|
||
|
Từ đó, tôi bắt đầu lưu tâm đến James Pritchett và được biết thêm đôi nét về anh. Anh tốt nghiệp tiến sĩ âm nhạc tại Princeton University với luận án mà sau này được xuất bản dưới nhan đề The Music of John Cage (như đă đề cập ở trên), và là tác giả của nhiều chuyên luận về âm nhạc tiền phong. Đồng thời, anh là chuyên gia thảo chương về điện nhạc và đă hoàn thành nhiều công tŕnh quan trọng, trong đó có “Edsnd” - một nhu liệu tối tân dùng để biên tập âm thanh trên đồ h́nh, hiện đang được sử dụng tại Winham Computer Laboratory ở Princeton University. Là một nhà nghiên cứu mỹ học âm nhạc và khoa học điện nhạc, James Pritchett đồng thời c̣n là một nhà thơ. Điều thú vị là thơ của James Pritchett được viết cho một mục đích khác hẳn với những mục đích của các nhà thơ chuyên nghiệp. Anh sáng tác thơ để đọc đồng thời với các nhạc phẩm của Frances White - hôn thê của anh. Chị là một khúc tác gia chuyên viết khí nhạc và điện nhạc, và là môn đệ của những tên tuổi tiền phong như Lawrence Moss, Charles Dodge, và Paul Lansky. Tốt nghiệp chương tŕnh đại học tại University of Maryland và cao học tại Brooklyn College thuộc City University of New York, chị đang nghiên cứu luận án tiến sĩ về nhạc tác (composition) tại Princeton University. Các tác phẩm của chị đă được tŕnh tấu thường xuyên trên sân khấu và đài truyền thanh của Hoa Kỳ và các nước Âu châu, Á châu và Úc châu. Frances White đă đoạt nhiều giải thưởng giá trị về âm nhạc, trong đó có các giải: ASCAP Foundation Young Composers (1990); Bourges International Electroacoustic Music Competition lần thứ 18 và lần thứ 24 (1990 và 1997); và nhiều ASCAP Special Awards (từ 1993 đến 1998). Bên cạnh đó, chị thường xuyên được ủy thác sáng tác nhạc bởi các tổ chức âm nhạc quan trọng như Groupe de musique experimentale de Bourges, ASCAP Foundation, International Computer Music Association. Nhiều tác phẩm của Frances White đă được ghi âm bởi các hăng đĩa chuyên về nhạc hiện đại như Wergo, Centaur, Nonsequitur, và Harmonia Mundi. Năm 1996, khi International Computer Music Association ủy thác Frances White sáng tác nhạc để tŕnh tấu tại International Computer Music Conference ở Hồng Kông, chị thực hiện tác phẩm Birdwing cho shakuhachi (động tiêu Nhật Bản) và băng từ. Để sáng tác phần nhạc cho shakuhachi, Frances White đă bỏ ra nhiều tháng để học thổi nhạc khí này và nghiên cứu mỹ học âm nhạc honkyoku cổ truyền của Nhật Bản. Phần băng từ được thực hiện tại Winham Computer Laboratory ở Princeton University và là sự thể hiện tư duy mỹ học về tiếng động và sự im lặng - một mỹ học mới mẻ đă thâu hoá và dung hợp triết lư thiền tông và thế giới quan mang tính môi sinh học hậu hiện đại. Trong khi Frances White viết Birdwing, James Prichett đă sáng tác bài thơ Birdwing (for Frances) để khán giả xem trong khi nghe nhạc phẩm ấy được tŕnh tấu. Mỹ học thi ca của James Pritchett hoàn toàn phù hợp với mỹ học âm nhạc của Frances White: chúng ta có thể cảm nhận trong bài thơ một không khí tịch mặc phảng phất tính chất haiku lẫn với nỗi xao xuyến của ư thức con người thời đại về môi trường sống tự nhiên. Sự kết hợp thú vị giữa mỹ học Tây phương hậu hiện đại và mỹ học Đông phương cổ điển, đồng thời giữa nhạc và thơ, đă gây thán phục sâu sắc trong giới chuyên gia của hội nghị. Ngay sau đó, nhạc sư Trung Quốc Josef Fung đă yêu cầu Frances White sáng tác một nhạc phẩm đặc biệt cho dàn nhạc Chinese Virtuosi của ông. Dàn nhạc này đang hoạt động tại Bắc Kinh và chuyên sử dụng các nhạc khí cổ truyền của Trung Quốc để tŕnh tấu các tác phẩm hiện đại. Nhận lời yêu cầu, từ năm 1997 đến 1998 Frances White và James Pritchett, một người viết nhạc, một người làm thơ, đă cùng lúc thực hiện tác phẩm While Listening to the Waves (at Island Beach). Về phần nhạc, Frances White sử dụng phương pháp khúc thức hiện đại để viết cho nhị hồ, địch, đàn tranh và tỳ bà. Âm sắc của mỗi nhạc khí tất nhiên chứa đựng trong nó sự kết tinh của ư thức thẩm mỹ đă tạo ra nó. Việc sử dụng bốn nhạc khí cổ truyền Trung Quốc để chuyển tải ư thức thẩm mỹ hiện đại Tây phương quả là một thách đố lớn, đặc biệt khi Frances White không sử dụng băng từ hay điện nhạc kèm theo. Về phần thơ, James Pritchett sử dụng thủ pháp nhiếp tượng để làm cho cảnh vật được mô tả trong bài thơ hiện lên như những tấm postcard: một cái nh́n hết sức khách quan, chính xác, và không gợi lên một chút cảm giác trữ t́nh nào. Thủ pháp này dựng lên một cảm thức mỹ học vừa đối lập với truyền thống “thi ngôn chí”, lại vừa kế tục và hiện đại hoá truyền thống mô tả thiên nhiên và ư niệm “thi trung hữu hoạ, hoạ trung hữu thi” của thơ cổ điển Trung Quốc. Điều tôi muốn nói thêm là sự kết hợp thơ/nhạc ở đây tạo nên một hiện tượng nghệ thuật hoàn toàn khác hẳn với những kiểu kết hợp thơ và nhạc thường thấy như ngâm thơ, phổ thơ thành ca khúc, hay đọc thơ trên nền nhạc ngẫu tác. Ở đây, thính/độc giả vừa thưởng thức (bằng tai nghe) một tác phẩm âm nhạc hoàn chỉnh, vừa thưởng thức (bằng mắt đọc) một bài thơ hoàn chỉnh, trong cùng một lúc. Như thế, thính/độc giả có thể cảm nhận cùng lúc hai nguồn âm thanh: âm thanh cụ thể của nhạc khí và âm thanh trừu tượng của việc đọc thơ trong im lặng. Đồng thời với hai nguồn âm thanh là hai nguồn ư tưởng: một nguồn ư tưởng phi ngôn ngữ của nhạc, và một nguồn ư tưởng qua ngôn ngữ của thơ. Các nguồn này hiện hữu trong tư thế vừa tương tác vừa độc lập. Một điều khác tôi cảm thấy cần nhấn mạnh: đây là hai bài thơ đầu tay của James Pritchett. Điều làm cho anh sáng tác hai bài thơ đầu tay xuất sắc tất nhiên không phải là tay nghề của một nhà thơ giàu kinh nghiệm, mà chính là cảm thức mỹ thuật sâu sắc và đầy sáng tạo sinh ra từ vốn kiến thức mỹ học phong phú và một ư chí cách tân mạnh mẽ. Dưới đây, tôi xin gửi đến độc giả bản dịch Việt ngữ của hai bài thơ này. Đọc thơ James Pritchett trên mặt giấy là phải chịu mất đi một nửa mỹ thuật của khối hợp nhất thơ/nhạc như vừa tŕnh bày ở trên. Rủi thay! Thơ James Pritchett Cánh chim (cho Frances) 1 Tôi may mắn đến bờ hồ thật sớm, khi vạn vật c̣n đông cứng và bất động: tôi có thể nh́n thấy mấy vết cánh nhỏ nhắn của chim sẻ để lại trên tuyết. Trong một khoảnh khắc gió sẽ thổi qua và chúng sẽ tan biến mất. 2 Chúng tôi biết nơi bầy mịch cầm làm tổ. Chúng là loài chim kín đáo và bí mật. Mỗi mùa xuân chúng tôi đi nghe chuyến bay đêm của chúng. Phải đứng giữa cánh đồng trống vào chập tối và chờ đợi: chờ đợi lũ chim ngày về chỗ ngủ, chờ đợi sự tĩnh lặng, chờ đợi mặt trời và vầng nguyệt. Chỉ đến khi bóng tối phủ ngập tầm nh́n, chúng mới xuất hiện. Bạn không thể thấy chúng, nhưng bạn có thể nghe bài ca của những đôi cánh vỗ, lượn ṿng vút lên trời cao và buông rơi xuống. Năm kia chúng tôi đứng im và chờ đợi, nhưng chúng không c̣n ở đó. Không h́nh bóng không âm thanh, bầy chim chỉ c̣n bay lượn trong kư ức chúng tôi, nhịp cánh reo vi vút. Nguyên tác Anh ngữ đăng trên http://www.music.princeton.edu/~jwp/texts/birdwing.html (Copyright 1996 by James Pritchett) Khi lắng nghe tiếng sóng
1 (nh́n xuống) Giờ đây chỉ c̣n lại một băi cát đôi khi biển trườn lên mơn trớn, rồi rút đi với một chút lấp lánh thoáng qua (cát ướt, cát khô; cát ướt—cát khô). Khoảng giữa; không phải của bờ không phải của biển; cân phương và vô h́nh. 2 (nh́n lên) Hai cánh diều giấy màu cam treo trên nền trời hoang xanh thẳm; bất động. 3 (nh́n lại phía sau) Một hàng cọc gỗ, đứng trên mỗi cọc một con hải âu. Đằng sau đó, hàng giậu chắn tuyết. Đằng sau đó, những cồn cát—đường cong của cát chạm vào bầu trời—những lá cỏ cắt nét ngang dọc. Đằng sau đó, ống khói ngôi nhà người đánh cá. Đằng sau đó, một dăy chim vụt bay đi. HOÀNG NGỌC-TUẤN giới thiệu và chuyển ngữ
Nguyên tác Anh ngữ đăng trên http://www.music.princeton.edu/~jwp/texts/while.html (Copyright 1998 by James Pritchett) |
|
|