im lặng của sa mạc và ở giữa mùa hè Sahara; thảy đều đă như không thực ngoài cái thực tế mà chúng tôi chỉ có thể tưởng tượng ra khi nh́n thấy những dấu vết cũ đă bị gió xóa nḥa gần hết. Nhưng một cuộc tấn công bất ngờ vẫn có thể xảy ra lắm. Zirara: hăy tượng một cái đồn bót có những khe súng, phủ một lớp nước sơn trắng chói mắt, trên một đỉnh đồi cao đầy sỏi đá. Xung quanh là sa mạc. Một cái giếng nước ở giữa đồng, vài ba con lạc đà. Zirara: một cái bordj trong dạng thái tối thiểu nhất, gần như trừu tượng, nơi mà cuộc đời binh lính đă không c̣n quân kỷ nữa; các đại đội mê-ha-rít đi tới lui như ở tại tư gia, sau các giờ trực, sau các cuộc tuần pḥng, mạnh ai nấy đi nấy làm các công việc riêng tư, một cách quá ư là nhàn nhă khiến trí óc tôi rất thư thái tự do. Một buổi sáng, sau khi đă giao đoàn quân xa cho vài tên lính ngồi lại canh giữ , cầm súng tiểu liên và nối gót nhau, chúng tôi chẫm răi đi lên một triền dốc chấm dứt bằng những mũi đá. Băng đạn quấn vào giây nịt, đùi trần, trong bầu không khí tinh khiết trinh nguyên của buổi sớm mai, da sạm nắng, bắp thịt săn cứng v́ cố gắng: bỏ mạng trong một cuộc chiến tranh phi lư, đó là cái số phận dành cho tôi, tôi đă thầm nghĩ trong khi leo dốc, với lũ bạn lặng lẽ đi sau lưng. Khi đă lên tới đỉnh chúng tôi chỉ nh́n thấy sa mạc mênh mông; chúng tôi đă lấy ống ḍm ra quan sát các vùng lân cận yên tĩnh; chúng tôi đă trở lại đoàn quân xa. Khi đêm xuống, chúng tôi đă quay về trại. ánh sáng của đèn pha đă rọi lên ṿng thành xung quanh cái đồn, lôi ra ngoài bóng tối các tấm vách tường trắng, rồi cánh cổng đă đóng lại tức khắc sau khi đoàn xe đă tiến vào trại. Tôi leo lên một mái nhà đứng canh gác, gỡ băng đạn ra để vô một khe tường kế bên cây súng, và trong một tiếng đẩy nhẹ, gài cần lên ṇng, các viên đạn lấp lánh dưới ánh sáng những v́ sao mới mọc. Nếu ḷng chung thủy của tôi đối với nước Pháp không thành vấn đề, th́ ngược lại chắc chắn sự có mặt của tôi ở châu Phi trước tiên là để phục vụ cho định mệnh của tôi. Một cuộc phiêu lưu riêng, một hướng đi cô độc? Xâm lấn ai ở những vùng giới tuyến bao la này, trong khi du kích chiến đă lan tràn khắp thế giới. Trăng đang lên trên các đỉnh đá trước mặt. Tất cả đang yên giấc, trừ tôi ra, cây súng trên tay. Các sân thượng trắng của chúng tôi vươn ra ngoài bóng đêm, và phản sắc dữ dội với cái sân tối. Các vết sẫm của những tấm mền đắp che thân thể vài tên á rập đang nằm ngủ trên các mái nhà hiện ra đó đây trên cái nền vôi trắng huyền ảo. Tôi đi vài bước trong bầu không khí tĩnh mịch, ấm áp, băng đạn vắt lên vai, tránh đụng chạm vào những kẻ đang nằm ngủ khẽ mớ ú ớ hoặc mở một bàn tay ra mà không tỉnh giấc lại, gương mặt phủ kín như người chết. Sự vô ư thức của họ càng khiến tôi muốn nh́n thấy rơ ḿnh hơn nữa. Nếu chẳng có một điều ǵ khác có thể gợi xúc cảm nhiều hơn cái giấc ngủ của một kẻ mộ đạo, th́ sự tự luôn luôn mê măi chất vấn ḿnh cũng không thua kém nó đâu; trên các mái nhà Zirara này, ở giữa bọn đang ngủ say, chỉ có tôi là kẻ duy nhất c̣n thức tỉnh, chiếc bóng dọi của tôi chẫm răi lướt qua trên ḿnh họ. ở đây chỉ toàn là dân á rập, toàn những người lính rất tự do, rất cô đơn, toàn những tín đồ bị Thượng đế ám ảnh, như tôi bị ám ảnh bởi cuộc phiêu lưu của chính ḿnh, và, nhiều hơn nó nữa, là cuộc phiêu lưu trong các cuốn sách đa màu của tôi, đă được gởi đi từ sa mạc khi tôi c̣n chưa biết tí ti ǵ cả về cái nghề viết lách. Nh́n lại đời ḿnh, tự kiểm thảo trước những tinh thể của đêm, cái định mệnh của tôi, như thể sự bất trị và sự gần cận với mối hiểm nguy đă tách rời tôi khỏi nó, cái định mệnh của tôi, nó chợt hiện về như một kế hoạch, như một chuỗi tín hiệu. Nơi phía Bắc khu trù mật El-Goléa, ở giữa những vườn dừa, trong một thứ viện bảo tàng được bồi đắp thêm cho kiên cố, tôi đă sống chung với một ông đại tá nghỉ hưu mà tôi đă gần như là tên nô lệ. ông đại tá ấy, tuy nhiên, đă không độc ác đến mức độ không thỉnh hoảng cho tôi có được cái vinh hạnh nghe ông tỏ bày vài ư kiến, nhất là về ḷng khinh miệt của ông đối với sự trường tồn trong kư ức con người, và hơn thế nữa, trong kư ức của một ông Thượng đế. Bằng một thứ ḷng tốt nào đó ông ta đă dạy tôi viết đọc tiếng Pháp, trong lúc đă có những tiếng gầm gừ khe khẽ từ cuộc nổi loạn giải phóng quê hương đất nước An-giê-ri; một đêm, tôi ngó thấy trong mắt ông ta như là một sự hải sợ, và ông ta đă chấm dứt ngay việc dạy dỗ tôi. Lúc đó bỗng nảy nở trong đầu tôi một đức tin bất khuất về cái sức mạnh của ngôn từ ; đă có một khám phá bất ngờ về một quyền năng và những hậu quả của nó trong lúc tôi cảm thấy bị sỉ nhục. Tôi đă tiên đoán sự chiến thắng rực rỡ của ḿnh; tôi đă quyết định để cho cả vũ trụ chứng kiến cái câu chuyện dị kỳ đă xảy ra trong một bảo tàng viện nơi sa mạc, biến nó thành một cái truyện, dùng nó để nói lên nỗi thống khổ của tôi, để bằng cách đó, trả thù một ông đại tá về hưu tàn nhẫn. Nghệ thuật kêu cứu, đó là bản thân nó lúc ban đầu; do vậy mà không đọc được, biết bao trang viết dưới ṿm trời đầy sao trong một hốc đá, thật ra, không phải để cho con người, cũng chẳng phải cho dương thế, mà đúng ra, chỉ cốt để cho mảnh linh hồn tôi bất tuyệt và cho Thượng đế mà thôi. Tôi đă viết chỉ để viết, để tự biện bạch trước mặt đấng Tạo hóa là vị Thẩm phán của tôi, giải thích về cái thân phận quá đớn hèn của ḿnh, về sự thiếu tự tin nơi tài viết văn của ḿnh; sự cô đơn không giúp cho tôi có được nhiều hy vọng gặp gỡ những người khác. Và một nếp sống gần như là du đảng đă hoàn tất sự cắt ĺa tôi với tất cả; tôi đă viết cho Thượng đế, cho tôi. Tôi đă thú thật hết, v́ chẳng viết để thưa gởi với ai cả. Cho đến một hôm tôi cảm thấy ḿnh như đă có được một thứ kiêu hảnh v́ đă phải sống quá khổ sở như vậy. Các cuốn "sổ tay" rứt ra từ một châu Phi đen tối nhất, bỗng mất cái bản sắc vô giá trị, một văn thái bị ám ảnh bởi bầu trời đầy tinh tú có thể gây được thú vị nơi người đọc lắm chứ. Thượng đế câm lặng; nhưng tôi vẫn c̣n có những kẻ khác. Xuất phát từ sa mạc, kín đáo bỏ vào các thùng thư, các cuốn sổ tay in sơ sài bên Bỉ trên các trang giấy màu, xanh đêm, vàng và hồng, không để thương mại, được gởi đi từ Ouargla, Touggourt, Gardaia qua „u châu, qua á châu, có khi đến tận ô-xê-a-ni; sổ chứ không phải sách, v́ đă bị gạch bỏ đến gần rách cả giấy, lem luốc do bàn tay tôi, gói buộc qua loa trong các tờ giấy dày màu xanh ở các nơi này thường được dùng để bọc các thỏi đường, những mẩu giấy gói hàng mà tôi đă nhặt trong các tiệm tạp hóa tại các khu trù phú khi tôi đến kiếm các tạp chí văn nghệ t́m ghi lại các địa chỉ. Thoạt tiên, mọi việc đều đă có vẻ như ḱnh chống tôi: sự lạ kỳ của một câu chuyện có nhiều yếu tố ô nhục, việc tôi đă gởi chúng nó đi với tính cách cầu may, sự nghèo nàn và sự yếu đuối của tôi. Thế nhưng, viết đối với tôi, chỉ có giá trị thực sự khi nó khởi đi từ sự cô đơn tuồng như bất lực đó; tôi đă để tất cả hy vọng vào một cái phép lạ, đă mong cái khoảng cách quá lớn giữa sự nhỏ bé khiêm nhường của các cuốn sổ nhỏ đó và văn chương của thời đại tôi sẽ tạo được sự hữu ích cho tôi; dù thiếu hẳn các nguồn tin nhưng tôi vẫn biết rơ cái tác phẩm man dại đó nó cũng có thể gây được sự ngạc nhiên chú ư nơi người khác. Tôi đă đặt tất cả niềm tin vào sự sống c̣n, sự tồn tại không thể giảm bớt của tôi trong sự rủi may của những đêm tối; người ta sẽ đáp lời tôi mà, tôi tin chắc như vậy; lúc đó tôi c̣n là một thằng con nít, nhưng vẫn có thể t́m được một chỗ nào đó trong tim của dăm ba nhà văn; tại nơi sa mạc ấy, trong những năm 50, họ đă có một đối thủ lợi hại. Nhưng tin đi mà đợi măi chẳng thấy tin về. Với cái cú thử thời vận đó giữa những tinh thể của đêm, tôi đă quá liều lĩnh đ̣i hỏi một điều bất khả chăng. Nhiều tảng mây bay qua che đậy các v́ sao, tôi đă gác bút, và không có một vọng âm nào cho tiếng gọi của tôi. Tôi đă kêu gào rất vô ích từ cái đáy vực của khổ đau. Tôi tin rằng Thượng đế đă khước từ sự tồn tại của tôi trong kư ức con người bởi v́ tôi đă thưa thốt với Ngài trước tiên, bởi v́ Ngài sẽ định đoạt cho cái số phận của tôi, bởi cái tương lai của mảnh linh hồn tôi và của cái chuyện trong sa mạc chỉ là việc riêng tư giữa chúng tôi thôi. Tôi đă tuyệt vọng, trong lúc cuộc phiêu lưu của các cuốn sách của tôi vẫn tiếp tục ngoài sự hay biết của tôi. Bởi chúng nó đă được cứu vớt khỏi sự quên lăng như tôi đă quyết định. Cuộc phiêu của chúng nó ôi lạ kỳ thay; khởi đi từ châu Phi, gần như không thể đọc được, với nhiều màu sắc, tựa như củi dạt bèo trôi, nhưng lại gặp được may mắn một cách khó tưởng tượng nổi, chúng nó đă được thu nhặt và in ấn. Được đặt để trước một đề tài kỳ diệu lúc c̣n quá non trẻ, bốn năm sau, tôi chẳng c̣n nghi ngờ ǵ nữa cả: cái mà người ta đă cứu vớt đó, nó chỉ là một tiếng réo gọi thôi, tác phẩm thật sự vẫn cần phải được viết ra. Chắc tôi vẫn c̣n được trọn quyền để hồi sinh trong kư ức ḿnh cái bề sâu của tấn thảm kịch đó chứ, trả nó lại cho chính nó, mà không làm mất đi cái nét ngây thơ man rợ lúc ban đầu, viết nó lại một cách nhân ái hơn, giản dị hơn, viết nó lại cho những kẻ đă ch́a tay ra cho tôi nắm bắt. Đă có biết bao nhiêu trang viết quá thừa thải! Lúc đó nó là tiếng la hét của cơn phẫn nộ, là sự khám phá đầy kinh hải một văn thái bị ám ảnh bởi Thượng đế dưới ṿm trời đầy sao của châu Phi, là tấn thảm kịch của một đứa bé đă bị nô lệ hóa; nó chỉ có thể là chất liệu để viết một cuốn truyện be bé thôi, tôi đă nghĩ như vậy trên các mái nhà Zirara, trong một phiên gác đêm. Tôi đă bắt gặp cái sức mạnh của chữ nghĩa lúc bị sỉ nhục; nay tôi lại thấy ḿnh cần phải giải thích thêm cho được rơ ràng hơn, bởi tính mệnh tôi đă bị đe dọa. Trên các mái nhà Zirara, tháng Tám 1957. Tôi ngó thấy một chốn dị kỳ trong sa mạc, một cánh đồng cỏ vàng bị cắt xẻ bởi những con suối và những đầm lầy, và tôi nghe tiếng chảy róc rách của một ḍng suối. Dưới màn trời đêm, cuối một con đường dài, một bức tường có những kẽ hở để nh́n ra ngoài bao bọc một chiếc sân lớn ở giữa những gian nhà sơn màu đỏ tươi. Trên một cái mái phẳng, một chiếc giường sắt lấp lánh dưới ánh trăng. Tôi đă cất tiếng gọi, đối diện với những tảng đá của sa mạc, trong tiếng sủa của lũ chó bị bước chân tôi đánh thức, những bước chân không mang giầy đi trên cát, một bàn tay đặt lên cánh cổng gỗ có những ṿng xích, trong lúc một tên da đen đốt một ngọn đèn dầu và ông già bước ra theo dưới bầu trời đầy sao. Vào nhà, ông già mời tôi tới ngồi nơi chiếc bàn như thể đó là cách tiếp khách duy nhất; ông già mở tủ và cho tôi các thứ tôi hằng mơ ước. Ngồi đối diện nơi mép đầu kia của chiếc khăn vải láng trải bàn và chỉ lẳng lặng nh́n tôi, ông già đă đặt trước mặt tôi bánh ḿ, cá ṃi, một cuốn tập kẻ ô vuông, cây bút và lọ mực tím; miếng ăn cuối cùng bỏ vô miệng, ông già đọc cho tôi viết các từ Pháp ngữ, chất vấn tôi về địa lư và sử kư nước Pháp. ổng ghi vài bài toán cấp tiểu học vào cuốn vở rồi đi ra. Căn buồng có vẻ tiều tụy, gần như trơ trụi, và một nỗi buồn mênh mang xâm nhập tôi trong sự im lặng của đêm khuya. Trên tường, lồng trong những chiếc khung gỗ, ảnh của các thằng nhỏ đồng trang lứa với tôi, kỷ niệm của thời ông già c̣n là một vị sĩ quan. ông già trở vô, mở một cái hộp gắn vào tường, lấy ra một chiếc ch́a khóa. "Ch́a khóa ǵ?" "Ch́a khóa kho lương thực." Để bước ra ngoài, ông già đi ngang qua mặt tôi, tôi đứng dậy đa tạ tấm ḷng vàng. Tao chờ đợi cái cử chỉ đó, ông già nói, mày cứ ngồi. Tôi ngồi xuống trước các bài toán. "Thật ra th́ chẳng phải là những bài toán mà sự bày tỏ ḷng tín nhiệm rồi mày sẽ hiểu. Tao đă quan sát mày; t́nh cảm của mày tốt và cao thượng, học lực của mày đầy đủ." Nói xong ổng đưa cho tôi mấy tấm mền rồi trở về pḥng. Mùa đông, và lửa cháy khôn nguôi trong ngôi nhà buồn bă của ông già. Mỗi buổi tối, chiếc vai đẹp và êm ái của tôi, ông già muốn áp nó vào ngực. ông già thiếp ngủ, c̣n tôi th́ mắt vẫn mở thao láo. ông già nói ổng chẳng khác ǵ cha tôi, nhưng tôi chỉ yêu thương có một Thượng đế thôi: chỉ có một ḿnh Ngài là đấng Tạo hóa và Quan ṭa của tôi thôi. Các chuồng cừu của chúng tôi đầy những tiếng dê; tôi thích các căn nhà gỗ bé nhỏ này, sự ấm áp của các tàu ngựa; và cái thằng đàn ông đó, tôi căm thù nó. Nó băng qua chiếc sân bị gió vùi dập từng cơn; nó vuốt ve mái đầu tôi và một ư nghĩ vụt đến. Trở về pḥng, nó mở một cái hộp, lôi ra một cái com-pa và lấy ni tấc đầu tôi: "Mày là thằng nhỏ bảnh nhất đă tới đây ở. Tổ tiên mày đă di tản từ Iran, và đôi mắt xanh biếc của mày là đôi mắt của giống dân bẹc-be." Sau khi ghi h́nh dáng khuôn mặt tôi trong một cuốn sổ chi chít những tên họ đă sắp hết trang: "Mày lại đây ngồi gần tao bên ḷ sưởi." Khói tỏa làm cay mắt; ở các nơi khác th́ trời lạnh kinh khủng và tôi sẽ chết đói. Tôi sẽ trông coi các phiến than hồng, khơi những tàu dừa đang bốc cháy. Tôi đau khổ, lệ tràn chứa chan; tôi viện cớ bỏ đi ra ngoài. "Về lẹ nhé", nó réo theo. Tôi tựa ḿnh vào một thân cây khuynh diệp, gần các chiếc lồng chim cu, tôi khóc âm thầm trong bóng đêm dưới những cành cây thấp, mái đầu êm ái của tôi nghiêng nghiêng xuống trên những vẩy cây. Bên cạnh tôi là những cái chuồng và những con khỉ đang thiếp ngủ trong những sợi xích. Và chỉ có tiếng nức nở của tôi và sự xê dịch của lũ chim trên các thanh gỗ. Tôi trở về nhà nó, gió bấc thỉnh thoảng đập vào cánh cửa từng cơn, từng cơn gió buốt lạnh. ông già cho tôi những bộ đồ lính mà tôi phải dùng dây nhợ cột thắt vào người. "Bữa nay mày chăn dê." Tôi lùa đàn thú của tôi tới một vườn cây khô héo, những nhánh cây tuyệt vời như rắc muối bọt hay phủ tuyết trắng. ở những chỗ đất cao, cát đùn vào giữa những tảng đá màu ngọc trai, những hạt cát mịn màng, khít khao, vàng óng. Gió đă để lại những lượn sóng trên cát. Gió mát th́ thầm trong những bụi rậm, dưới bầu trời xanh thẳm đến tận cùng không gian. Vài cánh chim thưa của những sườn đồi trơ trụi và quang đảng này rời những hốc đá và tung bay với những tiếng kêu the thé. Tôi chăn giữ đàn dê của tôi kề vầng trăng bạc gần gũi với tôi hơn ngôi nhà của "ba". Rồi tôi đi xuống cánh đồng, trên những nẻo đường ṃn len lỏi qua mê đạo những phiến đá dưới chân là vườn dừa của vùng sa mạc ph́ nhiêu. ông già đang đi dạo nơi phía tây cánh đồng cỏ ; cây gậy đầu bọc sắt cắm xuống đất, lăo nh́n mặt trời lặn. Trong một góc sân, tôi chờ nồi súp chín. Đóng chốt khóa cửa kho lương thực xong, ông già hỏi tôi đă về tới nhà chưa. Tên da đen, tay bưng một chồng dĩa, bảo tôi đi vô căn nhà của cha tôi. Tôi lấy tay gơ lên cánh cửa độc nhất, bước vô, dùng bàn chân đẩy cánh cửa ra. ông già đă đặt một bàn cờ trên cái khăn vải láng trải bàn; tôi moi óc t́m những nước cờ cao để đánh bại ông già, tôi sẽ nằm ngủ bên đóng tro tàn trong bộ đồ lăo đă cho. Vào lúc đêm tàn tôi tiến về hướng mặt trời mọc, về phía những ngọn đồi trắng, về nơi tinh khiết muôn đời của thế giới. Bước từng bước lặng lẽ và êm nhẹ, hạnh phúc trong bộ đồ nỉ, tôi đi trong sa mạc, chiếc áo măng-tô nhà binh khoác lên đôi vai trần, trong sự yên b́nh của buổi ban mai, từ phiến đá này tới phiến đá kia trong những thung lũng im vắng. Không một gợn mây trên những ḥn sỏi của những triền đồi duỗi về hướng đông xa hơn là tôi đă nghĩ, xuyên qua những hành lang đá xám mát rượi đẫm sương mai; không một tiếng kêu, ngoài tiếng của một con diều hâu trên những băi vắng. Đôi dép cỏ để trên cát, tôi lấy chiếc sơ-mi nắng hâm nóng và gai nhọn đâm thủng trùm kín đầu. Trên những cồn cát, ngoài ŕa những đỉnh đồi đá, ở giữa cơn gió, tôi yêu thương Thượng đế đă cho tôi một mảnh linh hồn. Tôi chỉ cần báo cáo hành vi của tôi cho đấng Tối cao thôi: Ngài mới chính là Thượng đế và Quan ṭa của tôi. Trong cái sa mạc phớt hồng này, ḿnh trần, cây súng vác ngang trên đôi vai rộng, tôi lùa đàn thú qua những cánh đồng cỏ thưa. Thảy đều yên lặng: không một vết nhỏ trên mặt đất; mỗi ngày gió xóa sạch các dấu vết mới, chỉ để lại trên cát bức vẽ tinh khôi có vô vàn nếp nhăn. Tôi bước chẫm răi trở về nhà trong ánh hoàng hôn; mặt trăng lấp ló trong những lùm cây ở Chir. Cơn lạnh xâm chiếm các thung lũng đá của tôi. Đàn thú lùa vô chuồng, tôi đến ngồi bên ngưỡng cửa. Tôi thấy nó đang ngồi đọc sách trước ngọn lửa. Nó đi ra, gọi tôi đến cho bánh ḿ với thịt trong sự im lặng và cái lạnh của mùa đông. Tôi sẽ làm những điều hắn muốn; chúng tôi sẽ vặn máy hát, tôi sẽ gắn một cây kim may vào đầu máy, chúng tôi sẽ nghe nhạc nơi một góc bàn. Đầu gục trên cánh tay, những hạt cát dính trong túi áo blouson nỉ, tôi sẽ khép mắt lại trong bóng tối của đêm nay. Gió thổi mạnh như sắp có băo. Các gian nhà trống trải, ơ những cánh cửa mở toang được chêm bằng củi cành. Những cụm mây xám và dài bay lướt nhanh trên sa mạc và trên các vườn dừa của chúng tôi, nơi đấy, nơi có những đầm lầy, người đầu bếp đă giăng bẩy bắt được một con ngỗng Thụy Điển, chân nó có đính chiếc ṿng khoen của thảo cầm viên ở Stockholm. ông đại tá viết thư gởi về Stockholm cho biết sự có mặt của con chim tại miền Nam An-giê-ri. ổng bảo tôi viết địa chỉ trên cái bao b́ để thực tập, trong ngôi nhà của ông ta có những cây cột bằng đất sét đắp nắn và sơn phết sơ sài để hứng đỡ các ṿm mái. Rồi ổng lại tiếp tục đọc quyển sách nghiên cứu địa chất học; chúng tôi uống những tách sô-cô-la nóng bỏng miệng; chúng tôi đốt các tàu dừa, ngọn lửa phựt cháy, rồi lụn tàn nhanh, và tôi ném thêm những chiếc lá dừa khô vô ngọn lửa. "Tao đă theo dơi mày từ trên mái nhà; sa mạc bẩn và ướt. Mày chơi đùa. Mày ngước mặt chạy giỡn trong cơn gió; tao không cấm mày nô đùa, tao chỉ không hài ḷng với cái cách mày chăn giữ đàn thú của tao. Chắc mày sẽ không bỏ tao chứ. Một thằng du đảng tao đem về nuôi đă trốn đi." Không đáp lời ông, tôi ngồi xếp bằng trước ḷ sưởi. ông già cũng nín thinh suốt cả tiếng đồng hồ. Nông trang yên tỉnh ; tên đày tớ vắng nhà; những tán dừa in bóng lên nền trời. Tôi run lập cập nơi bàn ăn ; ông già cầm tay tôi, và, nghiêng ḿnh trên các dĩa đựng thức ăn: "Một phần là do lỗi mày; chạy chơi như vậy mà mày không mặc áo h́ dễ bị trúng gió lắm. Vô buồng nằm đi." ông già cũng đi vô buồng theo tôi ngay sau đó, tay cầm cây đèn dầu, mà ổng để lên trên chiếc bàn ngủ. ổng lấy tay rờ thử cái chụp đèn thủy tinh sợ nó nổ, ổng vặn nhỏ bớt tim đèn; tiến về phía một khung cửa sổ hẹp, ổng đứng nh́n ra ngoài, chiếc sân trắng xóa dưới bầu trời đầy tinh tú, rồi ổng trở lui về chỗ tôi khi tôi đă chui vào các tấm ra nhám, dưới các tấm mền ươn ướt của chúng tôi. ông già đặt ống giác cho tôi. Tôi run lập cập, v́ lạnh, rồi v́ nóng, tôi ngủ thiếp trên chiếc giường lún xuống của ông già, kế bên tấm vách xông mùi nước tiểu và mùi xà bong; rải rác đó đây là những quần áo cũ, những chiếc giày đế ṃn v́ cát, và một cái tủ chè miền quê ẩn hiện trong ánh sáng dịu dàng của lửa. Sau một hai giờ im lặng, gió lại tiếp tục thổi trên sa mạc, đập vào các mái tôn. Đó là cái giờ buồn bă, khi ông già tỉnh giấc. ổng sẽ ngồi viết cho tới sáng. Cây đèn đă được châm thêm dầu gần tràn ra ngoài. ổng chuốt các cây bút ch́ và chuẩn bị các cục tẩy bằng cách mài lên vách. Trên các trang vở ổng vẽ h́nh những con người thời tiền sử nằm trước cửa hang, dưới bầu trời đầy sao, trong buổi chiều đầu tiên của nhân loại. ông già muốn có những chi tiết thật rùng rợn, những khuôn mặt đầy thú tính, và lăo buộc tôi phải bắt chước lăo, phải vẽ như lăo. Rồi trời hừng sáng, chúng tôi đi vô sa mạc, về hướng Grand Erg. ông già nói các đống sỏi phân ranh sở đất của lăo đă bị gió cuốn; ổng bảo tôi quan sát thật kỷ và nhặt các ḥn đá có vết tích loài ngao ṣ cổ bên ven đường. Tôi xua đàn thú của tôi đến những gềnh đá xám mút tận những nội cỏ ướt đẫm nước mưa, và tôi ở lại đó suốt cả ngày. Lúc về nhà, tôi mang bánh ḿ và bàn cờ, nước trà, vào tận giường hắn; và tôi nằm xích sát người hắn để sưởi ấm. Khi ngủ hắn cởi đồ ra, chỉ giữ lại chiếc quần lót có mùi chua chua, và ẩm mốc v́ khí trời lạnh. Khi tôi cục cựa đầu gối dưới các tấm chăn, bàn cờ lệch qua một bên và các con cờ trượt về phía tôi, mặt mày hắn buồn xo khi hắn nhận thấy sự gian lận đó. Chúng tôi dời các con cờ về lại chỗ cũ trên các ô vuông đen trắng; nhưng tôi không nhớ rơ ḿnh đă nghiêng bàn cờ đúng vào lúc nào, và, trong cái đêm đông này, chúng tôi lưỡng lự. Chúng tôi đồng ư tiếp tục lại ván cờ từ một khởi điểm chọn lựa đại. Rồi tôi học thuộc ḷng các bài vở, hắn đưa cho tôi một cuốn sách do hắn tự tay đóng lấy b́a vải, nghĩa là cái b́a coi khá vụng về: Thế giới trước khi con người được sáng tạo, của Camille Flammarion, giá 25 xu, in năm 1886, bản của Thư viện Quốc gia, nxb Debuisson & Công ty, 5, phố Coq Héron, và Lucien Marpion, 4 và 7, hẻm Odéon, Paris. Đối với hắn th́ đó chỉ là một cuốn sách giáo khoa mỏng về thiên văn học. Ngọn đèn dầu nham nhở phụp tắt. Tôi định ngồi dậy đốt đèn: "Cứ nằm im", hắn bảo tôi trong bóng tối căn buồng. Tôi nhắm mắt lại, trong lúc những hạt cát trên mái đầu tôi tuôn chảy xuống các khe trên giường, và hắn ṿng tay ôm lấy tôi, và các mái nhà thiếc của chúng tôi long lanh dưới ánh trăng đang tuôn tràn vào các góc sân vắng. Cơn buồn bă dày ṿ tôi. Tôi than thở với người đầu bếp, y có thể giúp đỡ nếu chúng tôi không đang sống trong sa mạc, bởi tôi đă cất dấu được nhiều thứ rồi ; tôi giữ ch́a khóa kho lương thực, cân chia gạo bột là công việc hàng ngày của tôi. Gió thổi mạnh đến đổi tôi chỉ ngồi trơ trên các đống rơm rạ ẩm và ấm, tít trong chỗ sâu của các tàu ngựa; rồi tôi bước trở vô nhà hắn mà chẳng buồn nói năng, như một kẻ xa la,ĩ và tới ngồi trước ngọn lửa. Hắn ngó tôi một chập, đứng dậy, đóng sập cánh cửa lại, rồi hắn đánh tôi. ƒn đ̣n no nê xong tôi thiếp ngủ trên chiếc đi-văng trong pḥng khách, như một con thú đầy ắp hận thù và dịu dàng đang ở ngay khoảng giữa của một ngày, liếm cánh tay gầy guộc dính đầy rơm rác và bùn đất. Khi tôi mở mắt ra, tên da đen đang lau chùi máu và những hạt châu của tôi; nó cầm một miếng giẻ lướt nhẹ trên khắp thân ḿnh tôi. Khi tôi đă khắm khá hơn, người ta đuổi thằng nấu ăn xuống nhà dưới và ông già tới nằm bên cạnh tôi. Bóng những vừng mây; ngọn lửa đă tắt khiến gió luồng vào ḷ sưởi thổi tung những tàn tro. Một bức mành vạn hoa dệt bằng những cuồng len của nước Pháp. ông già sục sạo trong tủ, vặn đinh ốc để mở nấp một cái hộp đă rỉ sét lấy ra những cuộn băng, những lọ dầu để xoa bóp hai ống chân tôi. Chúng tôi uống cà phê sữa, chúng tôi chơi tṛ ngáo ngỗng. Sự ham thích môn thiên văn học của tôi khiến ông già cảm thấy vui; một vinh hạnh lớn cho mày đấy nhé, ông già nói. Rồi ông ta vẽ h́nh trái đất thuở mới khai thiên lập địa. ông ta lấy bút ch́ màu vẽ những tảng băng sơn chói sáng, những đồng cỏ mướt xanh, những hang động và ao hồ. Với một mẩu phấn trắng ông ta "phủ tuyết" lên các đỉnh núi, trong lúc ngọn đèn và ngọn lửa lụn tàn. ông ta đặt một cái thau lớn trước ḷ sưởi, pha nước ấm cho tôi tắm rửa. ông ta lấy một miếng bọt biển lau chùi ḿnh mẩy tôi. Tôi mở cửa. Ngoài vườn, tôi lấy ống sáo ra thổi dưới bầu trời đầy những ngôi sao nhấp nhánh, ánh sáng của sao chiếu xuống in bóng những cành lau sậy trên cát. Những séghias rực sáng nơi phía những gềnh đá thật gần trong sự yên tĩnh của đêm khuya. Không một tiếng chim kêu, không một tiếng chó sủa. Trên ṿm trời không một gợn mây, lạnh lẽo, trong veo, vầng trăng xanh xao đang dong buồm vào cơi vô tận, bên trên những mái nhà quét nước vôi trắng của chúng tôi. "Lại đây, ông già nói." Thế nhưng tôi vồ lấy cây súng, những viên đạn; tôi đi ra ngoài ṿng rào của nông trại, một tấm mền phủ lên đôi vai trần. Tôi chạy về hướng có ngọn núi, trong cái sa mạc của Thượng đế. Tôi chỉ yêu thương một ḿnh Thượng đế thôi, chứ không phải người đàn ông đó; tôi thuộc về Thượng đế, về đấng Muôn thuở, ông Trời của tôi và Thượng đế của tôi, về đấng Cha muôn thuở, đấng Tạo hóa của tôi và Quan ṭa của tôi. Nỗi buồn đă chấp cánh cho đôi chân tôi đến ngàn năm. Tôi giẵm lên những hạt cát c̣n tinh khiết như vào thủa b́nh minh của quả đất. Cặp đùi thon và đen của tôi run rẩy trong không khí buốt giá. Băng đạn cuộn quanh ḿnh, những nếp gấp của tấm chăn, và họng súng ló trên vành tai, nhún nhảy theo nhịp bước chân ; luồng gió phát ra trong cơn trốn chạy nâng tôi lên; tôi lắng nghe tiếng sôi sục của máu nơi ngưỡng cửa của mười thế kỷ đấu tranh. ƒn mặc như vậy, vơ trang như vậy, tôi nh́n thấy ṿm trời xanh của đêm, những tảng đá trắng lớn có vân như cẩm thạch ở phía trên cánh đồng. Tôi nuốt những giọt lệ nóng, tôi tiến xa thêm về hướng những gềnh đá hồng, xin đất trời chứng giám cho tấm ḷng thành bất diệt của tôi, tôi tiến xa thêm cho tới khi gặp những thung lũng đá, như những miệng núi lửa trên mặt nguyệt. Khi tôi quay về nhà: "Đốt đèn lại đi, tao sẽ đưa bao diêm cho mầy." Ngọn bấc đă cháy lại vừa đủ sáng; ông già theo tôi vô nhà, mở cái nấp tủ của bàn viết, và, ngồi trước các ngăn kéo, dưới cái chụp đèn vải có đính những hạt chuỗi, ổng vẽ họa đồ nông trại; mỗi tháng ông già phải vẽ lại bức họa đồ v́ t́nh trạng cái đầm lầy cứ thay đổi theo dung lượng nước con suối mà chúng tôi nghe tiếng chảy róc rách. Trước khi tôi đến, một người lính Đức trẻ đă sống ở đây sau cuộc chiến bại của lữ đoàn Africa-Korps; hắn đă lấy những cuốn sổ nhỏ viết nhật kư trong sa mạc và cất dấu dưới những phiến đá. Với cái bút ch́ đỏ ông già kẻ những bờ băi trong lúc tôi thiếp ngủ trên chiếc đi-văng nơi pḥng khách, trong một đêm muộn phiền của đất nước An-giê-ri.ở FRANCOIS AUGIÉRAS
|
|
|