VĂN CHƯƠNG DI DÂN
VIẾT VỀ QUÊ HƯƠNG
TỪ BÊN NGOÀI
Đào Trung Đạo



Viết về quê hương từ ngoài nước, dù viết bằng tiếng mẹ đẻ hay bằng một ngôn ngữ thứ hai như Pháp hay Anh ngữ, nhà văn phải đối diện với hai câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất là: viết cho ai đọc? Câu hỏi thứ hai: từ một khoảng cách xa ngoài quê hương, thực tại quê hương mô tả trong tác phẩm bạn có tính trung thực không so với sự mô tả thực tại đó của những người viết đang sinh sống ở quê nhà? Và cuối cùng là vấn nạn thứ ba: Là di dân dĩ nhiên có một bản ngă văn hóa lai (hybrid), là một chuyển-ngữ-nhân (translated wo/man) khi viết về quê hương cũ của ḿnh bạn đứng ở vị trí nào để viết?

Về câu hỏi thứ nhất (cũng là một câu hỏi đặt chung cho tất cả các nhà văn chứ không chỉ riêng cho nhà văn di dân, nhưng nó) có tính cách cấp thiết hơn đối với một nhà văn di dân, nhất là người đó lại viết bằng tiếng mẹ đẻ. Có nhiều giải đáp thường nhằm trả lời trực tiếp vào hai từ 'cho ai' với 'ai' ở đây được hiểu là người đọc (loại độc giả nào, có tŕnh độ văn hóa ở mức nào, thuộc nền văn hóa và chủng tộc nào v.v..) nên hay đi vào ngơ bí hoặc thiếu tính thuyết phục. Ta đă có hướng giải đáp theo những luận thuyết về đọc văn như của những người theo quan điểm độc giả-ứng xử (reader-response), cấu-thức-luận, học thuyết của Wolfgang Iser hay quan điểm của Stanley Fish v.v.. nhưng nói chung vẫn c̣n cứu xét vấn đề trên tuyến nhị nguyên chủ thể-đối tượng (subject-object) những học thuyết này vẫn chỉ t́m giải đáp trên tuyến nhị nguyên chủ thể/đối tượng mà chủ thể ở đây là chủ thể viết (nhà văn) và đối tượng là người đọc. Nếu nay ta chuyển hướng câu hỏi, không đi t́m một đối tượng bên ngoài bản văn và trả lời gián tiếp câu hỏi 'cho ai', nh́n sâu vào đối tượng sáng tác trong văn bản và trong kinh nghiệm của chủ thể viết thay v́ nhằm đối tượng ngoài văn bản (người đọc) ta sẽ tiếp cận được kinh nghiệm cụ thể của nhà văn trước khi lập thuyết. Trong trường hợp của nhà văn di dân, v́ tính cấp thiết của câu hỏi nên khả tính của câu trả lời sẽ vượt tính cá biệt sang phổ quát hơn.

Theo Salman Rushdie, là một nhà văn di dân, ttrước khi trả lời câu hỏi này ta phải triệt bỏ thái độ tự vây bủa ḿnh trong những biên giới văn hóa đă định sẵn, tự ư giam ḿnh dưới h́nh thức lưu đày nội tâm trong một thứ 'quê nhà' rất nhà quê. Thái độ giam ḿnh trong cái cộng đồng xa xứ này cũng đưa đến tinh thần ghetto, quên khuấy mất rằng bên ngoài cộng đồng ḿnh sống c̣n có một thế giới mênh mông sinh động. Khi viết tiểu thuyết Salman Rushdie không có ư định viết cho người Anh, Mỹ, độc giả của một xứ dùng Anh ngữ hay cho người Aán, Hồi. Một cách tổng quát, khi viết không bao giờ trong tâm trí ông có h́nh bóng một người đọc. Khi đă có trong tay những ư tưởng, những con người, những biến cố, những h́nh dạng ông viết 'cho' những thứ đó với hy vọng khi tác phẩm hoàn thành sẽ được những ai muốn t́m hiểu về chúng đọc; những ai ở đây chính là những người hoặc có cùng hoặc chia xẻ kinh nghiệm với ông về những ư tưởng, biến cố, con người..... đó hoặc cũng có thể là những người đọc ông có thể vươn tay đến với họ được.

Trong trường hợp Ha-Jin ta thấy rơ ràng khi ông viết văn không phải ông nhất thiết phải cố t́nh viết cho độc giả Mỹ (chắc đâu độc giả Mỹ sẽ đọc ḿnh?) hay Tàu (may lắm một số nhỏ người Hoa ở Hồng Kông, Đài Bắc có thể sẽ t́m đọc, chứ chẳng hy vọng sách qua khỏi được cửa ngục để lọt vào nội địa đến với độc giả trong nước.)

Viết về quê hương từ bên ngoài quê hương: được không? Sáng tác văn chương không thể được đồng hóa với sự sao chép, chụp h́nh thực tại. Viết tiểu thuyết là làm sống lại những con người, những cảnh trí, những tiếng nói, những biến cố nhà văn đă trực/gián tiếp dự phần: đó là những thực tại trong lâu đài quá khứ. Viết về những thực tại ḿnh đă đánh mất, đă thất lạc. Thế giới quá khứ là thế giới đă nứt rạn, vụn gẫy, thiếu hụt. Nếu nhà văn có t́m cách kiểm tra cái tri giác về thế giới quá khứ đó của ḿnh bằng những nghiên cứu, sưu khảo, khai quật hay trở lại quan sát thực cảnh hiện tại th́ cũng sẽ thấy hoặc là những tài liệu nghiên cứu đó cũng chỉ là một trong nhiều cách mô tả thực tại hoặc mọi sự ngày nay đă hoàn toàn thay đổi rồi.

Nói cho cùng, nếu một người viết đang sống trong ḷng quê hương có mô tả cái thực tại trước mặt th́ điều dễ hiểu là bản văn đó không thể được coi là phản ánh trung thực thực tại: vai tṛ chủ quan tính trong tri giác, dấu ấn ư thức hệ trong cách nh́n/tả và trong diễn ngôn, thực tại từng là từng phần chứ không toàn thể v.v..không cho phép văn bản đó tự tuyên xưng có một giá trị cao trong so sánh.

Từ những suy nghĩ trên ta thấy nhà văn di dân có lợi thế khi viết về quê hương: văn bản viết từ những góc độ mới qua lại biên giới trong/ngoài, viết bằng một băn ngă vừa đa tạp vừa thành phần (plural/partial), đa tạp trong thâu nhận và thực hành nhiều giá trị văn hóa khác nhau, thành phần khi so với dân bản xứ hay người cùng giống ṇi sống trong nước, v́ là kẻ trong/ngoài quê hương cho nên văn bản cũng như diễn ngôn của nhà văn di dân có nhiều khả tính mở ra một nhân loại tính dung chứa được những dị biệt đa dạng.

Ngoài ra, nh́n trong viễn tượng triết lư và lư thuyết văn học, bản văn của nhà văn di dân là không gian diễn ngôn của một tư tưởng tra hỏi triệt để vấn đề: nếu như lịch sử hoàn thành trong thể tính của ư niệm tuyệt đối, kết thúc cuộc phiêu lưu của ư thức khốn khổ (triết học Hegel khai trừ sự khả hữu của văn chương) th́ c̣n có thể có văn chương được không? Từ sau Hegel, văn chương không những không chịu chết mà c̣n tiếp tục cuộc đối thoại không cùng với triết lư, đẩy triết lư vào t́nh thế phải đặt vấn đề về ngay sự khả hữu của chính triết lư v́ văn chương đă khai quật làm mới ngôn ngữ, lao ḿnh vào những biên giới không gian tưởng như không thể đụng chạm tới hay vươt qua giữa đời sống và tác phẩm nghệ thuật với thể tính.

Ngày nay văn chương chỉ ra khả tính bất khả của chính văn chương trong một thời gian nằm bên ngoài thời gian nguồn cội "một thời gian của nghệ thuật cũng chính là thời gian của sự vắng mặt thời gian." (Maurice Blanchot, Entretien infini, 104; 73). Thời gian trong tiểu thuyết của những nhà văn di dân không là thời gian trong một hiện tại hay quá khứ gần của quê hương, cũng không là thời gian nơi ḿnh đang sống, thời gian đó là một thời gian vắng mặt thời gian. Tính lịch sử của thời gian đó có tính phê phán quá khứ và hiện tại, chỉ ra những vùng bóng tối của cuộc sống cá nhân bị chôn vùi, những tiếng nói bị đẩy vào lăng quên.

Hơn nữa, khi mô tả làm mới những thực tại tưởng chừng không bao iờ c̣n được nhắc nhở tới nhà văn c̣n nhắc chúng ta: không thể để cho khuynh hướng mô tả đế quốc, phát xít hay mác xít chiếm vị trí độc quyền mô tả bóp méo thực tại nhằm thỏa măn những nhu cầu ư thức hệ chính trị nhất thời áp đặt trong việc sản xuất những sản phẩm văn hóa nghệ thuật xanh đỏ thị trường. Viết tiểu thuyết về quê hương từ bên ngoài quê hương có thể hiểu là một phương cách từ chối, xóa bỏ văn bản, diễn ngôn bạo lực quyền bính đang trị v́ giữ vai tṛ độc quyền phát ngôn chân lư.

Giải đáp vấn nạn thứ ba là hậu luận của hai vấn nạn trên. Từ bên ngoài, sau khi đă ở bên trong, có cơ may và khả năng tiếp cận rộng răi toàn khắp văn hóa ngôn ngữ thế giới, bằng một thái độ phê phán triệt để, không viết dưới áp lực hiểm nguy trong khí hậu chính trị áp đảo (hiểm nguy nếu có chỉ là mối nguy không viết được tác phẩm có giá trị) hay thị trường, là kẻ cưu mang cuộc đối thoại dân chủ giữa thế giới thứ nhất với thế giới thứ ba, nhà văn di dân là người có nhiều hy vọng nhất sẽ thể đem lại cho người đọc ḿnh cái lạc thú tinh thần của văn chương, vốn là thứ thật hiếm hoi trong thế giới hôm nay.

Sau những xứ Âu châu, nhất là Anh quốc nơi xuất hiện đông đảo những nhà văn tài năng gốc á, Phi như Salman Rushdie, Kazio Ishiguro, Ben Okri, Caryl Phylip, Timothy Mo, Hanif Kureishi ...giới thưởng ngoạn văn chương ở Mỹ cũng đă t́m đọc nhiều hơn văn chương của những nhà văn di dân trong khoảng trên dưới mười năm nay. Ngoài Giải Nobel Văn Chương 2000 vừa được trao cho nhà văn Trung Hoa di dân Cao Hành Kiện ở Pháp vốn được học giới xứ này đánh giá cao những kịch bản và nhất là truyện dài 'Linh Sơn' (Montage de l'Aâme), có thể nói sau Bharati Mukhurjee, Hà Tân (Ha-Jin) là nhà văn á châu thứ nh́ viết tiếng Anh được trao giải thưởng National Book Award của Mỹ với truyện dài 'Đợi Chờ' (Waiting) năm 2000. Trước đó, ông đă đoạt giải PEN Hemingway Award năm 1997 với tập truyện 'Biển Chữ' (Ocean of Words). Tập truyện 'Dưới Ngọn Hồng Kỳ' (Under the Red Flag) của ông cũng được trao giải truyện ngắn Flannery O'Connor năm 1996. Hà Tân c̣n tác giả hai tập thơ 'Gĩữa Những Niềm Im Lặng' (Between Silences) và 'Đối Bóng' (Facing Shadows) và truyện dài 'Trong Ao' (In the Pond). Vào tháng Mười, 2000 nhà Pantheon Books cho ra mắt 'Cô Dâu Chú Rể' (The Bridegroom) đăng lại những truyện ngắn mới nhất của ông viết trong khoảng những năm 97-99.

"Đợi Chờ" (Waiting) là câu chuyện t́nh của Lin Kong và Manna Wu xảy ra vào giai đoạn sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa ở Trung Quốc, con người sống trong một thế giới bị vây bủa bởi những đối nghịch bất nhượng của một xă hội được tổ chức nhằm chỉ thị điều hành mọi ứng xử, làm tê cứng những thôi thúc nội tâm.

Lin Kong là một trí thức theo ngành y trong quân đội, theo truyền thống văn hóa và gia đ́nh hồi trẻ lấy một người vợ quê mùa ít học tên Shuyu do cha mẹ chỉ định. Anh không yêu nhưng cũng không ghét vợ, hai người có với nhau một người con gái. Suốt thời trai trẻ Lin lấy quân đội làm gia đ́nh, chỉ năm th́ mười họa mới về thăm nhà. Số mệnh run rủi, tuy là một người nhút nhát, một trí thức hay tự dầy ṿ về mọi vấn đề của cuộc sống và thiếu sức mạnh quyết định hành động, nhưng rồi anh lại vướng phải một quan hệ t́nh cảm với Manna Wu, nữ trú sinh y tá không gia đ́nh không thân thích đến sống trong bệnh viện nơi anh làm việc và giảng dậy. Mối t́nh lúc đầu rất thơ mộng lư tưởng nhưng sau đó trở thành đắm đuối si mê kéo dài hơn mười bảy năm trời tuy lúc đó Lin đă vào độ trung niên c̣n Manna th́ đang độ trẻ trung.

Do áp lực của hoàn cảnh và của Manna, cuối cùng Lin cũng phải đi đến quyết định sẽ lấy Manna. Nhưng v́ Lin đă có vợ, hơn nữa kỷ luật quân đội nghiêm cấm những quan hệ ngoại hôn, nếu người sĩ quan đă có gia đ́nh và bị khám phá lén lút có quan hệ với một phụ nữ th́ cuộc đời sự nghiệp coi như chấm dứt - nên hai người dù rất muốn cũng khó có dịp gặp nhau riêng tư.

Rất nhiều lần Manna bị xỉ nhục v́ chuyện chị có liên hệ t́nh cảm với Lin. Manna không thể tâm sự với ai những khi bối rối lo lắng, tuy chị cũng có một người bạn gái rất thân, tính t́nh cởi mở nhưng lại hay trống miệng và né tránh trách nhiệm. Để có thể lấy nhau, Manna thúc giục Lin phải về quê xin ly dị vợ. Trong nhiều năm, cứ mỗi lần nghỉ phép về thăm nhà, lần nào Lin cũng muốn làm cho xong vụ ly dị này nhưng khốn nỗi mọi sự không thuận buồm xuôi gió như anh nghĩ. Người vợ của Lin khi nói chuyện với chồng th́ trước sau đều hoàn toàn đồng ư cho anh được ly dị và hứa sẽ cùng anh ra trước ṭa án nhân dân xă hoàn tất thủ tục giấy tờ. Nhưng lần nào ra trước ṭa chị cũng câm lặng hoặc khóc tức tưởi và từ khước thỏa thuận ly dị khiến Lin khốn khổ, lúng túng và nhiều lần anh c̣n bị làm nhục trước ṭa và đám dân làng hiếu kỳ.

Sau những lần ly dị không thành, cả Lin và Manna đều muốn chia tay nhau để Manna c̣n lo chuyện chồng con v́ chị cũng sắp qua tuổi thanh xuân. Tuy không nồng nhiệt về chuyện lập gia đ́nh với một người đàn ông khác nhưng Manna nể lời Lin cũng đă cố gắng thử đôi lần. Lần thứ nhất Lin giới thiệu Manna cho một người anh em trong họ hiện sống trong cảnh gà trống nuôi con. Nhưng hai người chỉ gặp nhau một lần duy nhất. Anh ta không làm rung động nổi Manna.

Mấy năm sau, Manna được giới thiệu với một vị Chính Uủy cao cấp tên Guohong Wei đang phải sống xa vợ (vợ ông là một trí thức ly khai đảng, viết và cho lưu hành những bài tham luận phản kháng lănh đạo và loại bỏ chủ nghĩa Mác nên bị cầm tù), muốn kiếm vợ với lư do bề ngoài là kiếm người giúp ḿnh qua cảnh khó khăn trong việc nuôi dạy con cái. Trong một dịp công tác qua tỉnh lỵ Haibin cách bệnh viện Manna và Lin ở không xa, Manna được đón đến gặp Wei. ông ta tiếp Manna rất lịch thiệp, nhưng không hề đề cập tới chuyện vợ chồng. Tuy vậy, ông lại hỏi han Manna rất ân cần về sinh hoạt trí thức của chị và c̣n khuyến khích chị đọc và đồng thời yêu cầu sau khi đọc xong viết đệ tŕnh ông một bài tường tŕnh về tác phẩm Leaves of Grass của thi sĩ Mỹ Walt Whitman người ông rất ngưỡng mộ. ông cũng không ngần ngại cho Manna mượn tập thơ quí đă cũ vàng ông thường mang theo bên ḿnh và tâm sự ḿnh đă đọc cuốn sách này đến bốn lần.

Trong buổi gặp gỡ của hai người luôn luôn có mặt tên vệ sĩ Geng Yang, lầm lỳ và thô bạo. Nhiều tháng sau đó Manna không có dịp gặp lại Wei nữa và có tin đồn ông đă lấy một nữ giảng viên dạy môn Sử Thế giới trẻ đẹp ỡ thủ đô v́ người này học thức và viết chữ rất đẹp nên có thể giúp ông trong việc hoàn thành bản thảo một tác phẩm mới. [Wei vốn là một tác giả đă có nhiều tác phẩm xuất bản trong ṿng hai chục năm nay.]

Khi nghe tin Manna được Chính Uủy Wei chiếu cố mọi người ở bệnh viện nh́n Manna bằng con mắt kính nể nhưng khi biết được ông không lấy cô v́ cô viết chữ quá xấu Manna bỗng trở thành đề tài bàn tán của đám phụ nữ nhỏ nhen ngồi lê đôi mách.

Mùa Xuân năm sau Lin mắc chứng lao phổi nặng và phải nằm viện. Người bệnh chung pḥng của anh số phần run rủi lại chính là Geng Yang. Hai người thường chuyện tṛ và Lin có lần tâm sự với Yang về cuộc t́nh của ḿnh và cũng tiết lộ vài chi tiết về Manna cũng như hoàn cảnh dở khóc dở cười ḿnh không ly dị được vợ. Geng Yang có bày cho Lin nhiều cách giải quyết hoặc bất chính hoặc tàn bạo nên Lin không thể nghe theo. Lin b́nh phục nhanh chóng sau một thời gian chữa trị và ngay sau đó được gửi sang một tỉnh lỵ kế cận theo học một khóa về học thuyết Mác-xít.

Nỗi bất hạnh xảy đến cho Manna: một buổi tối v́ không biết Lin đă đi công tác, chị sang khu Bệnh Truyền Nhiễm để hỏi mượn anh một quyển sách, chẳng may Manna lại gặp Geng Yang - tên này đang thu xếp hành trang rời viện về phục viên - và v́ có quen mặt nhau nên sau một hồi tṛ chuyện Manna bị tên này lừa đưa vào pḥng cưỡng hiếp. Manna nhục nhă sợ hăi, trốn tránh mọi người và ngă bệnh. C̣n Lin sau khi trở về, biết tin đâm ra ân hận đau khổ.

Nhưng rồi cuối cùng được sự giúp đỡ của người bạn chính ủy và theo luật định thời gian xa cách vợ đă lâu đủ để Lin được phép ly dị. Tháng Mười năm đó, Lin cưới Manna. Tháng Hai năm sau tuy đă bốn mươi tư tuổi Manna mang bầu và tính t́nh biến đổi ghen tuông cả với những người học tṛ của Lin. Cuối cùng Manna cũng cho ra đời một cặp song sinh. Sau đó sức chị suy yếu, tinh thần suy xụp c̣n hai đứa trẻ lại bệnh hoạn. Cuộc sống địa ngục của gia đ́nh khiến Lin cảm thấy cô đơn tuyệt vọng. Đôi khi Lin có ư định bỏ lại tất cả để đi biệt đến một nơi ḿnh có thể sống không quá khứ. Anh dằn vặt nghi ngờ t́nh yêu của ḿnh dành cho Manna, nghi ngờ bản thân cũng như những quyết định của ḿnh.

Trước đám cưới Lin cũng đă thu xếp được cho vợ và con gái bỏ quê lên tỉnh sống. Mỗi năm đôi lần Lin vẫn đến thăm vợ cũ và con gái. Một buổi sáng Chủ Nhật tháng Giêng năm đó Lin và Manna bùng lên căi cọ nhau dữ dội chỉ v́ Lin để quên nồi cơm đang nấu đi lên câu lạc bộ mua thêm thức ăn rồi gặp người bạn chính ủy chuyện tṛ quên khấy đi khiến nồi cơm cháy khét khiến Manna nổi giận nặng lời. Không dằn được Lin chạy tuông khỏi nhà leo thẳng lên ngọn đồi phủ đầy tuyết nằm phía sau bệnh viện. Trí óc năo bộ Lin tê liệt. Khi đă tạm b́nh tĩnh lại và đưa mắt nh́n từ trên đồi cao xuống vùng phụ cận, Lin bỗng nghe rơ một tiếng nói vang lên trong đầu ḿnh:

"Có thật anh thù ghét cô ta không? Chả là chính anh đ̣i cho bằng được cái mớ rối bời này sao? Không, tôi yêu cô ấy. Có thật anh cưới cô ấy v́ t́nh yêu không? Có thực anh đă yêu cô ta không? Tôi nghĩ vậy. Chẳng là chúng tôi đă chờ đợi nhau trong suốt mười tám năm đó sao? Một khoảng thời gian dài như thế không đủ chứng tỏ là chúng tôi yêu nhau sao? Không, thời gian chẳng chứng thực được điều ǵ cả. Thực ra anh đă chẳng bao giờ yêu cô ấy cả. Chẳng qua anh đă ép uổng cô ta, cho nên anh đă không c̣n có cơ may nuôi dưỡng hay phát triển thành t́nh yêu. Nói ǵ vậy? Một sự ép uổng? Đúng vậy, anh đă hiểu nhầm coi sự ép uổng là t́nh yêu. Anh không biết t́nh yêu mặt ngang mũi dọc như thế nào cả. Thực tế anh đă chờ mười tám năm cũng chỉ là đơiĩ để mà chơ,ụ chờ để mà đợi đấy thôi. Rất có thể anh cũng sẽ chờ đợi một người đàn bà khác chừng bấy năm, đúng không nào? Không, tôi đă chỉ đợi chờ Manna thôi. Không dính dáng ǵ tới một người đàn bà nào khác cả...Anh biết ǵ về t́nh yêu? Anh đă hiểu biết cô ta đủ trước khi cưới cô ấy? Anh có chắc cô ta là người đàn bà anh sẽ sống cả đời ḿnh với cô ta? Giờ hăy thành thực trả lời đi, trong số những người đàn bà anh quen biết, anh thích người nào nhất? Có một người đàn bà nào khác thích hợp với anh hơn Manna không? Tôi không thể nói chắc ...Đúng thế, anh đă đợi chờ trong bao nhiêu năm, nhưng anh đợi chờ cái ǵ?... Để tôi nói cho anh hay thực sự cái ǵ đă xảy ra nhé. Trong bấy nhiêu năm anh mê man chờ đợi, như một kẻ mộng du, bị thôi thúc xô đẩy bởi ư kiến người khác, bởi những áp lực ngoại tại, bởi những ảo tưởng, bởi những qui định của chính quyền mà anh đă nhập tâm. Anh đă đi lạc đường bởi chính nỗi thất vọng và sự ù lỳ tiêu cực của ḿnh. Trong ḷng cứ đinh ninh tin tưởng rằng cái ḿnh không được phép sở hữu chính là cái tim ḿnh phải hướng tới để đoạt lấy.' (Waiting, Pantheon Books, 1999 trg 203-5)

'Đợi Chờ (Waiting) là một truyện t́nh ẩn dụ. Ngoài việc cho người đọc thấy quê hương dân tộc ông tuy qua những thăng trầm biến đổi, phải trải qua những áp chế của giới cầm quyền cọng sản, người và đất Trung Hoa vẫn là người và đất của ngàn năm qua không mấy thay đổi nhưng lại phải đương đầu khốn cùng với những qui luật tổ chức xă hội mới để sống c̣n, giống như người chỉ mong có những thay đổi, nhưng v́ đợi chờ quá lâu dù điều ḿnh mong muốn có thành sự thựĩc nên không thể có hạnh phúc khi đạt tới điều ḿnh muốn: Nói cách khác, giống như Lin, họ đă đợi chờ chỉ để đợi chờ, và cái họ chờ đợi rồi ra cũng chỉ là một tương lai không tương lai. Có phải (gợi ư này dựa trên tính cách văn chương chứa đựng ẩn dụ, điều thường thấy trong văn chương Trung Quốc) * * người dân Trung quốc đợi chờ là dân chủ là tự do? Dù cho có thật như vậy chăng nữa th́ sự đợi chờ đó cũng đă làm những con người sống trong mảnh đất rộng mênh mông kia kiệt lực, tuyệt vọng. Nhưng họ vẫn phải sống tới. Và phải đợi chờ.

Văn chương Hà Tân không có cái sâu sắc, cái chất khôi hài đen của Salman Rushdie hay cái kỹ thuật mô tả thế giới đầy sáng tạo của Kazuo Ishiguro nhưng lại có cái độc đáo của sự trong sáng, thảng lạnh gây tác dụng sắc bén như những vết chém ngọt trên tâm trí người đọc. Bằng một lối viết cô đọng và khách quan, chủ động ngôn ngữ trong bản văn, Hà Tân đă đạt được chủ đích của ḿnh. Có được phong cách văn chương này một phần nhờ cái gốc văn học Trung hoa nơi ông, phần khác Hà Tân cu

Ông cũng chịu ảnh hưởng về quan niệm và lối viết tiểu thuyết của Leslie Fielder (tác giả "Love & Death in the American Novels"). Cho đến nay, Hà Tân chứng tỏ tài năng viết truyện ngắn hơn viết truyện dài. Và cái nh́n của ông về quê hương, về thế giới hôm nay là cái nh́n tuy khoan dung nhưng là cái nh́n muốn đào sâu vào thực tại xă hội và những giá trị đạo đức hơn là cái nh́n u buồn về những bạo tàn trong bóng tối quá khứ: lịch sử như một con quái vật hay một thảm họa đè chụp lên cuộc đời chúng ta.

ĐÀO TRUNG ĐẠO

(trích Văn, Xuân Tân Tỵ 2001)

* Hà Tân xuất thân từ Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc, ra khỏi nước năm 1985 để theo học tại đại học Brandeis ở Mỹ. Sau khi tốt nghiệp ông được nhận làm Giáo-sư Văn Chương Anh (Young J. Allen Professor of English and Creative Writing) ở đại học Emory. Hiện ông cư ngụ tại vùng phụ cận Atlanta tiểu bang Georgia.

** Xin xem truyện ngắn 'Tên Phá Hoại" của Hà Tân qua bản dịch của Đào Trung Đạo trong Văn số tháng Ba 2001 để qui chiếu.



Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 2

Notice: Undefined variable: Level in F:\www\vanmagazine\MainContents\iBottomContentsHTML.php on line 6

Home