|
||
|
Nobel Văn Chương 2005 công bố ngày 13 tháng Mười, trao cho kịch tác gia Anh Harold Pinter chỉ ba ngày sau khi giới văn học nghệ thuật Anh tưng bừng kỷ niệm sinh nhật thứ 75 của ông. Sinh ngày 10 tháng Mười năm 1930 trong một gia đ́nh thợ mayDo Thái khu East End Luân Đôn, ông lớn lên giữa trào lưu bài Do Tháiở Âu châu bấy giờ và những trận mưa bom Đức trút xuống Luân Đôn trong đệ nhị thế chiến. Ông là cây đại thụ trong kịch nghệ Anh quốc với hơn ba mươi vở kịch được ấn hành bằng nhiều thứ tiếng và dàn dựng trên sân khấu khắp nơi trên thế giới, nhưng ông c̣n chứng tỏ tài năng đa dạng trong nhiều lănh vực khác – ông viết tiểu thuyết, làm thơ, viết kịch bản phim, đạo diễn, sản xuất phim và cả đóng phim, đóng kịch nữa. Khởi đầu sự nghiệp ông sáng tác thơ, viết tiểu thuyết rồi đóng kịch Shakespeare dưới kịch danh David Baron. Có lẽ sinh hoạt kịch trường đă gây cảm hứng cho ông viết kịch. Ông theo học Kịch viện Hoàng gia nhưng bỏ ngang chỉ sau hai học kỳ. Ông ngưỡng mộ Samuel Beckett, nhưng khác với Beckett, kịch của ông đặc chất Anh với bối cảnh và ngôn ngữ thuần túy Anh quốc. Thập niên sáu mươi, một tính từ mới ra đời trong Anh ngữ “pinteresque” từ tên Pinter. Vở kịch đầu tay “The Room” diễn ở Bristol năm 1957. Ông nhận nhiều giải thưởng về kịch như giải Shakespeare, giảiVăn chương Âu châu, giải Pirandello, giải Laurence Olivier, giải David Cohen, giải Molière. Ông được đề cử Oscar về kịch bản hai lần cho “The French Lieutenant’s Woman” năm 1981 và “Betrayal” năm 1983. Người ta cho rằng năm nay giải Nobel lại một lần nữa không tránh khỏi ảnh hưởng chính trị. Cũng như nữ sĩ Aùo Elfriede – Nobel Văn Chương năm ngoái, Pinter công khai chống đối chiến tranh Iraq. Năm 2003 ông xuất bản tập thơ phản chiến “War”, được giải thơ Wilfred Owen. Năm ngoái ông cùng một số văn nghệ sĩ đứng ra kêu gọi truất phế Thủ tướng Tony Blair. Ông đi diễn thuyết chính trị nhiều nơi trong nước Anh. Các sáng tác của ông đậm màu sắc chính trị và bản thân ông hoạt động tích cực hết chống Thatcher, ủng hộ Salman Rushdie, đến vận động phóng thích tù nhân lương tâm … kể từ thập niên tám mươi, sau khi thành hôn với nữ sĩ Antonia Fraser. Người vợ đầu tiên của ông là diễn viên Vivien Merchant, thành hôn năm 1956, ly dị năm 1980. Năm 2002 ông bị ung thư suưt chết. Ông nói giờ đây ông chỉ bận tâm đến việc ở lại cơi trần được ngày nào hay ngày ấy.Ông cho biết hiện tại ông tạm nghỉ viết kịch và thiên về sáng tác thơ nhiều hơn. Khác với lần trước năm 2001 khi nhà văn gốc Ấn V.S. Naipaul đem Nobel về cho nước Anh lặng lẽ trong sự đón nhận hờ hững, lần này giới văn học nghệ thuật và truyền thông Anh hồ hởi tôn vinh Harold Pinter. Tác phẩm của Harold Pinter: Kịch: The Room (1957); The Birthday Party (1957); The Dumb Waiter (1957); A Slight Ache (1958); The Hothouse (1958); The Caretaker (1959); A Night Out (1959); Night School (1960); The Dwarfs (1960); The Collection (1961); The Lover (1962); Tea Party (1964); The Homecoming (1964); The Basement (1966); Landscape (1967); Silence (1968); Old Times (1970); Monologue (1972); No Man’s Land (1974); Betrayal (1978); Family Voices (1980); Other Places (1982); A Kind of Alaska (1982); Victoria Station (1982); One for the Road (1984); Mountain Language (1988); The New World Order (1991); Party Time (1991); Moonlight (1993); Celebration (1999); Remembrance of Things Past (2000). Các sáng tác khác: The Proust Screenplay (1977); Poems and Prose 1949-1977 (1978); The Dwarfs: A Novel (1990); Various Voices: Poetry, Prose, Politics, 1948-1998 (1998); Collected Screenplays, Vols. 1-3 (1998); The Disappeared and Other Poems (2002); War: Eight Poems and One Speech (2003). Booker Ngày 11 tháng Mười, giải văn chương Anh Booker trao cho nhàvăn Ái Nhĩ Lan 59 tuổi John Banville với tác phẩm “The Sea”, vượt trên danh sách gồm những tác giả gạo cội như Julian Barnes, Kazuo Ishiguro, Zadie Smith, Sebastian Barry, Ali Smith. Ban giám khảo chia đôi số phiếu cho Banville và Ishiguro với tác phẩm “Never Let Me Go”, chánh chủ khảo John Sutherland bỏ lá phiếu quyết định cho Banville. Banville được đề cử một lần vào năm 1989 với cuốn “The Book of Evidence”. Năm đó chính Ishiguro là người nhận giải với cuốn “The Remains of the Day”. John Banville khởi đầu sự nghiệp sáng tác từ 1970, cũng là đệ tử của Samuel Beckett như Pinter. Lần trước một tác giả Ái Nhĩ Lan được trao Booker là năm 1993 – Roddy Doyle. Goncourt Giải Goncourt công bố ngày 3 tháng Mười Một tại nhà hàng Drouant (Paris) theo thông lệ, cho nhà văn François Weyergans với tác phẩm “Trois jours chez ma mère” (nhà xuất bản Grasset) với 6 phiếu, thắng Michel Houellebecq (4 phiếu). Ban giám khảo Goncourt muốn chứng tỏ tinh thần độc lập, đi ngược lại dự đoán của giới truyền thông vốn ủng hộ Houellebecq hết ḿnh cho giải năm nay. Weyergans sinh năm 1941 tại Bỉ, cha Bỉ mẹ Pháp, lớn lên tại Paris. Điều thú vị là bà mẹ cũng là nhân vật chính trong tác phẩm của người cha – Franz Weyergans trong thập niên năm mươi. Trước vinh dự của con trai, bà rất hănh diện là nguồn cảm hứng cho hai người đàn ông thân yêu nhất trong đời ḿnh. Renaudot Nữ sĩ Nina Bouraoui nhận giải Renaudot ngày 3 tháng Mười Một cho cuốn “Mes Mauvaises Pensées” (nhà xuất bản Stock) với 6 phiếu, thắng khít khao Alain Mabanckou (5 phiếu). Nhà báo Gilles Martin-Chauffier nhận giải tùy bút cho “Le Roman de Constantinople” (Le Rocher). Giải học sinh trao cho Pierre Jourde với cuốn «Festins Secrets». Femina Giải Femina công bố ngày 7 tháng Mười Một cho Régis Jauffret với cuốn «Asiles de Fous» (Gallimard), 7 phiếu vượt trên Christophe Donner (5 phiếu). Giải cho tác giả ngoại quốc trao cho nữ sĩ Mỹ Joyce Carol Oates với cuốn «The Falls». Giải tùy bút trao cho Thérèse Delpech với cuốn «L’ensauvagement» (Grasset). Interallié Cuối cùng Michel Houellebecq với cuốn «La possibilité d’une ưle» (Beech) cũng nhận được một giải thưởng văn chương năm nay sau khi bị nhóm Goncourt bỏ rơi v́ quá nổi tiếng (?). Nhà văn vốn gây nhiễu loạn dư luận tỉnh bơ tuyên bố về giải Interallié rằng ông được giải là chuyện b́nh thường, không được giải nào mới đáng ngạc nhiên. Hàn Lâm Viện Pháp Ngày 27 tháng Mười, Hàn Lâm Viện Pháp trao Grand Prix cho nữ sĩ Henriette Jelinek, 82 tuổi, với cuốn «Le Destin de Iouri Voronine» (Fallois) với 11 phiếu, thắng khít khao Valentine Gobyet (10 phiếu). Médicis Giải Médicis công bố ngày 7 tháng Mười Một cho Jean-Philippe Toussaint với cuốn «Fuir» (Minuit). Toussaint toàn thắng ngay ṿng đầu với 7 phiếu, hai ứng cử viên Olivier Adam và Hédi Kaddour mỗi người chỉ được 1 phiếu. Giải cho tác giả ngoại quốc về tay nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk với cuốn «Neige» (Gallimard). Giải tùy bút trao cho hai nữ sĩ Lydie Violet và Marie Desplechin với cuốn «La Vie Sauve» (Le Seuil). NGỌC Nguồn CNN, BBC, The Guardian, Le Monde. |
|
|