|
||
|
Nobel Văn chương là một trong 5 giải Alfred Nobel viết trong di chúc để trao tặng cho nhà văn thể hiện giá trị nhân bản và có những sáng tác xuất sắc theo chiều hướng lư tưởng. Giải thưởng được quyết định bởi Hàn Lâm Viện Thụy Điển. Hàn Lâm Viện quyết định dựa trên các tác phẩm trong năm, nhưng những tác phẩm viết trước đó có thể có giá trị quyết định nếu trở nên có ư nghĩa trong thời điểm hiện tại. Các ứng viên được đề cử bởi thành viên Hàn Lâm Viện Thụy Điển và các Hàn Lâm Viện khác cũng như những học viện, tổ chức có tầm cỡ và tôn chỉ tương đương, các giáo sư đại học trong lĩnh vực văn hóa, lịch sử, đặc biệt là các vị đă được trao giải Nobel trước ngày 1 tháng Hai hàng năm. 100 năm văn chương của giải Nobel Giai đoạn đầu, từ 1901 đến 1912, chịu ảnh hưởng của Bí thư Hội Đồng Carl David af Wirsén, người được mệnh danh "Don Quixote của chủ nghĩa lư tưởng lăng mạn Thụy Điển", theo lư tưởng chủ nghĩa, đề cao giá trị tôn giáo, quốc gia, và gia đ́nh. Theo tiêu chuẩn này, họ trao giải cho Bjornstierne Bjornson, Rudyard Kipling và Paul Heyse, nhưng bác bỏ Leo Tolstoy, Henrik Ibsen, Emile Zola. Giai đoạn Thế chiến 1 được gọi là "Chủ trương văn học trung lập", đứng ngoài những tranh chấp quyền lực, do đó thiên về các nước nhỏ. Giải thưởng chủ yếu trao tặng cho các nhà văn Bắc Ấu - nhà văn Thụy Điển Verner von Heidenstam, nhà văn Đan Mạch Karl Gjellerup và Henrik Pontoppidan, nhà văn Na Uy Knut Hamsun. Thập niên 20 bắt đầu rời bỏ lư tưởng chủ nghĩa, chú trọng đến giá trị nhân bản, mở đường cho Anatole France và George Bernard Shaw, vốn đă bị gạt ra những năm trước. Thập niên 30 thể hiện quan tâm toàn cầu, tặng giải cho các nhà văn đại chúng như Sinclair Lewis và Pearl Buck. Từ thập niên 40, giải thưởng thể hiện nhiều khuynh hướng. Sau Thế chiến 2, Bí thư Hội đồng Anders Osterling chú trọng đến giá trị của những nhà văn tiên phong, mở ra những chiều hướng phát triển mới mẻ, trao giải cho Hermann Hesse - vốn bị từ chối trong thập niên 30, Samuel Beckett, André Gide, T.S. Eliot, William Faulkner, Saint-John Perse, Naguib Mahfouz, Camilo José Cela. Một khuynh hướng khác, khởi phát từ 1978 do Bí thư Lars Gyllensten, chú trọng đến những tác giả của các ḍng văn học ít được chú ư, trao giải cho Isaac Bashevis Singer, Odysseus Elytis, Elias Canetti, Jaroslav Seifert, và đặc biệt nhờ khuynh hướng lựa chọn này mà các nhà thơ được chiếu cố, nhất là những năm 90 với 4 giải cho Octavio Paz, Derek Walcott, Seamus Heaney, Wislawa Szymborska. Một khuynh hướng nữa, bắt đầu từ 1986, gọi là "văn học toàn thế giới", mở rộng hơn nữa tầm chú ư đến các nhà văn không hoạt động trên lục địa Ấu Châu. Tôn chỉ của giải Nobel là đứng ngoài các chủ nghĩa chính trị. Dù sao, cũng như các giải thưởng văn học khác, giải Nobel không tránh khỏi liên quan đến các vấn đề chính trị như những rắc rối khi trao giải cho hai nhà văn Nga Boris Pasternak và Alexander Solzhenitsyn trong giai đoạn chiến tranh lạnh. Một ví dụ khác là Nobel Văn chương 1953 cho Winston Churchill gây tranh căi v́ lư do ông là chính trị gia chủ chốt trong thế chiến. Nhà văn Ba Lan Czeslaw Milosz được trao giải năm 1980, phần nhiều do các biến cố chính trị ở Ba Lan. Số ứng viên hàng năm hiện nay khoảng 200. Giải thưởng hiện nay trị giá khoảng 1 triệu Mỹ kim, đôi khi chia cho 2 nhà văn đồng nhận giải như Frédéric Mistral và José Echegaray năm 1904, Karl Gjellerup và Henrik Pontoppidan năm 1916, Shmuel Yosef Agnon và Nelly Sachs năm 1966, Eyvind Johnson và Henry Martinson năm 1974. Thông thường Hàn Lâm Viện hạn chế những quyết định chia giải thưởng như trên. Tân Nobel 2001 V.S. Naipaul Vidiadhar Surajprasad Naipaul sinh ngày 17 tháng Tám năm 1932 tại Chaguanas, Trinidad. Cha mẹ ông là di dân đến từ miền Bắc Ần Độ. Ông nội của Naipaul là công nhân đồn điền mía, cha ông là nhà báo và nhà văn. Ông nhận học bổng của chính phủ Trinidad để theo học tại Oxford University khoa văn chương năm 1950 và sống ở Anh từ đó. Sau khi tốt nghiệp năm 1953, ông làm việc cho đài BBC, phụ trách chương tŕnh "Tiếng nói Caribbean", và tạp chí văn học The New Statesman. Ông lấy vợ người Anh - bà Patricia Ann Hale - từ 1955 đến khi bà qua đời năm 1996, sau đó ông tục huyền với một phụ nữ Pakistan tên Nadira. Ông được phong tước năm 1990 bởi Hoàng gia Anh. Tuy được mệnh danh là một nhà văn Anh, ông có thể được coi như là nhà văn gốc Ần Độ thứ hai được giải Nobel, sau Rabindranath Tagore (1861 - 1941) năm 1913. Các tác phẩm của ông thiên về Thế giới thứ ba, từ nơi ông sinh ra - Trinidad, đến cội rễ Ần Độ, và đặc biệt có nhiều tác phẩm về Hồi giáo. Ngoài giải Booker Prize năm 1971 và T.S. Eliot năm 1986, ông đă từng được trao các giải thưởng văn chương khác, như John Llewelyn Rhys, Somerset Maugham, Hawthornden, W.H. Smith. Sau đây là một số tác phẩm của V.S. Naipaul với tựa đề giữ nguyên Anh ngữ để độc giả tiện tra cứu: The Mystic Masseur - 1957
NGỌC
|
|
|