VIÊN LINH
TRÊN NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG THƠ
Huỳnh Hữu Ủy



Mỗi người sống ở đời dường như chỉ là để bước đi và hoàn tất định mệnh của ḿnh. Để đáp lại tiếng gọi của một v́ sao giữa cơi không cùng mù mịt, tiếng gọi xa xăm ấy đôi lúc đă thấp thoáng hiện ra trên một đường chỉ tay, giữa những đường bản mệnh chằng chịt của đời người. Người thi sĩ ấy, tôi thấy rất rơ, là anh luôn tin ở sức mạnh kỳ bí ở cơi không cùng chi phối và dẫn anh về với cái đẹp. Bị cuốn hút vào giữa vực thẳm phiêu lăng, anh đă vận hành đời ḿnh qua những đổi dời, mất mát, qua những dấu mốc của lịnh sử, của đất nước, có lúc hào sảng, nồng nàn, lúc th́ đượm màu tan nát, bi thương, nhưng lúc nào cũng như lúc nào, sau cùng cũng là chỉ để sống cái kỳ diệu ẩn mật của một nhà thơ. Nhiều khi anh cũng vướng víu lắm chuyện rộn ràng, cười cợt cay đắng, buông thả với đám giang hồ, cứng rắn trong chuyện đời, ương ngạnh với xă hội chung quanh. Nhưng rồi đâu lại vào đó mà thôi, bởi v́ anh chỉ là một thi sĩ, sứ mệnh của anh là sống đời một nhà thơ, để cưu mang sức nặng của một cuộc đời cô độc, để sống với niềm hoang vu thơ mộng đến không cùng, để làm con chim ưng nằm trên ngọn núi cao, bên bờ vực sâu, cắn nỗi sầu vào ḷng, và luôn đối đầu với bóng đen và cơi hư vô bất tận.

Này biết v́ sao cứ cạnh núi cao th́ có vực sâu
V́ trên đó có con chim ưng nằm sầu mắt đỏ
. . . . . . .
Ngó hoài cuộc đời đen tối
Những điểm sáng th́nh ĺnh là những cơi hư vô
(Dạ Điểu, Hóa Thân, trang 87) (1)

Cũng như những bạn văn cùng thời, anh có những ngày tuổi trẻ thật sôi nổi. Nói đến những ngày ấy, chẳng thể nào không nhớ lại bóng dáng của những Nietzsche, Dostoievski, Malraux, Camus, Sartre, và nhiều khuôn mặt khác như Holderlin, Rilke, Heidegger, Éluard, Aragon đang trùm những cái bóng lớn xuống nền văn nghệ bấy giờ (2). Th́ thời nào cũng vậy mà thôi; thời thượng, thời trang tạo thành cái đẹp sôi nổi của thời đại.

Giữa bầu khí ấy, anh đă chọn cho ḿnh một h́nh ảnh riêng, một con người chính trực, là Camus, để theo đuổi và đồng hành. Sự chọn lựa lắm khi thực mơ hồ nhưng chọn lựa đă dựng nên hành tŕnh, và mọi chuyện đă chuyển động theo hướng được chọn. Nhớ lại những ngày ấy, anh cũng phải nhận như mọi người chung quanh đă nh́n thấy, “Đó là những năm cuối thập niên năm mươi, những năm của hiện sinh, của bản ngă, của đời sống thanh niên thành phố vừa vào tuổi hai mươi, của “những đêm khuya ngă tư đèn vàng,” những đầu tháng tạp chí văn chương. Của...” (3).

Đó là thời của những tiếng thơ kỳ lạ, đột khởi sừng sững giữa trời thơ những Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Đức Sơn... hay một khuôn mặt đă xuất hiện trước đó nhiều năm, từ thời tiền chiến, từ trước thời đất nước chia cắt, vẫn c̣n trụ vững một dáng đứng đồ sộ và vô cùng độc đáo: Đinh Hùng. Nhưng không phải chỉ là như vậy, giữa cái chung của thời đại, anh lại dựng cho riêng ḿnh một cái cơi kỳ lạ thăm thẳm của siêu h́nh, của tối tăm lung linh, và đôi lúc lay động sáng lên qua một bức màn chắt lọc của trí tuệ, vậy nên đă có người, dường như là Phạm Duy th́ phải, gọi thơ anh thời bấy giờ là một thứ Poésie cérébrale.

Chẳng biết có đúng không, nhưng tôi, bấy giờ ở tuổi vừa mới lớn, đọc thơ anh, tập Hóa Thân, tôi liên tưởng đến chàng trai trẻ Rimbaud đang để cho những lời lẽ huyền ảo cuốn đi, nồng nàn giữa những ḥa hợp của âm thanh và hương sắc pha trộn, cuốn hút. Ở tuổi mười bảy, Arthur Rimbaud đă hát lên với rung cảm đầy tràn nhựa sống, rờn rợn cảm xúc.

Đêm tháng sáu! Mười bảy tuổi! Ta để mặc cho ḷng say sưa
Với máu huyết bồng bột, nguồn thơ dồi dào như hơi men tràn ngập
đầu óc.
Ta nói bâng-quơ, trên môi ta thoáng cảm thấy một cái hôn
Rờn rợn như một con vật nào đê-mê ở đó.

(Nuit de Juin! Dix-sept ans! On se laisse griser.
La sève est du champagne et vous monte à la tête.
On divague, on se sent aux lèvres un baiser
Qui palpite, là, comme une petite bête.) (4)

Cũng ở khoảng tuổi ấy, đúng hơn là đă già dặn hơn một chút, lớn hơn một chút, với độ tuổi 20, anh cũng thấy rờn rợn và rạo rực cái cảm giác khó tả, nhưng không phải chỉ ngưng lại ở đấy, anh nh́n xa hơn, bắt đầu khám phá chính ḿnh, để t́m bản ngă và đă t́m thấy định mệnh của đời ḿnh, tiệm tiến trong một quá tŕnh phát triển và tàn lụi, có cái ǵ kỳ dị, tang thương, và hơi quái đản. Có lẽ đó là một chân dung được nh́n qua tấm kiếng soi siêu thực, được ṃ mẫm với những khám phá của tâm lư chiều sâu.

Tôi có mười ngón tay
Để nâng niu hạnh phúc
Từ khi ra chào đời
Móng một ngày một sắc.
Mười chi chia làm đôi
Hai chục năm góp lực
Nằm nghe rụng tương lai
Một ngày một sợi tóc.
Nằm nghe ngóng tương lai
Môi liếm dần nước mắt.
(Khai Sinh, Hóa Thân, trang 10)

Đó là những ngày khởi đầu của cơi thơ Viên Linh, nhưng may thay, anh là một người phương Đông, từ trong máu huyết đă nặng nợ với một nền văn hóa trầm mặc và quân b́nh, tổng hợp chất Hoa-Ấn cổ đại, Lạc Việt, và Đại Việt, nên hành tŕnh của anh không phải chỉ là để đi t́m những cái diễm lệ của một mùa địa phủ. Anh trở lại, rồi tiếp tục rảo bước trên những chặng đường trầm thống của riêng ḿnh, ḥa nhập vào chiều sâu trầm thống của đất nước.

Ở khoảng tuổi ngoài 30, nh́n lại những ngày đă qua, anh có những ḍng tự sự đẹp, tỉnh táo, và trầm lắng. Ở đây, anh đă buộc chặt đời ḿnh vào một gút thắt định mệnh, gút thắt đó cũng chính là chọn lựa của anh: Năm anh chào đời cũng chính là năm Camus vừa hoàn tất vở kịch Le malentendu. Ngộ nhận làm thành bi kịch. Và rồi bi kịch sẽ tiếp theo bi kịch. Khởi điểm từ đó, anh đă bước đi trên những nẻo đường riêng của đời ḿnh.

Y sinh ra đời vào năm
Một ông nhà văn Pháp
Viết xong một tác phẩm dài
Có nhan đề Ngộ Nhận

Y chăn trâu đến năm mười lăm tuổi
Thả diều trên cánh đồng làng
. . . .
. . . .
Em ơi y làm thơ viết truyện
Lại c̣n làm báo văn chương
. . . .
Y nổi hứng chiều nay
Khi uống vài ly rượu đế
Ngồi lâm râm đoán chỉ bàn tay
Chằng chịt những đường bản mệnh.

Thây kệ là bên kia trái đất
Có người tri kỷ đợi dài
Thây kệ xuân hồng cỏ biếc
Bao lần trái địa cầu quay.
. . .
. . .
Y sinh ra đời vào năm
Một kẻ hoài nghi nhân loại
Lọt ḷng
Lớn lên làm tên vô chính phủ
Một đời không phụng thờ ai (5)
. . . .
. . . .

Y bắt đầu yêu Lăo Tử
Bắt đầu mê mệt Trang Sinh
Nghe gió nổi trên những tầng mây thẳm
H́nh dung một cánh đại bàng
Giữa cuộc đời ngựa xe bụi bậm.
Mơ đập tan
H́nh hài bé mọn
Làm sương mai gió bấc làm thủy thạch hải tần
Mênh mông chan ḥa
Viễn viễn
. . .

(Lời Nôm gửi em Hoa, Chợ Lớn, 1974) (6)

Cái ám ảnh của một người phiêu lăng trong văn chương, hợp với những vấn đề thời thượng bấy giờ đă thúc đẩy anh cấu kết nên một không gian thơ khắc khoải, sâu hun hút. Anh mê thơ nên bỏ nhà đi lang bạt kỳ hồ rất sớm, ở tuổi 17 đă sống lặng lẽ nơi một căn gác nhỏ ngoài đời sống gia đ́nh, rồi từ đó, anh sẽ đi qua nhiều gác trọ khác nữa, thực phong sương, tẩm nhiều bụi bậm cuộc đời (7). Đi lang bạt, anh nói là để kiếm sống, nhưng thực ra là để t́m thơ. Phải nói là để sống đời một thi sĩ, sống định mệnh của anh. Không những chỉ với thời thanh xuân ấy, mà cả suốt đời anh, cho măi đến những ngày trước mắt hôm nay cũng vậy. Hiện anh đang lưu trú giữa một căn pḥng đầy sách vở, hàng ngàn quyển sách chất dọc theo bờ tường, từ nền nhà đến mái nhà, và bao nhiêu là rượu, những chai rượu ngả nghiêng hay đứng sắp hàng nghênh ngang, bên những quyển sách đông tây kim cổ nghiêm chỉnh trên giá sách; căn pḥng ấy đối với nhiều người là nơi làm việc của một chủ báo, một nhà nghiên cứu, một người viết lách nghiêm trang, nhưng tôi vẫn nh́n thấy thực chất của nó, vẫn là gác sách, mái nhà trọ, căn pḥng xép của người khách giang hồ. Trong một tản văn rời viết thời trước, từ năm 1969, anh từng đă có dịp thổ lộ:

“Tôi nhớ lắm những năm luẩn quẩn suốt từ miệt ngoại ô này đến một miệt ngoại ô khác. Văn Nghệ ta không xuống từ một cửa trường; văn nghệ ta xuống từ những căn gác xép, những con hẻm tối.

Anh hỏi tôi về Thơ.

Chẳng có ǵ, Làm Thơ không phải rảnh mới làm, hứng mới làm.

Làm thơ là không làm ǵ khác. Lúc nào cũng phải nghĩ đến nó. Lúc nào cũng kiếm t́m. Ở đỉnh cây bên đường. Ở đáy ngơ cuối phố. Ở trên ngọn tóc trên đỉnh ngực dưới bụng nàng. Ở trong đầu giữa tim giữa trán chàng. Ở cát bụi ở sương gió. Ở một ngh́n cửa sổ. Ở một dung nhan. Ở cái bàn cái ghế cái giường cái chiếu. Ở xe chạy thuyền trôi ở sức nóng ở nước lạnh. Ở trái bóng đỏ ở sợi tóc bạc ở ly rượu cay ở ngụm thuốc đắng. Ở đá bia mộ người ngoại tộc. Ở môi hồng trẻ nhỏ con thơ. Ở bạn ta hào sảng vợ người nghiêm trang. Ở con đường xe lửa bỏ hoang. Ở miền viễn xứ ở vùng cận em.

“Làm thơ lúc này lại càng khó. Chữ nghĩa nhịp điệu sinh khí của Thơ Tự Do đang biến đổi. Trầm xuống lặn vào. Và người bạn trung niên thi sĩ, anh vừa mở một cánh cửa mới cho Thi Ca, nh́n vào một ngôi nhà trống trải, ngó xuống một cánh rừng mênh mông. Muông thú và tu sĩ. Tiếng kêu và kinh tự.” (8)

Mấy điều bày tỏ đó không chỉ là tâm t́nh, mà là cách sống, và cũng là quan niệm về văn chương, nghệ thuật, đặc biệt là về thơ. Cái nh́n của anh về chữ nghĩa, và con đường của thơ coi vậy mà rất cập nhật và rạch ṛi, anh đă thấy đâu là thời thượng, là bế tắc, và đâu là lối mở ra cho một chân trời mênh mông thực sự của thơ. Nhưng thôi, hăy khoan nói đến những trang thơ mới về sau, với âm điệu, kỹ pháp, thi pháp, hồn thơ chất ngất, cùng với sự cộng thông, chia sẻ, sống cùng, sống thực với nỗi đau của đất nước, của nhân dân, và đồng bào, chúng ta hăy đọc lại đôi ḍng thơ của anh thời Hóa Thân, thời của những khắc khoải nhuốm đầy màu sắc siêu h́nh.

Trong khảo sát dưới đây, chúng ta sẽ đi qua những dấu mốc của đời thơ Viên Linh, khám phá lại một vũ trụ ẩn mật được phơi mở kỳ diệu qua ngôn ngữ, chữ nghĩa.

HÓA THÂN: CƠI MÙ MỊT
CỦA MỘT TÂM THỨC LẠ THƯỜNG

Trần Tuấn Kiệt viết về Viên Linh trong sách THI CA VIỆT NAM HIỆN ĐẠI (Khai Trí xb, Sàig̣n, 1967) đă nhận xét khá xác đáng về thơ Viên Linh thời Hoá Thân. Tôi lọc lại được mấy chữ từ ghi nhận của Trần Tuấn Kiệt: “Cơi mù mịt của một tâm thức lạ thường.”(9) Ghi nhận ấy là ánh lửa mà chúng ta có thể sử dụng để soi rọi khi đi t́m và khám phá lại những đáy sâu và vực thẳm lạ thường của thế giới Hoá Thân.

Dưới ánh lửa ấy, chúng ta hăy thử tiến sâu vào cơi thơ Viên Linh thời kỳ này. Ví dụ là cảnh tượng Viên Linh vẽ lại, từ một cơi “hỗn mang” nào đó, của chiều sâu vô thức vừa được vực dậy.

Chiều trên núi c̣n trông theo biển rỗi
Lúc này bầu trời âm u
Tôi vuốt ve bờ đá hốc thủng ṃn
Thân thể quên là một giấc mơ.

V́ sao khuất rồi cùng niềm im lặng
Bầu trời mang lên giấu trên cao
Trong cuộc sống tuổi thơ già như sậy
Mọc chen chân ngoài cơi đớn đau.

Tôi lạnh lẽo đêm nằm dáng sâu
Rụng lốt chân chui cùng cỏ rối
Hạnh phúc mọc hoang khắp cánh đồng lầy
Trừ những lối đi những con đường kia.

Ôi, bước chân kẻ nào lao chạy
Đêm tàn đêm lưỡi hái treo lên.

Hoàng hôn chết rồi c̣n một cánh tay
Một sợi dây đen móc vào bóng tối
Tôi rơi bổng trong ṿng va chạm hăi hùng.

Một ḿnh xoay suốt cuộc tang thương.
(Hỗn Mang, trích toàn bài, Hóa Thân, trang 13-14)

Một cảnh tượng kỳ dị từ đáy thẳm tiềm thức, bay lượn giữa những giấc mơ hoang dại, phi lư, chẳng thể nào hiểu nổi. Bầu trời âm u, hốc đá thủng ṃn, những bước chân lao chạy t́m kiếm hạnh phúc trên cánh đồng lầy hoang vắng bởi v́ hạnh phúc chẳng hiện hữu trên những con đường thẳng tắp. Chỉ c̣n một nơi để bấu víu là sợi dây đen nối liền từ hoàng hôn đă chết và bóng tối sâu thẳm.

Trần Tuấn Kiệt cho là Viên Linh đă dựng nên cơi trú ngụ thâm u đó cho linh hồn ḿnh,(10) nhưng ta cũng có thể nói, cái thẳm cùng ấy đă chọn tâm hồn nhà thơ để làm nơi ẩn náu. Ngôn ngữ không c̣n là phương tiện của nhà thơ, mà nhà thơ chính là phương tiện của ngôn ngữ, phương tiện để thơ sinh tồn và biểu lộ. Đă có một sự tương hợp giữa thi sĩ và thế giới thơ, và dù thế nào, th́ cũng có một điều rất dễ nhận ra là thế giới đó của Viên Linh lúc nào cũng tỏa ra một sức hấp dẫn của bóng tối thâm u, mù mịt, sâu thẳm.

Sống lại một cảnh thực của thời thơ ấu, với nhà ga xe lửa, nơi anh chào đời mấy mươi năm trước, con đường sắt, và những đoàn tàu rầm rập chạy qua, th́ cái quá khứ ảo mộng ấy cũng lại trở thành một cái ǵ đang làm tàn ră mọi sự, làm tàn ră xương thịt và cuộc đời.

Đêm đêm theo giấc mơ đời trở về cùng
giấc ngủ
Giấc mơ trở về cùng giờ xe lửa qua

Con tàu đi rầm rầm dưới núi đá sâu
Tôi dơ hai cánh tay gầy níu
Bóng đèn lu cuối toa dài nỗi thở than
Quá khứ than ôi mang cánh trở về
Rỉa thân tôi ră dần thịt xương.
(Trở Về Mái Nhà Xưa, Hóa Thân, trang 93)

Và như vậy, hạnh phúc thực, t́nh yêu thực chỉ là một cái ǵ đầy hốt hoảng, khắc khoải, cằn cỗi, tối tăm, cô đơn, là một cuộc lưu đày khổ sai.

Nhận tôi với khuôn mặt này hốt hoảng
Con tin của niềm đau đớn em

Nhận tôi với thân thể này cằn cỗi
Con tin của cuộc đời em

Thần trí bay trong ngôi nhà dục vọng
Cánh hoang mang đáp xuống mối t́nh cờ
Nhận tôi xuống hôm nay như măi măi
Chúng ta đều cô đơn giữa những ṿng ôm

T́nh yêu có nghĩa như nhà tù
Ta nhận khổ sai t́m hạnh phúc
(Tin cho X, Hóa Thân, trang 105-106)

Ngay khi Viên Linh gợi nhớ về một kỷ niệm cũ, căn nhà anh lưu trú ngày nào ở một thị trấn miền Tây, trong bài thơ ngắn mang tên gọi Ngôi nhà tôi đă ở, th́ tất cả đều hiện ra trong một h́nh thái âm u, khắc khoải, man dại, chúng ta hăy thử đọc lại:

Hồi đó tôi ở Miền Tây
Có cây sên cao âm thầm âm thầm
Lá xơ xác
Ở trên trời kêu và kêu
Một con tắc kè cụt mất cái đuôi
Như người đàn ông ba mươi tuổi nọ
Ngậm mảnh chai trong mồm hết sức
kêu than
Ngôi nhà ấy
Cư ngụ người vắng mặt
(Ngôi Nhà Tôi đă ở, Hóa Thân, trang 111)

Để vận dụng cách phân tích tiết điệu thi ảnh (chữ dùng của nhà nghiên cứu và phê b́nh văn học Bùi Xuân Bào để dịch thuật ngữ Rythmanalyse của Gaston Bachelard), chúng ta có thể nói rằng những h́nh ảnh thực ấy, rất thực, nhưng hơi có phần xù x́, kỳ cục v́ đă được tuyển lọc một cách đặc biệt giữa nhiều h́nh ảnh thực khác, qua đôi mắt nh́n nửa siêu thực nửa tượng trưng. Như cây sên cao với lá xơ xác, cao lặng lẽ âm thầm vượt lên giữa bầu trời và con tắc kè cụt đuôi kêu và kêu măi hoài, rồi h́nh ảnh người đàn ông ngậm mảnh chai trong mồm, kêu than thảm thiết. Người đàn ông ấy, có thể là thực, nhưng đă được đẩy đến tận cùng để trở thành tượng trưng hay là một ẩn dụ. Những thi ảnh ấy, đă hợp lại để cùng dựng nên nhịp điệu của một bầu khí xộc xệch, kỳ quái, từ chiều sâu cùng thẳm của một tâm hồn lăng tử hoang dại, hay nói ngược lại, tâm hồn hoang dại của nhà thơ đă kêu đ̣i những thi ảnh ấy phải hiện ra trong vũ trụ thơ của ḿnh.

Ch́a khóa mở cửa vào cơi mộng mị kỳ dị của vũ trụ thơ ấy vẫn c̣n là một bí mật. Tuy nhiên, ở chỗ này chỗ khác, chúng ta cũng có thể quan sát, sống với, và hơn nữa c̣n lư giải được phần nào. Như giấc mộng kỳ quái có lần đă hiện ra:

Tay bỗng rụng xương mọc dài nhánh nhọn
Mười ngón thù hâm cấu xước anh em
Tôi khiếp đảm thấy thân ḿnh lả tả
(Ngẫu Tượng, Hóa Thân, trang 25)

Sự biến dạng, hóa thân của h́nh hài, chính là phản ứng của con người trước xă hội công nghiệp, như ngụ ngôn về một người đàn ông buổi sáng thức dậy thấy ḿnh hóa thành con sâu khổng lồ. Con người cô độc giữa đám đông ấy đă nhập vào với những t́m kiếm và phản ứng của thời đại mà Kafka là điển h́nh. Ví dụ, trong cái thế giới ấy, có lần chúng ta đă nh́n thấy:

Những đêm lạ mọc chân tay dài ngoẵng
Lặng lủi về khua cơi tối êm
Ra sức d́m tôi lút đầu mộng mị
(Hồi Tưởng, Hóa Thân, trang 39)

Ở một nơi khác, sau cơn chấn động hung hiểm, cả một rừng chim muông vỗ cánh vây phủ lấy nhà thơ. Những cánh chim hoảng loạn ấy nói lên điều ǵ? Tiếng đập cánh ḥa giải giữa nhà thơ và cuộc đời hay chỉ là kư hiệu của nỗi hốt hoảng, tuyệt vọng? Chính nhà thơ, anh đă măi hoài t́m kiếm, chạy theo đuổi bắt, đi t́m một ư nghĩa nhân sinh, đào sâu để cố phát hiện bản ngă của chính ḿnh, tra vấn và lục lọi, nhưng chỉ đụng đầu vào bức tường dày đặc của những giấc mơ dị dạng, được dựng nên từ một sức mạnh mù tối, vô vọng, không thể nào hiểu nổi.

Tôi chấn động hiệp cùng cơn trái đất
Chim muông ra ào ạt vỗ trên đầu
Khi tỉnh lại thấy quanh ḿnh lặng lẽ
Tôi ngu đần tự hỏi gốc nguồn đâu
(Hóa Thân, trang 27)

Đó là những giấc mơ hoang tưởng về một thiên đường đă lỡ cần được hưng phục lại, nhưng cũng chẳng có lối để về. Ở đây có một người đàn ông/ Ngồi kề gần thiên đường khóc lóc. Nói tắt lại, là bế tắc. Bế tắc bên trong đưa đến cái bí hiểm bên ngoài, như cả một thời kỳ dài của những trường phái phá phách bí hiểm của phương Tây trước thời Đệ Nhị Thế Chiến. Đó là cái bế tắc của cả một thời đại, chứ không phải chỉ của một cá nhân lẻ loi. Thời Viên Linh viết Hóa Thân cũng chính là thời của Thanh Tâm Tuyền với Tôi Không C̣n Cô Độc, Liên Đêm Mặt Trời T́m Thấy, thời của Tô Thùy Yên viết Thân Phận Thi Sĩ. Người phát ngôn về thơ của cả một thời đại mới đă từng lên tiếng: “... Hơn bao giờ hết, người ta sẽ thấy các nhà thơ hôm nay là những ư thức muốn biểu diễn bằng thi ca... Họ muốn nh́n thực tế bằng con mắt trợn tṛn căng thẳng phá vỡ hết mọi h́nh dáng để sự vật hiện ra với cái thực chất hỗn loạn không che đậy... Người ta lạc vào cái thế giới có những đêm tối nghẹn ngào, những ánh sáng lộ liễu, những bệnh viện lạnh lẽo, những nấm mồ hoang vu... Người làm thơ hôm nay chỉ là tên ăn mày - lẫn giữa đám khốn cùng - với một mẩu tự do sót lại.” (11)

Trong bế tắc và đổ vỡ, trong hỗn loạn rối mù, thi sĩ khẳng định ư thức và tự do của ḿnh. Viên Linh cũng vậy, anh sống thời đại của ḿnh và phát biểu bằng ngôn ngữ của thời đại. Viên Linh viết bài thơ tinh huyết trong những giấc mơ hỗn loạn của ḿnh, để tụng ca cái đẹp giữa cảnh tro than, cũng là cách để khẳng định ḿnh, chẳng cần đến một thiên đường nào khác, chẳng cần phục hưng những vàng son đă hủy.

Ở đây có một con ngựa
Người xà ích đă dong xe một ḿnh
Và chẳng về
. . .
. . .
. . .
Chân dung em buồn thảm
Và đời ta quên mộng huyền bí kia
. . .
Em hăy nghe và đừng khóc
. . .
. . .
Bầu trời xanh cao một vệt đen treo
Và sự t́nh cờ rơi vào ḷng chàng
Một sợi dây vừa đủ cho ḿnh, đừng khóc
đừng khóc.
. . .
Thời kỳ lăng mạn đă chấm dứt
Chúng nó trở về trên đường đă đi
Song con ngựa th́ què và người xà ích
tóc đă trắng
Ngồi lầm bầm chửi rủa
Chiếc xe th́ bỏ không, chiếc trục ṃn
Quay hoài dưới đất.

Ở đây có một người đàn ông
Ngồi kề gần thiên đường khóc lóc
Căn nhà đă bốc cháy
Cuộc đời tro tàn cây cối đen
Mọc lên và khô như than
Ngày y hối tiếc trở về
Bài thơ tôi làm cùng tinh huyết
Chẳng phải cho ai
Em hăy nghe và đừng khóc, đừng khóc.

Ở đây bọn chúng làm xong chiếc trống mặt da
Và gọi mỗi buổi chiều
Đàn voi trong núi kêu than thần thoại đă mất
Ôi đáy hồ sâu và cung điện của đời
. . .
. . .
(Phục Hưng, Hóa Thân, trang 101-104)

Những đoạn thơ được trích lại bên trên, thoạt tiên, tưởng như rời rạc, không ăn khớp vào nhau, nhưng thực ra đă hợp lại để tạo thành một toàn cảnh rất thơ mộng. Tất nhiên không phải là một bức tranh hiện thực, bởi v́ nó đă được cấu kết theo một cách tạo h́nh khá lạ, gần như lối tạo h́nh trong hội họa Marc Chagall hay S. Dali. Những mảng h́nh chỗ này chỗ kia: Cỗ xe ngựa, người xà ích tóc bạc trắng sau chuyến hành tŕnh dài tưởng là không trở về, gă đàn ông ngồi khóc bên cạnh thiên đường cửa đóng, căn nhà đă bốc cháy c̣n lại tro tàn, cung điện dưới đáy hồ sâu, và đàn voi kêu than về thần thoại đă mất. Một bức tranh đẹp cất lên tiếng nói, với những h́nh ảnh bay bổng, huyền bí, mộng ảo, mà vẫn gợi nên một cái ǵ đó sâu thẳm nối vào đời sống thực của chúng ta. Và thanh âm, vần điệu cũng vậy, có lẽ phải nói như Thanh Tâm Tuyền: “Vần của nó là vần ẩn giấu cách xa, nhịp điệu của nó là một thứ nhịp điệu rộng răi, phức tạp ở một tŕnh độ nghệ thuật cao hơn đối với thứ nhịp điệu đơn giản rút gọn..., là sự thể hiện nhịp điệu của ư thức.” (12) H́nh ảnh, ngữ nghĩa, âm thanh của lời, vần điệu của câu, và nhịp điệu của cấu trúc toàn bộ bài thơ, tất cả đă hợp nhau để dựng một vũ trụ mới của thơ. Cái cơi “mù mịt của tâm thức lạ thường” ấy đă được dựng nên bằng một ư thức mới của thi ca.

MỘT GỈNG LỤC BÁT MỚI VÀ LẠ

Ở bên trên, chúng ta đă có dịp nh́n lại góc cạnh này góc cạnh khác của đời thơ Viên Linh. Chúng ta đă đi qua chữ nghĩa phóng túng trong những cấu trúc tự do khi lật lại vài trang thơ trong Hoá Thân, nhưng đâu là chân dung thơ đích thực của Viên Linh? Gần đây, có dịp đọc lại và đọc kỹ thơ Viên Linh, tôi mới thấy rơ rằng Viên Linh là một tài năng thi ca quá đỗi lạ lùng, lại sống với thơ rất nghiêm cẩn, mê chữ, sống và lao động với chữ một cách thiêng liêng mà cần cù. Anh mơ mộng với cánh đồng thơ như người nông dân yêu thương đất đai, cần cù lao tác trên cánh đồng của ḿnh, trở giấc từng ngày với mùa màng, săm soi từng bông lúa, mầm cây.

Khi so sánh nhà thơ với người nông dân, tôi muốn nói đến người nông phu chân lấm tay bùn trong đồng ruộng Việt Nam. Viên Linh cũng vậy, thơ của Viên Linh bắt nguồn từ trong t́nh tự, tâm hồn và ngôn ngữ Việt Nam, khởi thủy từ những áng phong dao, đồng dao, ca dao, là suối nguồn, là dưỡng chất nuôi nấng tâm hồn đất nước từ bao nhiêu thế kỷ. Điều này cũng có thể hiểu được, v́ thuở thiếu thời Viên Linh sống trong một gia đ́nh nhà nho, giữa một làng quê của đồng bằng sông Hồng. Có lẽ trong bối cảnh ấy, anh đă tiếp thu bằng cả ngũ quan của ḿnh, và trái tim anh đă chứa chan từ lúc nào cái đẹp trữ t́nh, mộc mạc, hồn hậu ấy. Vào đời, đến với văn chương rất sớm, tấm ḷng mở rộng, tất nhiên chàng tuổi trẻ phải bị quyến rũ ngay v́ cái tân kỳ nồng nàn, hăng hái đi tới với cái mới. Nhưng cùng lúc đó, có những lúc dừng chân bên đường, nghỉ ngơi đôi chút rồi suy nghĩ, rồi trăn trở, và cả chiều sâu của tâm hồn như hiện ra, rồi cái sâu thẳm của quá khứ được điều chỉnh, để ḥa nhập vào giữa cảnh ngược xuôi của cuộc đời đang gióng trống phất cờ. Nên thơ Viên Linh không phải chỉ là những phát biểu phá phách, phá tan hoang nề nếp cũ, dẫm chân trên những lối đi mạnh mẽ, ngang tàng, bướng bỉnh. Anh đă t́m ra một sự ḥa hợp, vẫn rất tân kỳ, rất kiểu cách, rất mới, mà lại tiếp nối được với nhịp đập từ bao nhiêu đời rồi của dân tộc. Gịng lục bát của Viên Linh đă chảy qua giữa nền thơ Việt Nam hiện đại, góp được một tiếng thơ lạ cho nền văn học của chúng ta.

Cách đây 45 năm, Viên Linh vừa bước qua biên giới tuổi 20, anh viết bài thơ lục bát Phượng Liên khá lạ, sầu lạnh và mênh mông. Hẳn là v́ đọc bài thơ này mà Trần Tuấn Kiệt ghi chú: “Nói đến Viên Linh, người ta nghĩ ngay đến gịng thơ lục bát mới. Một nguồn thơ lạ đă thành h́nh với những cảm nghĩ siêu h́nh vây bọc lấy tâm hồn.” (13)

Hăy thử đọc lại Phượng Liên.

Anh đi hồn tiếc thương nhiều
Ngọn soan thưa lấp bóng chiều cuối sân.
Nẻo sầu đôi dạ phân vân
Nửa thân yên ngựa nửa thân tay ḿnh.

Có hoài tuổi dại không em
Trời thôi ráng đỏ thu phiền không gian.
Mắt em đầy mộng điêu tàn
Yên nghe ván ấy xuôi tàng giang xa.

Thôi cồn với tháp bao la
Ngựa đi bước nhỏ mây là cửa ô.
Mai quen với dạ bơ thờ
Hơi nghe lăng đăng sương mù nhớ nhau.
Thôi c̣n giấc ngủ canh thâu
Một hành lang rộng vây sầu Phượng Liên.
(Phượng Liên, 1959, Hóa Thân, trang 62-63)

Gần với nỗi sầu rợn ngợp của Huy Cận trên mênh mông Tràng Giang, đôi chút yêu ma của Chế Lan Viên trong Điêu Tàn, cảnh tượng vắng lặng phủ trùm lên toàn cảnh, mang lại một cảm giác vô cùng cô liêu.

Cái vắng lặng của một tâm hồn cô độc phóng chiếu trên hành lang rộng và bóng dáng một người nữ rất liêu trai, thêm vào đó là vài h́nh ảnh lănh đăng như ngọn soan thưa trong bóng chiều, cồn và tháp, dáng ngựa giữa những vầng mây, hẳn là những vầng mây xám, đă biến nơi đây thành một không gian siêu h́nh mênh mông. Chữ vây sầu ở câu cuối thực là một chữ rất hay. Cái hành lang rộng ấy vây phủ nỗi sầu của người, hay nỗi sầu của người bao phủ lấy cả hành lang. Mơ hồ và lan tỏa, từ người đến ngoại cảnh, hay ngược lại, từ ngoại cảnh đến người. Viên Linh đă có dịp nói thêm về bài thơ này: “Nàng thơ trong bài này là một h́nh ảnh cổ điển của một Hoàng Cung không có thật, trên bờ sông ma, đó là cái bóng lập lờ trong một hành lang của một ṭa nhà cổ.” (14) Mờ ảo, mênh mông, vắng lặng, tắt lại là cô liêu, là thuộc tính mà cũng là bản tính, chất thơ và đời thơ của Viên Linh.

Lục bát là một thể thơ quen thuộc, thân thiết với tất cả mọi hạng người, hoặc cũng có thể nói là một thể thơ rất dân tộc. (Dường như người Chàm cũng có thể thơ lục bát như dân Việt.) Lục bát v́ quen thuộc nên rất khó viết. Chỉ thiếu công lực một chút là rơi ngay vào chỗ thô thiển, vần vè, sáo ngữ. Cái rủi cho người viết lục bát là từ bao nhiêu đời trước đă có những bài ca dao quá đẹp, hơn thế nữa, cụ Nguyễn Du cũng đă lỡ viết những gịng lục bát thần t́nh, trác tuyệt. Người viết thơ lục bát thời nay phải có nội lực, phải sống thâm thiết cái hồn thơ, phải tu luyện và rèn tập chữ nghĩa, để nâng lục bát lên cao trong một cách nh́n độc đáo và sáng tạo, có nghĩa phải là mới và lạ. Viên Linh đă lao động với t́nh yêu vô hạn, trên những trang giấy và gịng mực của anh, để mang lại cho chúng ta những bài lục bát rất mới, rất kỳ lạ.

Hăy đọc thêm vài bài lục bát của Viên Linh để thấy ra được cái cao cường và sức quyến rũ kỳ lạ của lục bát Viên Linh. Dưới đây là một trong những tuyệt tác đó.

Đêm Trường

Nhớ em rồi Cúc Hoa xưa
Đêm nay dưới ngói trời mưa tầm tầm
Nhớ em vèo cái thu âm
Hồn theo bóng ngoại phân thân chín từng.

Nhớ em ly rượu c̣n lưng
So đôi đũa mộc cười bừng cơn say
Phải anh rồi phải anh đây
Bữa cơm hai bóng một ngày phần dương.
Nhớ anh chưa Cúc mắt vàng
Cúc xanh mi Cúc biếc hường trái tim
Cúc đen đâu đó Cúc mềm
Vùi anh trong bụng Cúc hiền như dao.

Năm năm đời trú mái sầu
Thời gian phai nhạt những màu yêu đương
Nhớ em lần lữa chiếu giường
Đêm nay lại một đêm trường như xưa.(15)

Đọc Đêm Trường, bất kỳ ai cũng có thể nhận rằng đây là một tuyệt tác. Bài thơ viết rất kỹ lưỡng và cầu kỳ. Kỹ lưỡng nơi từng chữ, từng câu, từng đoạn, vậy nhưng nó vẫn tỏa ra một hồn thơ rất kỳ lạ, chẳng bị vướng víu chút ǵ vào kỹ thuật. Tôi rất muốn lập lại ở đây lời b́nh Kiều của Tiên-Phong, Mộng-Liên-Đường chủ-nhân từ thời Minh Mệnh, để dùng những lời lẽ tài hoa thâm hậu ấy mà tán tụng Đêm Trường, nhưng thôi xin hẹn lại vào một dịp khác.

Đêm Trường quả đă gợi lên một cảnh tượng huyền ảo, bí mật. Cơn mưa tầm tầm dội xuống mái nhà, trời đất như mênh mông, xóa mờ không gian để có thể nối liền cuộc đời này, thế giới này với một thế giới khác ở cơi âm hồn. Cúc Hoa, một con người chắc chắn từng hiện hữu ở đời, bởi v́ Viên Linh đă có lần xác định rằng thơ không phải là sản phẩm của tưởng tượng như một cuốn tiểu thuyết, mà là của đời ḿnh, một phần đời ḿnh (16). Nhưng Viên Linh đă nhập nhân vật thực ấy vào Cúc Hoa của một cổ tích từ đời nào, để từ đó người thơ c̣n có thể đi t́m nàng ở thế giới bên kia, bởi v́ “Nàng là một thứ hạnh phúc địa ngục.” (17) Một thứ Orphée - Eurydice. Nội một chữ Cúc không thôi cũng đủ lạ rồi. Cúc là Cúc Hoa, mà cũng có thể là bông cúc vàng, rồi cúc hường, cúc xanh, cúc đen. Rồi th́ “Vùi anh trong bụng Cúc hiền như dao” th́ quả là đến chỗ lạ kỳ tuyệt vời mà không kỳ cục quái đản chút nào. Nhắc đến Cúc Hoa, hăy đọc thêm vài câu nữa về Cúc Hoa:

Ầm ầm mưa đổ bên tai
Cúc Hoa, anh ngủ ngh́n tay kéo đầu
. . .
. . .
Đầm đầm máu nhỏ thân tươi
Cúc Hoa, em ngủ quên đời quạnh hiu
(Cúc Hoa, Hóa Thân, trang 10)

Khi tái bản Hóa Thân năm 1994, Viên Linh lại nhắc đến Cúc Hoa như là bài tựa cho sách trong kỳ in lại này. Viên Linh viết: “... Ngày xưa qua kính chiếu yêu, bóng em thấp thoáng lối về Địa Phủ th́ bây giờ, nơi Dương Gian, chàng trai hai mươi tuổi ngày gặp em đó c̣n giữa trời t́m người xa khuất; hy vọng đường trần rồi rực rỡ tựa nẻo âm hồn, nơi chúng ta gặp lại; Và cây cầu Palikao trên sông Sàig̣n, cây Cầu Sắt mù mịt trong mưa và đêm nồng nàn hương thơm Nhà Máy Rượu sẽ cùng chúng ta nối lại Bữa Tiệc Trần Gian c̣n bỏ dở, và trong thư pḥng, giữa những cuốn sách, không ai c̣n cần đến chiếc kính soi ngàn dặm năm xưa.” (Hóa Thân, trang 7). Như vậy, rơ ràng đó là một kinh nghiệm sống động của nhà thơ, và chiếc cầu vồng rực rỡ nối liền Cúc Hoa và thi sĩ đă tạo nên vũ trụ thơ của Viên Linh. Cái vũ trụ ấy rơ ràng là luôn luôn được phủ trùm một vẻ huyền bí, mênh mông, và cô quạnh, và biết đâu chất cô đơn và cô độc của Viên Linh đă khởi đi từ đó, rồi càng lúc càng kiên cố vững chắc hơn, để h́nh thành thế giới thơ, mà cũng là nhân cách và cuộc đời của nhà thơ.

Đă đọc Phượng Liên, Đêm Trường, th́ hăy đọc thêm vài đoạn nữa của Nghi Hoặc Nỗi Ǵ để thưởng thức cho tới nơi vài nét riêng của một gịng lục bát hiện đại: lục bát Viên Linh.

Bốn mươi nghi hoặc nỗi ǵ
Ḷng sông bóng nguyệt thầm th́ thời gian
Mưa rơi ừ tiếng ma đàn
Tuổi xanh trong mộng lá vàng trên cây.
. . .
. . .
. . .
Chơi văn có lúc buồn nôn
Năm năm như ốc mượn hồn thác sinh
Ta đi tan vỡ bóng h́nh
Cười lên nhân ảnh một ḿnh mà quay.

Giờ đây ta biết giờ đây
Bốn mươi tuổi đó thân này c̣n tươi
Đêm nay ngoài phố mưa rơi
Là hư hay ảo cơi đời đang qua?
Năm xanh lục, tháng nâu đà
Ngày đen đêm trắng trong ta mấy màu
Nh́n đời cặp mắt đen sâu
Thương yêu trái đỏ hận sầu xám xanh.

Bâng khuâng tâm ư không thành
Vong niên c̣n tưởng vừa sinh kiếp này
Giật ḿnh, đường chỉ trên tay
Nhủ ta nh́n lại tháng ngày đă đi.

Bốn mươi nghi hoặc nỗi ǵ
Ḷng sông bóng nguyệt thầm th́ thời gian
Con chim trốn tuyết xa đàn
Để tôi về ẩn nỗi hàn trong tôi. (18)

Chúng ta vừa đọc lại dăm bài thơ của Viên Linh, thời của nhiều phóng túng và khắc khoải với thơ tự do, rồi thời trở về với lục bát, hơi thở cố hữu tự nhiên của đất nước.

Chúng ta cần nhớ đến dấu mốc lịch sử 1963. Bởi v́ sau biến cố 63, một sự thôi thúc phục hưng những giá trị văn hóa đích thực của dân tộc đă tự động phát triển trên toàn cơi miền Nam. Trong lănh vực thi ca cũng vậy, đă có khuynh hướng đi t́m lại một nhịp điệu quân b́nh, sáng sủa, và giản dị, nên thơ tự do cũng không c̣n cái say đắm hung hăng thơ mộng của ngày nào. Thay cho ngọn cờ dẫn đường phất lên với những: Tôi buồn khóc như buồn nôn / Ngoài phố / Nắng Thủy tinh / Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ /.../../ Chiều Không xanh / Không Tím / Không hồng / Những Ống Khói Tàu mệt lả, một khuôn mặt mới, mặc dù xuất hiện đă từ bao nhiêu năm trước mà chưa được mọi người lưu tâm ǵ lắm, bắt đầu hồn nhiên chiếm lĩnh ngọn thi sơn, dựng một cục diện mới cho thi ca: Trung niên thi sĩ. (19) Viên Linh hoàn toàn đồng ư với cách nh́n ấy, và đă nhập cuộc với chuyển động ấy, như anh cũng đă từng nh́n nhận: “Làm thơ lúc này lại càng khó. Chữ nghĩa nhịp điệu sinh khí của Thơ Tự Do đang biến đổi. Trầm xuống lặn vào.

Và người bạn Trung niên thi sĩ, anh vừa mở một cánh cửa mới cho Thi Ca, nh́n vào một ngôi nhà trống trải, ngó xuống một cánh rừng mênh mông. Muông thú và tu sĩ. Tiếng kêu và Kinh tự.” (20)

Từ đó chúng ta sẽ thấy rằng Viên Linh đă trở lại và sống hoàn toàn với nhịp đập và hơi thở của đất nước, anh làm thơ lục bát, thơ 5 chữ, thơ 7 chữ, thơ nhị thập bát tú, mà ngay cả thơ tự do th́ cũng với tiết nhịp êm đềm, mềm mại, và hiền ḥa.

T́m cho được một cách phát biểu thích hợp là cần thiết, nhưng cốt lơi vẫn là tấm ḷng tha thiết với thơ. Anh sống với thơ, nghiêm trọng với thơ, cân nhắc với thơ. Như có lần, nói chuyện với nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, năm 1972, Viên Linh đă nói:

“Thi ca đối với tôi là một chuyện đáng sợ, một chuyện phải cực kỳ thận trọng. Đúng ra làm thơ là phải như chơi, thanh thản và dễ dăi, song tôi không thấy được như thế. Chạm đến thơ, tôi thường vứt bỏ mọi thứ khác để nhẹ bớt người đi mà leo qua cây cầu rất mong manh này.

“Như ông biết, bài thơ của tôi đăng trên VĂN số Xuân Nhâm Tư là bài thơ thứ hai mà tôi đưa đến ṭa soạn trong ṿng hai ngày. Ngày đầu tôi đưa bài khác. Khi tới đưa bài sau, tôi lấy lại bài trước về, để xé bỏ. Tôi tự xé bỏ như thế với ḿnh, v́ nghĩ rằng không phải lúc nào những cái ḿnh viết ra cũng là văn chương. Có khi nó là đá quí, có khi nó là gạch ngói. Phải chi tôi có thể ngông cuồng được, hay giả khùng được, tôi sẽ làm thơ như gió. Huy Cận nói làm xong một bài thơ, mệt như ngủ với đàn bà. Ngủ với đàn bà xong, ḿnh ngủ; nhưng làm xong một bài thơ, ḿnh sẽ thức. Sẽ tỉnh táo hơn nữa. Sẽ vô cùng tỉnh táo. Huy Cận nói không đúng đâu.”(21)

Và trả lời tiếp câu hỏi “Ông vừa dùng h́nh ảnh cây cầu mong manh? Có thực ông cảm thấy như thế không?” Viên Linh trả lời:

“Luôn luôn tôi thấy như thế, trong những năm sau này. Một ngày kia, nếu ông làm thơ, ông sẽ thấy nó hiện ra. Rồi ông ngừng làm thơ, hay ông cứ cắm đầu bước. Ông có thể vượt qua mà ông cũng có thể ngă lộn cổ chết tốt. Tôi đă thấy nhiều người gẫy cổ dưới cây cầu của họ rồi.” (22)

Khi đọc những gịng này, dù chỉ trên một bài phỏng vấn với lối thường đàm, vậy mà tôi cũng đă phải khuyên chú trên lề trang sách. Một thời đại của những người làm thơ, có bao nhiêu người sống được với thơ, trân trọng với thơ như vậy?

Tôi xin trích thêm hai đoạn thơ nữa của Viên Linh viết trong thời điểm đó, tức là 1963-1975, để chấm dứt bài viết này, trước khi chuyển qua một thời kỳ khác: thời sau 1975, ở nước ngoài.

1) Đoạn cuối của bài thơ Con Tim Thất Lạc in trên Vấn Đề số 14.

Hăy cho tôi sống khắp cùng
Cho tôi làm con tim thất lạc
Cho tôi măi măi chờ mong
Một ngày mai được chuộc.
(1968)

Và 2) Đoạn cuối của Viễn Mơ, tức phần 11 của bài thơ khá dài trên Khởi Hành, số 32.

Đây là một bài thơ
Viết giữa đêm nguyệt tận
Tôi là kẻ viễn mơ
Muốn nhịp đời rất chậm.
Nhưng tựu chung có ǵ đáng nói
Vết thương rên rỉ hộ rồi
Kết thúc bài thơ sống:
“Tôi là di chúc thơ tôi.”
4.12.1969

Dù trong những giây phút mong manh nhất, thơ tự nó cũng đă lấp lánh ánh sáng hy vọng, để trở thành một thứ di chúc muôn thuở.

HUỲNH HỮU ỦY
Nam California, Tháng 7.2004

CHÚ THÍCH

(1) Tất cả những trích dẫn từ thi tập Hoá Thân đều dựa vào ấn bản in lại của Edition lmn, Bonn, Germany, 1994.

(2) Trong một nhận định về Nguyễn Đức Sơn trước đây, chúng tôi đă có dịp đề cập đến những bóng dáng này, là những triết gia, nhà văn, thi sĩ đă ảnh hưởng lớn trong việc h́nh thành nền văn nghệ miền Nam thời của thập niên 50-60. Nhận định về Viên Linh, chẳng thể nào không đề cập đến bối cảnh ấy, vậy nên chúng tôi phải lập lại điều ấy ở đây. Xin xem thêm: Huỳnh Hữu Ủy: “Nguyễn Đức Sơn: Một đỉnh thơ kỳ dị và cô độc”, Hợp Lưu, số 47, tháng 6 & 7 năm 1999. In lại trong Mấy Nẻo Đường của Nghệ Thuật và Chữ Nghĩa, Văn Nghệ, 1999.

(3) Lời của Viên Linh, in trên b́a sau Thi Tập Hóa Thân, Sđd.

(4) B.Đ. Ái Mỹ trích dẫn và chuyển dịch trong bài viết bàn về Xuân Diệu Lại Thơ Thơ, Góp lời bạn Hoàng Trong Quỵ, Tạp chí Trong Khuê Pḥng, số 83, năm thứ 3.1939. Vơ Long Tê dẫn lại trong “Présence de Rimbaud au Vietnam. Essaie de bibliographie critique”, Publications du Centre de Documentation et d’ Études Vietnamiennes, Bibliothèque de la Conférence Épiscopale du Vietnam, pp.260-261, vol.1, Saigon, 1974.

(5) Chúng ta hăy để Viên Linh giải thích về mấy câu thơ này, “Một kẻ hoài nghi nhân loại... tên vô chính phủ, một đời không phụng thờ ai.” Khi nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, bút hiệu Nguyễn Nam Anh, hỏi chuyện Viên Linh trên số Văn đặc biệt về Thơ xuất bản ở Sàig̣n năm 1972, N.X.H hỏi Viên Linh nhiều điều với mục đích “đi thật xa với Viên Linh”, trong đó có câu hỏi “Điều ǵ làm ông ghê tởm nhất?” th́ Viên Linh đă trả lời cộc lốc và quyết liệt: “Khi đến trước cửa một cơ quan công quyền.” Câu trả lời thực gai góc, dữ dội, nhưng nếu diễn dịch ra cho nhẹ nhàng, th́ tôi thấy khá gần với David Henry Thoreau hoặc các ẩn sĩ phương Đông của một thời xa xưa nào. Một thi sĩ tự do thực sự, để tiêu dao tự tại và để viết, th́ có lẽ tốt nhất sẽ là một con người vô chính phủ.

(6) “Lời nôm gửi em Hoa, Thơ vào Thu”, Khởi Hành, số 73, tháng 11.2002, trang 29-30.

(7) Xin xem thêm: Viên Linh, “Ngôi nhà tôi đă ở”, Khởi Hành, số 56, tháng 6, 2001 và Ngôi nhà tôi đă ở, hồi tưởng của Nhă Ca, cũng có thể xem là lời bạt cho tập Thơ Hóa Thân, viết vào tháng 1.1964 ở Sàig̣n khi Hóa Thân được Tạp Chí Văn Nghệ ấn hành lần đầu tiên ở Sàig̣n năm 1964, có in lại trong ấn bản ở Đức năm 1994.

(8) Viên Linh, “Đường Bạch Dương”, Khởi Hành, số 71, Tháng 9.2002, Trang 19.

(9) Trần Tuấn Kiệt, Thi Ca Việt Nam Hiện Đại 1880-1965, Nxb Khai Trí, Sàig̣n, 1967.

(10) Trần Tuấn Kiệt, Sđd, Trang 921.

(11) Thanh Tâm Tuyền, Nỗi buồn trong thơ hôm nay, 1956, in lại trên Văn, số đặc biệt về Thanh Tâm Tuyền, Tháng 10.1972, Thụy Khuê trích dẫn trong Cấu Trúc Thơ, Văn Nghệ, California, Trang 40.

(12) Thanh Tâm Tuyền, Sđd, Trang 39.

(13) Trần Tuấn Kiệt, Sđd, Trang 921.

(14) Viên Linh, Nàng Thơ và Cảm Hứng, Khởi Hành, số 89, California, 2004, Trang 17.

(15) Đêm Trường, Thủy Mộ Quan, Thời Tập xb, California, 1992, trang 134-135. Đêm Trường in trong phần Dư Tập, tức là phần tập hợp những bài thơ viết ở Sàig̣n trước 1975, t́m thấy lại rải rác nơi này nơi khác ở hải ngoại. Thủy Mộ Quan gồm ba phần, đúng ra là 3 thi tập được in gộp chung lại trong một ấn phẩm: 1) Thủy Mộ Quan bao gồm những bài thơ làm trong hai năm 1981 và 1982, tập trung vào biến cố người Việt ngoài biển Đông. 2) Ngoại Vực: Thơ làm từ 30 tháng 4 năm 1975 sau khi rời Sàig̣n. Và 3) Dư Tập: Một số thơ đă đăng báo trước 1975 ở quê nhà.

(16) Viên Linh trả lời phỏng vấn của Nguyển Nam Anh, Văn số 198, đặc biệt về Thơ, Sàig̣n, 15.3.1972, Trang 86.

(17) Viên Linh trả lởi phỏng vấn của Nguyễn Nam Anh, thượng dẫn, Trang 89.

(18) Nghi Hoặc Nỗi ǵ, Thủy Mộ Quan, Trang 94-102.

(19) Đă dẫn ở bên trên, xem lại chú thích 8.

(20) (21) Viên Linh trả lời phỏng vấn của Nguyễn Nam Anh, Sđd, Trang 90,91



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home