“ VIỆT NAM: NH̀N NGOÀI KHUÔN KHỔ”
Đào Trung Đạo



Đại Học Michigan ở Mỹ, nơi xuất thân của những nhà văn nhà thơ tên tuổi như Arthur Miller, Joyce Carol Oates, Philip Levine, vừa cho ấn hành số Quư San Mùa Thu 2004 với chủ đề “Việt Nam: Beyond the Frame” và cũng loan báo số kế tiếp Quư San Mùa Xuân 2005 sẽ là số thứ hai mang cùng một chủ đe.à Tờ Quư San của đại học Michigan từ lâu vẫn được coi là một tạp chí không những có uy tín trong giới nghiên cứu và giảng huấn mà c̣n được giới độc giả bên ngoài đại học ưa chuộng. Số Quí San Mùa Thu này do Barbara Trần chủ biên và số Mùa Xuân sẽ do Rebeka Collins đứng chủ biên.

Như trong bài Lời Mở Đầu người chủ biên nêu rơ mục đích của tờ Quư San khi đưa ra chủ đề Việt Nam là có ư định đem lại cho độc giả và những nhà nghiên cứu về Việt Nam ở Mỹ một cái nh́n khác với những h́nh ảnh, những thông tin do giới truyền thông chịu ảnh hưởng sức ép của quyền lực chính trị từ nhiều phía trước đây. Có thể nói những bài viết, những h́nh ảnh về Việt Nam được lưu hành lâu nay là những thông tin đóng khung nhận thức, tạo nên thói quen nh́n Việt Nam chỉ giới hạn trong một giai đoạn của cuộc chiến tranh 1945- 1975. Hơn thế nữa, cuộc chiến tranh ấy lại chỉ được mô tả từ hai góc nh́n, hoặc của Mỹ hoặc của Miền Bắc Việt Nam. Như vậy, ít nhất là về mặt thông tin và nhận thức, sự thực chưa được nh́n đầy đủ. Việt Nam không thể được đồng nghĩa với cuộc chiến tranh đó. Một câu hỏi khác được đặt ra: Việt Nam sau cuộc chiến tranh đó như thế nào? Tuy không có tham vọng nói lên hết được sự thật v́ “sự thật không phải là một cái ǵ có thể chỉ một lần đă nắm bắt được, đă sở hữu được.” Nói thế không phải là khẳng định không có hy vọng t́m ra sự thực, nhưng để nhấn mạnh tới nỗ lực không ngừng t́m kiếm sự thực, như người chủ biên Barbara Trần đă nêu ra trong Lời Mở Đầu.

Tờ Quí San gồm 250 trang chữ cộng thêm 8 trang phụ bản mầu. Những trang phụ bản này in trên giấy láng là những tác phẩm của nhiếp ảnh gia trẻ tuổi Binh Danh sử dụng kỹ thuật âm bản cho người xem thấy lại những h́nh ảnh về cuộc chiến ba mươi năm ở Việt Nam có thể ḿnh đă từng nh́n được in trên những chiếc lá. Tám trang phụ bản này được xếp ở giữa ḷng tờ quư san. Cho nên, một cách vô t́nh hay cố ư phụ bản đă chia tờ quư san ra hai phần. Chúng tôi nhận thấy phần đầu nghiêng về văn sáng tác, c̣n phần sau nặng về khảo cứu. Những tác giả có bài được chọn đăng trong số đặc biệt này phần lớn là những nhà văn, nhà thơ, học giả đă tạo được tên tuổi trong giới sáng tác và nghiên cứu về Việt Nam ở Mỹ. Thiết tưởng cũng nên nói thêm về người chủ biên Barbara Trần: Cô là một thi sĩ, tác giả tập thơ “In the Mynah Bird’s Own Words” đă được trao giải thưởng của nhà xuất bản Tupelo Press. Barbara Trần xuất thân Đại-học Columbia, đồng chủ biên với Monique Trương và Lưu Trường Khôi tuyển tập “Watermark: Vietnamese American Poetry and Prose” được đánh giá cao trong giới nghiện cứu và giảng dậy Văn Chương Việt Nam ở Mỹ. Như vậy có thể nói Barbara Trần là một người chủ biên có uy tín.

Phần đầu của tờ quư san gồm có truyện ngắn của Aimee Phan, thơ xuôi của Dinh Linh, truyện ngắn “A Gift from the 13th Battalion” của Matt Friedson, đoản văn của Thuong Vuong Riddick, truyện ngắn của Christian Langworthy và Trần Vũ...Trong phần này truyện “Tặng Phẩm từ Tiểu đoàn 13” có thể coi là một truyện ngắn xuất sắc. Tác giả kể lại kư ức về cuộc chiến tranh đă qua của hai người bạn đồng đội trước đây nay gặp gỡ nhau trong một hoàn cảnh dễ gây nên bi kịch: giờ đây một người là kẻ đi chào hàng bán máy lạnh và người kia là một kẻ có chức quyền của công ty VinaPlatiCo có khả năng đatë mua hàng. Trong hoàn cảnh này tuy những kư ức về t́nh đồng đội được cả hai nhắc tới, nhưng một người th́ muốn kết thúc những kỷ niệm cũ c̣n người kia lại cảm thấy ê chề mỗi khi nh́n thấy hay nhắc lạo cái kư ức đó. Giữa kư ức đồng đội trong chiến tranh và áp lực của nền kinh tế thị trường mới, biên giới của t́nh chiến hữu và hành xử để tồn tại đă đẩy hai người bạn cũ xa cách nhau.

Phần sau gồm có truyện ngắn của Bruce Weigl, thơ của Barbara Trần và của Walt McDonald, bút kư chiến tranh của Sarah Gail Johnson, biên khảo “Tôi đă khởi sự giảng dạy về Chiến Tranh Việt Nam như thế nào” của Keith W. Taylor, Indigo A. Williams Willing đứng trên quan điểm nghiên cứu văn hóa bàn về những trở ngại của những trẻ mồ côi Việt nay đang trưởng thành ở Mỹ, truyện ngắn “Nh́n Lại Douala Lần Cuối” của Trần Diệu Hằng do Giáo-sư Trần Quư Phiệt dịch sang Anh văn, truyện ngắn “Real and Flawed” của Monique Trương (Monique Truong cũng là tác giả của tiểu thuyết “Book of Salt” (Sách Muối) được coi là một trong những cuốn tiểu thuyết đặc sắc nhất của năm 2003 xuất bản ở My)ơ, đoản văn viết về cảm nghĩ của của một bé gái Việt Nam được nhận làm con nuôi từ khi mới 5 tuổi nay trở về quê hương của Sibley Quư Thị Baigent. bài nghiên cứu công phu của Jack A. Yeager về nhà văn Việt Nam viết bằng Pháp văn Phạm Văn Kư, phần “Điểm Sách” Philip D. Beidler nhân điểm quyển tiểu thuyết mới có liên hệ tới Việt Nam tựa đề “Rouenna” của Sigrid Nunez và Isabele Thuy Pelaud phê b́nh tập thơ xuôi “dust and conscience” của Truong Tran. Trong phần này bài viết về cuộc chiến tranh của Keith Taylor được coi là đặc sắc nhất. Keith Taylor là cựu chiến binh Việt Nam, tiến sĩ sử học, biết nói và đọc tiếng Việt, đă để ra nhiều năm nghiên cứu Lịch sử và Văn chương Việt Nam, đă sống ở Hà Nội từ 1992 đến 1994, và hiện là giáo sư Sử ở Đại-học Cornell. Bài viết của ông đưa ra một quan điểm mới mẻ về sự tham dự của nước Mỹ vào Việt Nam dựa trên những sử liệu đáng tin cậy cho thấy những quyết định sai lầm của các chính quyền Mỹ từ thời Kennedy trở về sau khi giải quyết những bài toán chính trị và quân sự.

Nh́n chung, số đặïc biệt về Việt Nam Quư San Michigan Mùa Thu 2004 là một tài liệu có giá trị cả về mặt văn chương lẫn nghiên cứu kinh điển. Chúng tôi mong sẽ có dịp tiếp tục giới thiệu Quư San Michigan Số Mùa Xuân “Viet Nam: Beyond the Frame” trong một kỳ tới.

* (Viet Nam: Beyond the Frame) Qúy san của đại học Michigan (Michigan Quartely Review)

Quí San Michigan Mùa Xuân 2005

Phần đầu của bài này là Quí San Michigan Mùa Thu 2004 đặc biệt với chủ đề “Việt Nam: Nh́n Ngoài Khuôn Khổ” do Barbara Trần chủ biên. Lần này chúng tôi xin tiếp tục giới thiệu số đặc biệt Quí San Michigan Mùa Xuân 2005 do Rebekah Linh Collins đứng chủ biên với cùng một chủ đề và cũng là phần thứ hai kết thúc đề án của Ban Chủ biên của Michigan Quartely Review đă đưa ra.

Số Quí San Michigan Mùa Xuân 2005 ra mắt vào cùng thời của những sinh hoạt như: kỷ niệm 40 năm sự cam kết chính thức với sự có mặt của luc quân Mỹ ở VN, kỷ niệm 30 năm chấm dứt chiến tranh, và kỷ niệm 10 năm khởi đầu mối bang giao Mỹ-Việt.

Cũng trong Mùa Xuân này những cuộc hội thảo về những vấn đề do cuộc chiến tranh Việt Nam đặt ra sẽ được tổ chức ở Đại Học Newcastle bên Úc, ở Texas Tech University, và tại Đại Học Reverside thuộc tiểu bang California qui tụ nhiều học giả, nhà văn, và các nghệ sĩ đến từ nhiều nơi trên thế giới.

Trong bài “Nhập Đề” Rebekah Linh Collins xác định “Việt Nam: Nh́n Ngoài Khuôn Khổ” là “một thành phần cốt tủy của việc chúng ta tính sổ, cứu xét lại, và suy nghĩ lại về bản thân ḿnh trong cuộc chiến này và như một kết quả của cuộc chiến.” V́ nếu như Việt Nam không chỉ là một cuộc chiến th́ Việt Nam cũng không chỉ là một cuộc chiến của chúng ta. Nói vậy cũng có nghĩa là: những câu chuyện về Việt Nam có liên hệ tới rất nhiều người mà sự hiểu biết của chúng ta c̣n rất hạn hẹp, c̣n bị đóng khung.

Nhận định về những đ̣i hỏi của thị trường xuất bản sách báo ở Mỹ, Rebekah Linh Collins nhận định: Với những tác giả Mỹ gốc Việt ở Mỹ, người ta muốn tác phẩm của họ phải vừa có “chất Việt” vừa có “chất Mỹ”. Với những tác giả Việt ở trong nước nếu sách của họ muốn được phiên dịch và xuất bản chúng cần đáp ứng được những đ̣i hỏi về xă hội, chính trị, và văn chương ở Mỹ. Chủ trương của tờ Michigan Quartely Review ngược lại với cả hai điều trên: Bài của các tác giả như Viet Dinh, Bao Phi, Ben Tran, Monique Truong, Christian Langworthy, Sibley Quy Thu Baigent v.v...trong hai số Mùa Đông và Mùa Thu là những bài viết độc đáo nhằm phá bỏ qui định chúng phải đáp ứng được tính đồng nhất như thị trường xuất bản đ̣i hỏi. C̣n những bài viết của các tác giả trong nước được chọn đăng trong hai số báo này không những bất chấp những đ̣i hỏi đă nêu ở trên mà c̣n chống lại một giả định sai lầm là tác phẩm của họ phải nói lên tính “phi thời gian” (timelessness)- nghĩa là Việt Nam trước và sau chiến tranh không có ǵ thay đổi, một quan niệm thường thấy trong những tác phẩm của một số nhà văn Mỹ viết về Việt Nam.

So với số Mùa Thu 2004, số Mùa Xuân 2005 Michigan Quartely Review nặng phần sáng tác hơn phần luận văn. Về phía những tác giả ở Mỹ có: thơ của John Balaban, W.D. Ehrhart, Walt McDonald, Jilly Dybka, Barbara Tran, Bruce Weigl, Preston H. Hood III, Ben Tran, Bao Phi, Catherine K.H.N Magia; về văn xuôi có một bài kư khá độc đáo của Wayne Karlin tựa đề “Một sự khủng hoảng tinh thần bị cường điệu hóa,” bài viết về những đổi thay diễn ra ở thủ đô Hà Nội của một người Mỹ gốc Việt Andrew Wells-Dang đă sống ở đó từ 1997 đến nay, truyện ngắn “Rabbit-in-the-Moon” (Chú Thỏ Trên Cung Trăng) của Viet Dinh, truyện ngắn “ My First Job After the War” (Việc Làm Đầu Tiên Sau Chiến Tranh của Tôi) của Dennis Kistler, truyện ngắn “A Revolting Character” (Một Nhân Vật Nổi Loạn) của Ben Tran, truyện “Same Same But Different” (Cùng Cùng Nhưng Lại Khác) của Lee Minh McGuire, bài viết về hội họa Việt Nam của Nora Taylor và về Tân Nhạc của Eric Henry, Peter Zinoman dịch bài phỏng vấn nhà văn Vũ Trọng Phụng của Lê Thanh năm 1937, đoản văn viết về Hội An của Tom Nawrocki, Alex Wood viết về mưa trên đồng bằng sông Cửu Long với ẩn dụ những giọt nước mưa trong lành sẽ rửa sạch, làm lu mờ những vết thương Việt Nam từ lâu chúng ta c̣n mang nặng cả trong tâm hồn lẫn trên thể xác.

Phần đóng góp bài vở từ trong nước có: thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ, Truyện của Lư Lan, Lê Minh Khuê, Doan Le, Nguyen Viet Ha, và một bài viết “Hà Nội Phở” của Dương Bích Hạnh nói về những sự đổi thay về Phở ở thủ đô sau khi chiến tranh chấm dứt.

Phần cuối cùng của số Quí San dành cho mục “Điểm Sách” gồm bài của Quang Phu Van điểm cuốn “Ca Dao Viet Nam-Vietnamese Folk Poetry” do John Balaban dịch và giới thiệu, Boreth Ly điểm quyển “Painters in Hanoi: An Ethnography of Vietnamese Art” của Nora Annesley Taylor, và sau hết Christian Langworthy viết về tập Thơ “ In the Mynah Bird’s Own Words” của Barbara Tran.

Nh́n chung, số Michigan Quartely Review Mùa Xuân 2005 (phần 2 của chủ đề “Viêt Nam: Nh́n Ngoài Khuôn Khổ” là một công tŕnh văn học thực hiện đúng đắn tiêu chí đa dạng, tiếp cận hiện thực hôm nay, không đóng khung trong những rào cản về nhận thức, xă hội, và chính trị.

Người chủ biên Rebekah Linh Collins đă thực hiện được mục tiêu này v́ cô tin tưởng rằng những tác phẩm văn học nghệ thuật điện ảnh luôn luôn là những nỗ lực lớn lao vừa để hồi ức vừa để lăng quên. Nói cách khác, bản viết sẽ vượt lên trên những biên giới về văn hóa và chính trị theo một cách thế mà cá nhân mỗi người thường không thể làm được.

Cùng trong ư tưởng đó nhà văn Salman Rushdie, tác giả “Những Vần Thơ của Quỉ” từng phát biểu: “Nhà văn là những công dân của nhiều xứ sở: hắn là công dân của một xứ nhất định tuy biên giới bị đóng kín nhưng hiện thực và đời sống hàng ngày có thể quan sát được, và hắn cũng c̣n là công dân của một vương quốc không biên giới của trí tưởng tượng, của một vùng-đất- nửa-mất-nửa-c̣n của kư ức.”

ĐÀO TRUNG ĐẠO
Tháng 7/02



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home