|
||
|
Ngày nay khi những cuộc tranh luận về chính trị đă lắng xuống, chúng ta đă có một cái nh́n thanh thản và công b́nh hơn về những giá trị văn học và nghệ thuật. Riêng về nhà thơ Tản Đà th́ Xuân Diệu đă đi trước thời đại khi đánh giá cao trước tác Tản Đà. Gần đây tuyển tập "Tản Đà trong ḷng thời đại" do nhà văn Nguyễn Khắc Xương, con trai trưởng của Tản Đà chủ biên (Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1997, 600 trang) đă cung cấp cho độc giả nhiều tư liệu đa nguyên và đa dạng. Âu cũng là sự công b́nh của lịch sử. Bài này nhắc lại vài nét chính của địa vị Tản Đà trong văn học. Tản Đà điển h́nh cho một giai đoạn giao thời, trong một xă hội đang thay đổi văn hoá: từ hán học chuyển sang tây học, từ nông thôn chuyển về đô thị . Có thể nói Tản Đà là nhà văn đô thị đầu tiên và nhà thơ nho học cuối cùng trong lịch sử văn chương Việt Nam. Tản Đà, con người và tác giả nửa cũ nửa mới là một trường hợp phức tạp: đă có một cuốn sách dày mang tên là "Tản Đà khối mâu thuẫn lớn" của hoc giả Tầm Dương. (1) Và từ mười năm nay, nhân kỷ niệm một trăm năm ngày sinh của Tản Đà (1889), đă có nhiều công tŕnh nghiên cứu sâu rộng về Tản Đà, đặc biệt của nhóm thầy tṛ Trần Đ́nh Hượu-Trần Ngọc Vương. (2) Tản Đà đă mang lại cho văn học những âm vang mới chưa hoàn toàn mới và đă ǵn giữ cho "bức dư đồ rách" những h́nh thái cũ, không c̣n hoàn toàn cũ. Tản Đà là nhà văn đầu tiên sống về ng̣i bút, ông đă sống về văn nghệ cho dù "văn chương hạ giới rẻ như bèo." Trước Tản Đà, chỉ có văn học, từ Nguyễn Trăi đến Nguyễn Khuyến, mà không có văn nghệ, như một nghề hay môt nghiệp. Cùng thế hệ hay sau Tản Đà sẽ có những nhà nho văn nghệ như: Phan Khôi, Ngô Tất Tố. Cho dù Tản Đà có thất bại trong nghề văn, nghề báo, ông vẫn là nhà văn nhà báo nho gia đầu tiên và cuối cùng. Tản Đà là một trong vài ba nhà nho đầu tiên đă đưa văn xuôi vào văn học và thành công đến độ báo Đông Dương Tạp Chí của Nguyễn Văn Vĩnh năm 1915 đă mở riêng một mục "Một lối văn nôm" cho Tản Đà, và Phạm Quỳnh đă viết bài tựa cho tập "Khối T́nh" chào mừng tản văn của Tản Đà (1918) dù có chê văn xuôi Tản Đà quá cầu kỳ "chạm lồng rồi lại chạm tỉ."(3) Văn xuôi Tản Đà mất khách về sau cũng v́ lư do đó. Về thơ, Tản Đà không đứng vào hàng ngũ những tác giả thơ mới, nhưng đă đưa luồng gió mới vào thi ca Việt Nam. Xuân Diệu đă long trọng ghi công lớn của Tản Đà ngay khi ông qua đời, về sau này c̣n nhiều lần xác nhận "Tản Đà là người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại. Tản Đà là người thứ nhất đă có can đảm làm thi sĩ một cách đường hoàng, dám giữ một bản ngă, dám có một cái tôi." (4) Về h́nh thức, những câu thơ dài ngắn khác nhau, trong những thể thơ mới mà Tản Đà tự ḿnh sáng tạo, hay những thể thơ dân tộc trước kia không ai dùng đến như hát sẩm chợ, sẩm nhà tṛ, chèo, cổ bản, lư đ̣ đưa, hành vân, nam ai, vv.. Và một từ vựng nôm na hoàn toàn dân dă Tản Đà đă canh tân nền thơ Việt Nam, và Xuân Diệu đă không ngại ngần xác nhận "Tản Đà là nhà thơ thuần tuư Việt Nam." (4) Học giả Trần Ngọc Vương cho rằng đến Tản Đà "bài thơ lục bát Việt Nam mới hoàn chỉnh, mới là những viên ngọc không t́ vết." (5) Các nhà thơ "phá thể" của miền Nam như Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, rất phục câu thơ của Tản Đà "Ngày xanh như ngựa đầu xanh bạc." Về nội dung, Tản Đà đă đưa cái tôi, đậm đà cá nhân vào văn học, lấy cái tôi làm chủ đề văn học, với những nỗi buồn vui có khi vớ vẩn của ḿnh nhưng vẫn trong thân phận trầm luân và đày đoạ: "đời là cơi bắt con người phải sống," lời Tản Đà. Tản Đà đă đưa t́nh yêu cá nhân của ḿnh vào văn học: t́nh yêu lăng mạn, ngoài hôn nhân. Tản Đà trong đời đă bốn lần yêu đương và mỗi cuộc t́nh đều để lại hương sắc trong thơ ca. Dĩ nhiên thơ t́nh của Tản Đà chưa có độ đắm say của Xuân Diệu hay cuồng nhiệt của Hàn Mặc Tử, nhưng ông đă có công, và có tài, mở cửa văn học cho làn sóng lăng mạn tràn vào. Tuy nhiên cái mới của Tản Đà c̣n giới hạn v́ hiểu biết văn học Tây Phương hời hợt: ví dụ ông đă viết nhiều Tuồng cổ từ 1916, mà cho đến 1927 vẫn chưa biết kịch là ǵ, theo lời Vi Huyền Đắc. (6) Và trong đời ông tự măn không chịu học hỏi (7) không biết sửa sai (8) nên không đi xa trên con đường cách tân như bạn đường của ông là Ngô Tất Tố. Sinh thời Tản Đà mong sau khi mất, được mai táng tại một ngọn đồi cạnh cầu Hàm Rồng, Thanh Hoá, nhưng gia đ́nh nghèo, chỉ có phương tiện chôn tại Hà Nội. Năm 1962, chính quyền cho dời mộ về Hương Sơn, Hà Đông. Ngày nay phần mộ đă rời về Khê Thượng, là quê hương chính của nhà thơ, mảnh đất núi Tản sông Đà, theo sự quyết định của gia đ́nh, theo lời giải thích của Nguyễn Khắc Xương với chúng tôi, Ngày nay chúng ta tưởng niệm công ơn Tản Đà, nhà thơ lớn đă mở cửa cho một thời đại mới trong thi ca, "người đă dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đang sắp sửa" theo lời Hoài Thanh và Hoài Chân, 1942, (9). Một người "đứng đầu trong thời đại này" theo sự đánh giá của Ngô Tất Tố, 1939 (10) . ĐẶNG TIẾN
(1) Tầm Dương, Tản Đà khối mâu thuẫn lớn, NXB Khoa Học, Hà Nội, 1964. (2) - Trần đ́nh Hượu , Nho giáo và văn học
Việt Nam trung cận đại, từ trang 341 đến 413. Nhà Xuất bản Văn
hoá Thông tin, 1995, Hà Nội.
(3) Phạm Quỳnh, 1918, trích lại trong Tản Đà trong ḷng thời đại, trang 168-171, nhà Xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 1997 (4) Xuân Diệu, báo Ngày Nay số 167, 1939. Lập lại trong lời tựa Thơ Tản Đà, Hà Nội, 1982 và 1986 (5) Trần Ngọc Vương, sđd, 1998, trang 317 (6) Vi Huyền Đắc, tạp chí Văn, Sài G̣n, số 35, 1965, trang 27. (7) Phan Khôi, báo Tao Đàn, số đặc biệt Tản Đà, 1939 (8) Ngô Tất Tố, theo lời Vũ Bằng, báo Văn, Sài G̣n, số 175, 1971, trang 29 (9) Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Lời nói đầu, nhà xuất bản Nguyễn Đức Phiên, Huế, 1942. (10) Ngô Tất Tố, Tao Đàn, số đặc biệt Tản Đà, 1939. |
|
|