VÀI ĐIỀU GÓP Ư VỀ BỨC “THƯ” CỦA YCHI
Hoàng Ngọc-Tuấn



Lâu quá chúng tôi mới thấy YChi viết lại. Mừng lắm. Tác phẩm “tái xuất quân” của YChi lại không phải là một truyện ngắn (ngón sở trường của cô em), mà lại là một bức thư viết cho chúng tôi, nhan đề: “Thư cho hai anh Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn” (Văn số 39, tháng Ba, 2000); và bức thư ấy lại có vẻ như một bài tranh luận hay góp ư. Từ trước đến giờ, YChi vốn không thích tranh luận; và đây là lần đầu tiên YChi ra chiêu. Quả là sự phá lệ, như YChi thú nhận. Thực là thú. Trong sinh hoạt văn học, chuyện tranh luận hay góp ư bao giờ cũng cần thiết. Nhân vô thập toàn. Ḿnh viết cái ǵ ra mà có người bỏ th́ giờ để đọc rồi tranh luận hay góp ư, th́ ḿnh biết ơn người ấy lắm. Ngay cả khi người ấy tranh luận hay góp ư trật đường rầy th́ cũng thú vị lắm. Có thế th́ sinh hoạt văn học mới đỡ buồn ngủ. Vậy, trước hết chúng tôi xin cảm ơn YChi.

Đọc “thư” của YChi thực là thú vị. Tranh luận hay góp ư bằng ngôn ngữ như thế th́ đọc vui lắm. Tuy nhiên, v́ ngón này có lẽ không phải là ngón sở trường của cô em, nên cô em không thể tránh khỏi để một số điểm sơ suất trong chiêu thức, dù đối với bài viết dài 18 trang của chúng tôi, cô em chỉ mới “nhón tay” chỉ ra có vài ... chỗ “ngứa”. Dưới đây, chúng tôi chỉ xin nhắc nhở vài điểm.

YChi viết:

“Hai anh khởi đầu bằng nhận định về lối viết văn nghị luận rất ḷng ṿng của sinh viên (và giáo viên) Việt Nam:

“Phần lớn học sinh và sinh viên Việt Nam, khi viết văn nghị luận, thường vấp phải những khuyết điểm khá giống nhau, trong đó, khuyết điểm thuộc loại nặng nề và khó sửa chữa nhất là tật ḷng ṿng (...)” (Văn 37 & 38, trang 13)

Rồi mở một câu hỏi về quan niệm về cái đẹp trong văn chương Việt Nam:

“H́nh như những sinh viên trẻ ấy đă nhạy bén khám phá ra một cái “thần” trong quan điểm thẩm mỹ Việt Nam: xem sự mơ hồ, hàm hồ, ḷng ṿng là một nét đẹp”. (Văn 37 & 38, trang 14)

Những vị có học vấn cao về phương pháp luận sẽ có ư kiến chính xác hơn. Với cái nh́n của người đọc tŕnh độ trung b́nh, YChi thấy mở bài như vậy thật không ổn. Nội dung của nhận định và câu hỏi đặt ra phải nhất quán chứ. Viết như thế th́ mệnh đề [sic] ở đây là ǵ? Phê b́nh cái sự ḷng ṿng trong văn nghị luận Việt nam, hay phê b́nh thẩm quan người Việt? Nói về văn nghị luận, hay nói về văn chương? Nếu nói về nghị luận, th́ đương nhiên phải đặt trọng tâm ở cái mạch lạc rơ ràng của lối hành văn. Mở bài: đặt câu hỏi; thân bài: khai triển luận cứ; kết luận: tóm lại câu trả lời. Mỗi đoạn một chức năng, mang tiểu cấu trúc riêng. Nhưng nếu là nói về sáng tác văn chương th́ sao? Không lẽ bắt đầu mỗi đoạn văn đều phải nêu trước ư chính (key sentence)?”

Đọc đoạn văn trên, chúng tôi ngạc nhiên khi thấy YChi viết: “Nội dung của nhận định và câu hỏi đặt ra phải nhất quán chứ.” YChi ơi, câu hỏi nào thế? Câu văn của chúng tôi: “H́nh như những sinh viên trẻ ấy đă nhạy bén khám phá ra một cái “thần” trong quan điểm thẩm mỹ Việt Nam: xem sự mơ hồ, hàm hồ, ḷng ṿng là một nét đẹp”, đâu phải là một câu hỏi. Đây là một câu phát biểu không mang tính khẳng định. Bởi thế, nó khởi đầu bằng hai chữ “h́nh như”, nhằm diễn tả sự hoài nghi của chúng tôi về nguyên nhân của tật viết nghị luận ḷng ṿng mà “phần lớn” (chứ không phải “tất cả”) học sinh và sinh viên “thường” (chứ không phải “luôn luôn”) vấp phải. Chúng tôi ngờ rằng nguyên nhân của khuyết điểm này xuất phát từ một quan điểm thẩm mỹ cố hữu nào đó, và quan điểm thẩm mỹ này “h́nh như” là “xem sự mơ hồ, hàm hồ, ḷng ṿng là một nét đẹp” của văn nghị luận.

Xin YChi đọc lại nguyên đoạn văn ấy để thấy tại sao chúng tôi phải ngờ như thế. Chúng tôi viết:

“Phần lớn học sinh và sinh viên Việt Nam, khi viết văn nghị luận, thường vấp phải những khuyết điểm khá giống nhau, trong đó, khuyết điểm thuộc loại nặng nề và khó sửa chữa nhất là tật ḷng ṿng: họ ít khi đi thẳng vào vấn đề, ít khi phân chia tư tưởng thành từng luận điểm rạch ṛi, ít khi sắp xếp các luận điểm ấy vào một cấu trúc nhất quán và chặt chẽ, ít khi bộc lộ thái độ hay sự đánh giá của ḿnh một cách rơ rệt, và cũng ít khi có được một câu kết luận thật đắc như là kết quả của một quá tŕnh tư duy rốt ráo chứng tỏ họ đă đi đến tận cùng mạch lư luận của họ.

Dĩ nhiên, ở đây chúng ta không thể hoàn toàn đổ lỗi cho học sinh hay sinh viên. Khuyết điểm của họ cũng có thể dễ dàng t́m thấy ở những bậc thầy của họ: cứ đọc lại các cuốn sách hay những bài viết thuộc loại nghị luận bằng tiếng Việt, kể cả của những tác giả đă thành danh, hơn nữa, có khi thành danh lừng lẫy, chúng ta sẽ thấy ngay phần lớn đều có cấu trúc rất lỏng lẻo, quan hệ giữa các ư hay các câu văn ít khi thật mạch lạc, dường như người ta không có ư niệm ǵ về việc phân đoạn (paragraphs), và khi viết từng đoạn, dường như cũng không có ư niệm ǵ về việc cắm những câu chốt (key sentence) để biến đoạn văn ấy thành một đơn vị ư tưởng hoàn chỉnh với một cấu trúc nội tại chặt chẽ. Đọc văn nghị luận Việt Nam, chúng ta dễ liên tưởng đến thức ăn của Việt Nam: cứ lỏng bỏng đầy nước; mỗi bài viết thường giống một cái tô thật lớn và thật đầy trong đó chỉ nổi lên lều bều vài ba ư tưởng, có khi lại là những ư tưởng cũ mèm, và dù cũ hay mới, những ư tưởng ấy thường xuất hiện bên nhau như do ngẫu hứng của tác giả hơn là do mối quan hệ thực sự giữa chúng với nhaụ

Điều riêng chúng tôi cảm thấy như một phát hiện thú vị là ngay cả nhiều sinh viên Việt Nam rời Việt Nam từ lúc c̣n nhỏ, chủ yếu trưởng thành tại Úc, hiếm khi đọc sách báo tiếng Việt, cũng vấp phải những khuyết điểm tương tự. Viết tiếng Anh, họ khá khúc chiết; nhưng khi viết tiếng Việt, họ lại cứ đi ḷng ṿng măi chung quanh đề tài. Khi chúng tôi hỏi tại sao họ không viết tiếng Việt theo kiểu mà họ viết bằng tiếng Anh th́ hầu như tất cả đều trả lời giống nhau: “Viết văn bằng tiếng Việt mà viết rơ ràng như tiếng Anh th́... dở lắm, thầy ơi!”

Th́ ra thế. H́nh như những sinh viên trẻ ấy đă nhạy bén khám phá ra một cái “thần” trong quan điểm thẩm mỹ Việt Nam: xem sự mơ hồ, hàm hồ, ḷng ṿng là một nét đẹp.”

Ấy, YChi thắc mắc v́ chính YChi đă trích một nửa đoạn văn đầu, rồi bỏ quên trọn đoạn văn thứ hai và thứ ba, và nhảy thẳng vào đoạn văn thứ tư (bỏ quên luôn ba chữ “Th́ ra thế”). Mà đoạn văn thứ ba, cộng với ba chữ “Th́ ra thế” ở đầu đoạn thứ tư, lại giải thích được nguyên nhân tại sao chúng tôi cảm thấy “h́nh như” tật viết nghị luận ḷng ṿng có thể xuất phát từ một quan điểm thẩm mỹ.

Tóm lại, xét theo văn mạch, bốn đoạn văn đầu tiên của bài viết đă không nói ǵ đến văn chương hư cấu cả. Vậy, YChi khỏi phải thắc mắc nhé.

Một điều đáng ngạc nhiên khác: YChi cho rằng văn nghị luận không phải là văn chương. Điều này ... trục trặc đấy. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ bàn ở một phần sau.

Ở đây, chúng tôi lấy làm thú vị khi thấy YChi nhận định:

“Nhân đây nói luôn thể, nếu là phê b́nh văn nghị luận Việt Nam, th́ YChi hoàn toàn đồng ư với lời phê b́nh thói quen viết lem nhem của người Việt. Không dám nói đến giới sinh viên học sinh Việt Nam (v́ YChi chỉ có kinh nghiệm cá nhân với một số sinh viên Việt Nam trong trường ḿnh thôi, không đủ để kết luận), chứ với sách khảo cứu th́ thật phải nói là YChi có đầy kinh nghiệm thương đau.”

Chúng tôi thú vị nhất khi thấy YChi cho rằng kiểu “viết lem nhem” trong văn nghị luận Việt Nam là một “thói quen”. Chúng tôi tự hỏi: Xuất phát điểm của một thói quen viết lách của nhiều người là ǵ? Phải chăng nó là một quan điểm thẩm mỹ nào đó chấp nhận tính chất lem nhem trong văn chương?

II.

YChi đặt câu hỏi:

“Lại như câu đầu tiên trong bài hai anh nhận định về “phần lớn học sinh và sinh viên Việt Nam”, câu nhận định rộng răi như thế đ̣i hỏi hai anh phải đă từng đọc một số lượng đáng kể về văn nghị luận của sinh viên học sinh Việt Nam trong và ngoài nước, chứ không chỉ căn cứ trên số lượng bài vở mỗi năm chấm cho các cô cậu sinh viên Việt Nam nơi các anh giảng dạy. Đúng không?”

Khi chúng tôi cho rằng “phần lớn” (chứ không phải “tất cả”) học sinh và sinh viên Việt Nam, khi viết văn nghị luận, “thường” (chứ không phải “luôn luôn”) vấp phải những khuyết điểm khá giống nhau”, chúng tôi đă căn cứ trên các cơ sở sau đây:

1. Suốt gần 15 năm giảng dạy trong và ngoài nước, chúng tôi vẫn không ngừng phải đối diện với khuyết điểm này của học sinh và sinh viên. Khuyết điểm này không chỉ là một loại triệu chứng có thể chữa trị dễ dàng, mà là một vấn đề gai góc trong công tác luyện văn. Nếu YChi muốn chúng tôi phải đưa ra một thứ statistics nào đó để chứng minh cho hai chữ “phần lớn”, th́ thực sự không phải chúng tôi không làm được. Để lập một sample cho điều này th́ dễ lắm. Chắc YChi cũng biết rơ rằng để thăm ḍ mức độ hưởng ứng của cử tri đối với các đảng chính trị, hay để thăm ḍ sở thích của quần chúng đối với một mặt hàng, các nhà khoa học thống kê chỉ cần tham khảo vài ngàn người là đă ước lượng được tỷ lệ các ư kiến. Mỗi năm, chúng tôi phải tiếp xúc và đánh giá trực tiếp (chứ không phải chỉ tham khảo) hằng trăm học sinh và sinh viên, và nếu năm nào số lượng người viết nghị luận ḷng ṿng cũng chiếm tỷ lệ quá lớn, th́ trong gần 15 năm như thế, chúng tôi đă có thể lập một sample có một mức độ khả tín nào đó trên tổng số hàng ngàn học tṛ. Chứ sao không?

Chúng tôi không thể thờ ơ hay dại dột đến độ, sau gần 15 năm phải đối diện trực tiếp với một hiện tượng như thế, mà vẫn tỉnh bơ cho rằng chưa chắc ǵ “phần lớn” học sinh và sinh viên đă mắc phải cái tật đó. Không, chúng tôi phải cảm thấy càng lúc càng khổ tâm hơn nếu hết năm này đến năm khác cái tỷ lệ quái ác ấy vẫn không giảm xuống. Đây là một vấn đề hệ trọng trong nghề nghiệp của chúng tôi, chứ nào phải chuyện đùa.

2. Không phải chỉ có cá nhân chúng tôi nh́n thấy vấn đề này, mà trước chúng tôi, rất nhiều chuyên gia quốc tế đă nh́n thấy và đă thực hiện nhiều công tŕnh nghiên cứu sâu rộng. Tầm nghiên cứu của họ không chỉ tập trung vào tật hành văn nghị luận ḷng ṿng của sinh viên Việt Nam mà gồm cả sinh viên một số nước Á Châu khác. Nếu YChi chịu khó đọc kỹ bài viết của chúng tôi, YChi sẽ thấy chúng tôi đă nêu lên một số tài liệu nghiên cứu quan trọng của một số chuyên gia quốc tế. Sớm nhất và có tầm ảnh hưởng lớn nhất là công tŕnh nghiên cứu của giáo sư Robert B. Kaplan thuộc đại học Southern California công bố vào năm 1966 (đối tượng của cuộc nghiên cứu này là những luận văn của sinh viên đến từ nhiều quốc gia khác nhau, trong đó có cả sinh viên Việt Nam). Sau đó, khai triển nhận xét của Kaplan, các học giả khác (trong số đó có E. Fagan, P. Cheong và Ilona Leki) tiếp tục khảo cứu và đưa ra nhiều công tŕnh khác vào những năm 1980. Thú vị nhất là các công tŕnh nghiên cứu của giáo sư Greg Ellis thuộc University of Melbourne. Ông đă trải qua nhiều năm nghiên cứu tại các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh. Ông xuất bản rất nhiều tác phẩm nghiên cứu văn hoá về cách suy nghĩ, ứng xử và diễn đạt của sinh viên Việt Nam. Riêng trong luận văn “Contrasts in the Rhetorical Styles of Vietnam and the West” (Asia-Pacific Exchange Journal, Vol.3, Nọ1), ông c̣n đưa ra và phân tích cụ thể một số bài nghị luận đặc thù của sinh viên Việt Nam. Đọc mà chết cười.

V́ giới hạn của bài viết, chúng tôi đă không thể tái tŕnh bày tất cả những công tŕnh nghiên cứu của các chuyên gia quốc tế về cách viết văn nghị luận của sinh viên Việt Nam và Á Châu. Nếu YChi thực sự muốn nghiên cứu sâu rộng về đề tài này, chúng tôi sẽ giúp YChi thu thập tất cả những tài liệu cần thiết.

3. Chúng tôi muốn nói thêm và nhấn mạnh rằng khuyết điểm của học sinh và sinh viên Việt Nam là hậu quả của việc học tập từ những cuốn sách nghị luận của các bậc thầy của họ. Chúng tôi đă đọc kỹ phần lớn khối lượng sách nghị luận xuất bản ở trong và ngoài nước từ trước đến nay, và đă nhận thấy khuyết điểm ấy hết sức rơ ràng và phổ biến.

III.

YChi viết:

“Văn nghị luận th́ chẳng phải văn chương. YChi nói văn chương đây là văn chương theo nghĩa dùng bây giờ, không phải cái nghĩa nguyên thủy như các anh kỹ lưỡng dẫn giải. Văn chương mà Pháp gọi là Belle Lettres [sic]. Khi người Pháp họ đem từ Đẹp (Belle) ra để cạnh từ Chữ (Lettre) th́ YChi nghi rằng họ cũng đánh giá cái đẹp cao lắm trong quan niệm văn chương, đâu như cũng giống người Việt ḿnh. Nhưng văn nghị luận th́ làm ǵ có cái đẹp trong đó. Văn nghị luận chuộng sự rành mạch, có thứ tự lớp lang. Cho người đọc có thể đọc vội mà vẫn nắm được ư chính. Thêm vào cách lập luận cẩn trọng, có tính thuyết phục cao, thế là thành công. Không làm ǵ có cái đẹp trong thể văn nghị luận. Thể văn này tối kỵ phong thái tự do tùy hứng của văn chương.”

YChi ơi, ai bảo văn nghị luận chẳng phải là văn chương? Dường như YChi (cũng giống như nhiều người Việt khác mà chúng tôi đă gặp) muốn cho rằng văn chương mà không lả lướt, mơ hồ, lăng mạn, ơng ẹo, ṿng vèo, sướt mướt, du dương... th́ không phải là văn chương chăng?

Cách đây gần 2 năm, có một nhà văn lăo thành của ta đă viết một bài tranh luận văn học, trong đó, ông phán rằng: “Nhà phê b́nh văn học không phải là nhà văn”. May thay, trước khi tạp chí lên khuôn, ông đă tự phát hiện sai lầm ấy và vội vă xoá mệnh đề ấy đi. Nếu không, th́ chắc ông phải ... bị nhức xương lắm.

Nếu có chút xíu th́ giờ, YChi thử giở bộ bách khoa hiện nay hết sức phổ thông Encyclopeadia Britannica, phần Macropeadia, mục “The Art of Literature”, th́ sẽ thấy ngay rằng nghị luận phê b́nh văn học (literary criticism) và ngay cả các luận văn nghiên cứu lư thuyết văn học (theoretical treatises) cũng là văn chương cơ mà. Hăy đọc một đoạn ngắn:

“Literary criticism [...] is usually itself considered a form of literature. Some people find great critics as entertaining and stimulating as great poets, and theoretical treatises of literary aesthetics can be as exiting as novels.”(Encyclopeadia Britannica, 1986 edition, Vol. 23, p.94)

YChi ơi, “văn chương theo nghĩa dùng bây giờ” là văn chương thế nào? Là văn chương theo khái niệm belles-lettres có từ đầu thế kỷ 18 sao? Mà ai bảo belles-lettres là không bao gồm nghị luận? Đâu cần phải xem chữ đoán ư chi cho nhọc, mà lại dễ sai lầm. YChi chỉ cần giở một bộ từ điển có uy tín nào đó ra (chẳng hạn bộ The Oxford English Dictionary luôn có sẵn tại các thư viện ở Úc) là thấy ngay rằng thuật ngữ belles-lettres bắt đầu phổ thông ở Âu Châu từ 1710. Louis Le Blanc tung ra cuốn L’étude des belles-lettres năm 1712; và theo Dictionnaire de la l angue francaise của Émile Littré th́ belles-lettres bao gồm grammaire, rhétorique, và poésiẹ Trong đó, grammaire và rhétorique lại là những cơ sở chủ yếu để tạo nên cái đẹp của văn nghị luận.

Cái đẹp của belles lettres là cái đẹp thuần túy văn chương, cái đẹp được t́m thấy chính trong nghệ thuật đặt câu, dùng chữ (lettres) của một tác phẩm, chứ không phải là những cái “đẹp” được t́m thấy ở sự ích lợi mang tính xă hội học, đạo đức học, hay ở nội dung mang tính thông tin của một tác phẩm như nhiều người lầm tưởng. Trong belles lettres, cái đẹp thuần túy văn chương bao hàm cả cái đẹp mang tính cách Apollo của văn nghị luận, và cái đẹp Dionysus của thơ ca.

YChi viết: “Văn nghị luận chuộng sự rành mạch, có thứ tự lớp lang. Cho người đọc có thể đọc vội mà vẫn nắm được ư chính. Thêm vào cách lập luận cẩn trọng, có tính thuyết phục cao, thế là thành công.” Vậy là kẹt nữa rồi. Phải nói là văn nghị luận mang tính cách “mạch lạc” (tiếp nối theo một trật tự hợp lư giữa các ư, các phần trong cách diễn đạt), chứ không phải “rành mạch”. Lại nữa, tính cách mạch lạc của mỗi bài nghị luận có một trật tự hợp lư của riêng nó, tùy theo nhu cầu khai triển của mạch ư tưởng của tác giả, chứ không thể tuân theo một loại thứ tự lớp lang cứng ngắt sẵn có nào cả. Mạch ư tưởng của tác giả càng sâu rộng, cấu trúc của tác phẩm càng phải phức tạp, ngôn từ càng phải tinh xảo. Bởi thế, ngoại trừ những bài nghị luận quá đơn giản thường thấy trên báo chí hàng ngày, người đọc không dễ ǵ “có thể đọc vội mà vẫn nắm được ư chính”, không dễ ǵ nh́n thấy sự mạch lạc tuyệt vời của những thiên nghị luận sâu sắc và phức tạp. Chúng ta không dễ ǵ đọc mà hiểu ngay các nghị luận dù rất xa xưa như của Aristotle hay Longinus, hoặc rất mới mẻ như của Barthes hay Calvino. Đa số những thiên nghị luận thượng hạng đọc nhức đầu lắm. Ngồn ngộn tri thức. Trùng trùng lư luận. Người đọc phải cố gắng vượt qua cái rừng tri thức và lư luận, xuyên qua cái tế vi của ngôn từ; và đến khi hết nhức đầu th́ mới thấy nó hay, nó đẹp đến chừng nào.

IV.

YChi viết:

“Thôi, bây giờ dẹp hẳn văn nghị luận sang bên, trở về cái đẹp và thẩm quan của giới thưởng ngoạn văn chương Việt Nam. Văn chương là đẹp

“Tuy nhiên, nếu đem so sánh với khái niệm khoa học văn chương (vâhityavidyâ) của Ấn độ hay ‘literature’ của Tây phương, khái niệm ‘văn chương là đẹp’ của ta hàm chứa những cái bẫy rất nguy hiểm. Thứ nhất, nó đầy tính chủ quan”.

Ô, lại ngứa. Có ai nói đến cái đẹp khách quan chưa? [...] Thế nào là cái đẹp khách quan?”

YChi ơi, căn cứ theo văn mạch của bài viết, th́ nhóm chữ “tính chủ quan” chúng tôi dùng ỡ đây không nhằm nói về một “cái đẹp chủ quan” hay “cái đẹp khách quan” nào cả. Chúng tôi nói về tính chủ quan (hay có thể nói, tính hàm hồ) trong cách hiểu khái niệm cái đẹp trong phạm vi văn chương. Chúng tôi thấy khái niệm cái đẹp thường được hiểu rất tùy tiện, hàm hồ và phi văn học trong giới viết và đọc của ta. YChi thử đọc đa số những bài b́nh luận thơ văn nhan nhản trong và ngoài nước sẽ thấy rằng các nhà b́nh luận của ta thường “chủ quan” đến độ nhiều khi không màng đến cái đẹp ngôn từ của tác phẩm, mà cứ thao thao bất tuyệt về những cái “đẹp” (trật đường rầy) ra khỏi phạm vi văn chương. YChi trích ngang xương như thế, nên độc giả đâu ngờ rằng chúng tôi đă giải thích cái “tính chủ quan” ấy được thể hiện ra sao. Chúng tôi đă viết tiếp rằng:

“Thứ hai, cũng v́ chủ quan nên nó dễ bị thiên lệch theo những cách hiểu khác nhau về nội dung khái niệm “đẹp” và đặc biệt về đối tượng của cái đẹp. Văn chương là đẹp, nhưng cái ǵ đẹp trong văn chương? Tùy từng người, từng khuynh hướng và từng thời đại khác nhau, chúng ta có những câu trả lời khác nhau, thậm chí trái ngược hẳn nhau: có khi người ta cho cái đẹp trước hết phải ở cảm hứng và cảm xúc trong tác phẩm; có khi người ta lại cho cái đẹp trước hết ở trong nhân cách của tác giả; có khi người ta lại cho cái đẹp nằm ở tác dụng của nó đối với người đọc: tác phẩm được xem là hay khi nó kích động tâm hồn của người đọc theo một chiều hướng t́nh cảm nhất định nào đó. Duy có điều rất hiếm khi người ta cho cái đẹp của văn chương là ở ngôn ngữ.”

YChi lại viết: “Lại nữa, thế nào là cái đẹp của ngôn từ khi tất cả cần phải rơ ràng mạch lạc, nói ư nào rơ ư đó, không nói quanh, không ẩn ư?”

Trong suốt cả bài viết, đâu có chỗ nào chúng tôi lại phán một câu kỳ cục như vậỵ Chúng tôi chỉ muốn nêu lên nhận xét rằng, có thể v́ ta thường có quan niệm rất tùy tiện về cái đẹp trong văn chương, nên hậu quả có thể là: 1/ trong văn chương nghị luận (là chỗ cần mạch lạc, cần tính hùng biện) th́ mắc cái tật mơ hồ và ṿng vo, và tưởng như thế là “đẹp”; 2/ trong thơ (là chỗ tự do vô hạn cho nghệ thuật ngôn từ) th́ lại đi t́m những cái “đẹp” trật đường rầy ra khỏi nghệ thuật ngôn từ.

Mới nhắc có mấy điểm mà bài đă dài quá rồi c̣n ǵ. Đành phải dừng vậy. Tuy nhiên, trước khi dừng bút, chúng tôi nghĩ cũng nên chép lại đây một đoạn văn của YChi mà chúng tôi đă đọc đi đọc lại nhiều lần vẫn chưa hiểu ư. YChi viết:

“Đương nhiên nền văn học Việt Nam cần phải trưởng thành. Nhưng một ngườ́ muốn trưởng thành đă khó, nói chi một nền văn học. YChi nói cho quan niệm của riêng YChi thôi, chẳng khách quan khoa học ǵ cả. Khi có ai ngă, YChi thấy cách giúp hay nhất là nâng từ phía dưới nâng lên, không nhắm từ trên mà đập xuống. Nói th́ nghe đơn giản, thật sự bao gồm biết bao nhiêu là mâu thuẫn đời này kiếp nọ. Người ngă th́ thế, dân tộc ngă th́ sao? Đâu phải thái độ cúi ḿnh xuống nâng lên nào cũng là thái độ khiếp nhược?”

Chúng tôi không hiểu rằng một nền văn học đang cần phải trưởng thành th́ có ǵ khiến một dân tộc phải ngă. Chúng tôi cũng không hiểu rằng có ai vĩ đại đến độ có thể cúi ḿnh xuống nâng cả một dân tộc lên, hoặc vĩ đại đến độ đủ sức đứng trên mà đập xuống. Chúng tôi cho rằng kẻ nghĩ ḿnh đủ sức đứng trên mà đập xuống cả một dân tộc đang ngă là kẻ mắc bệnh megalomania ở thời kỳ quá trầm trọng. C̣n kẻ nghĩ ḿnh đang khiêm tốn cúi xuống để nâng một dân tộc lên lại là kẻ cũng mắc bệnh ấy mà không c̣n thuốc nào chữa nổi. Trong hai kẻ này, không kẻ nào tàn ác hay khiếp nhược cả, họ chỉ điên thôi.

YChi viết đoạn này giống như đang sáng tác văn chương hư cấu. Dù là chuyện khó có thật, và khó hiểu nữa, nhưng đọc rất vui. Cảm ơn YChi nhiều nhé.

HOÀNG NGỌC-TUẤN
Sydney, 11/4/2000



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home