|
||
|
Đời sống ôi buồn như cỏ khô
(Hiện Đại số tháng 4/1960) Người ta nghe ngân vang chân trời xanh trong tiếng hát một loài chim từ thiên thu bay đến. Một cánh chim vành khuyên vượt mông mênh, ngậm t́nh người bay đi t́m vĩnh cữu. Nhă Ca đă đậu lại giữa những hoài nghi, e dè, ngộ nhận của trần gian. Và thoạt tiên, người ta yêu thơ Nhă Ca v́ đó là thơ một người con gái. Năm năm sau, khi tập thơ Nhă Ca Mới ra đời, người đọc mới biết yêu thơ Nhă Ca v́ thơ Nhă Ca hay. Những bài thơ đầu tiên của Nhă Ca đă là thơ của một người đàn bà nhiều hơn là của một người con gái, đă là thơ của Những nàng tiên đến tuổi giă thiên đường Lời nói đầu tiên mang u uất của lời nói cuối cùng, một lối nói giận hờn, chua xót: Thôi trả cho gịng sông tối đen
Tại sao lại trả? Có trả v́ có trao, có trao th́ mới trả. Đó là niềm u ẩn một đời con gái vừa ăn năn, vừa hờn giận: Tôi trót dại tin lời trao tất cả
Trao cho ai và trả cho ai? Trao trả cho người, chữ người phiếm chỉ, vô danh, chữ người lạnh lùng hờn tủi, chữ người sần sùi của lăng quên, chữ người nhầy nhụa của kư ức: Tên người ư, đă trở về bóng tối
Nhưng người không tên trong bóng tối cũng thừa biết đó chỉ là lời giận dỗi, đó chỉ là tiếng nói tự ái của đàn bà, một lối dối ḷng cho dịu bớt thương đau. Kinh nghiệm mất mát ray rứt đó khiến người đàn bà giận hờn khôn khuây. Giận là khi có lư do, hờn la không có lư do hay lư do không chính đáng, hay lư do chính đáng mà không nói được nên lời, không giăi bày được với lương tâm. Và từ những ê ẩm của thể xác, những ăn năn, gậm nhấm của tuổi thơ, Nhă Ca ư thức sự mong manh, vô nghĩa của thân phận đàn bà bước một bước qua hết thời con gái. Rồi cũng từ bước đó, Nhă Ca biết sự bất lực của đàn bà, biết quyền năng nữ sắc chỉ là quyền năng của một dụng cụ. Tự do đối với người đàn bà chỉ giới hạn trong thể xác, và trong một phút giây nào đó của một thể xác. Tôi sống tự do trong thân thể ḿnh. Rồi người đàn bà tự mỉa mai những đớn đau ê chề, những hèn mọn của số phận: như tiếng nước no hơi
Niềm bí mật chất chứa trong mỗi người đàn bà không nói lênđược thành lời v́ tính cách phi lư, vô nghĩa của nó. Đó là một sự thật nằm ngoài lư luận và sáng suốt, ngoài sự kiểm soát của ngôn ngữ, đó chỉ là một sự thật trong một lúc nào đó: Hiểu ǵ đâu cho cam
Người đàn bà chuyển bí mật đó vào cái bào thai: Nghe đó anh, con đầy tiếng nói
Hăy nói giùm người phụ nữ muôn đời sự thật ê chề, rách nát của bản năng. Hăy hiểu giùm người đàn bà muôn thu những bóng tối trong tiềm thức. Tiềm thức thể hiện bằng những biểu tượng. Một biểu tượng hay nói cho giản dị hơn, một h́nh ảnh là phản ảnh trong ngôn ngữ của một bản năng vô thức. Và chỉ những h́nh ảnh bị lạm dụng thành những biểu tượng đó mới hé mở bóng tối của tiềm thức. Ví dụ biểu tượng mặt trời trong thơ Nhă Ca. Tập thơ bắt đầu bằng một vừng rạng đông Chớ nh́n tôi bởi v́ tôi đen
và kết thúc cũng bằng tia lửa thái dương Mặt trời mọc, mọc rồi, mọc rồi
Thái dương là biểu tượng của nam tính, cũng như Thái âm- mặt trăng- là biểu tượng của nữ tính trong tiềm thức của nhân loại từ thời thượng cổ. Từ bà Huyện Thanh Quan, Hồ xuân Hương đến Nhă Ca, ta thấy nhiều ánh nắng, như một khao khát như một đ̣i hỏi nam tính Ḥn đá xanh lăn về phía mặt trời
Mặt trời là khối lửa rực rỡ, chói lọi, tượng trưng cho quyền lực, chủ động, lư trí sáng suốt, sự bền vững, điều ḥa của nam tính. Trái lại trăng khi tṛn khi khuyết, khi có khi không, chỉ sáng bằng ánh sáng thụ động của mặt trời phản chiếu, lại xuất hiện đúng với chu kỳ kinh nguyệt của đàn bà, là tượng trưng cho nữ tính. Trong thần thoại tất cả các nước, h́nh ảnh của vầng Thái dương, Logos và vầng Thái âm, Eros đều có một giá trị biểu tượng giống nhau. Một sinh vật hiện diện một cách vừa thường xuyên vừa bất ngờ trong Nhă Ca là Ngựa qua lời thú nhận bầy ngựa dạy nàng hung hăn. Hung hăn v́ chẳng những là ngựa thường mà có khi là ngựa vằn nữa: Rồi đêm ôm chiếc bóng ngựa vằn
Ngựa biểu hiệu những bản năng cuồng nhiệt của thể xác, chuyên chở những đ̣i hỏi đen tối nhất, khó kiềm hăm nhất, như những bản năng của nữ giới. Ngựa cuối cùng c̣n là biểu tượng của người mẹ, như con ngựa thành Troie. Trong thơ Nhă Ca, bạn của Ngựa là con Rắn Con rắn hồi sinh nỗi buồn đen trườn ḿnh
Rắn là biểu tượng những cám dỗ của tội lỗi, rắn thuộc về cơi âm sống về đêm, trong các hang hốc nên gần với nữ tính, tượng trưng chodục vọng như truyện Thanh Xà Bạch Xà trong cổ tích Á Đông, chuyệnrắn lừa gạt Eve phạm trái cấm trong vườn Địa đàng. Tra vấn những biểu tượng trong thơ Nhă Ca, nhất là những biểu tượng nói lên chiều sâu thăm thẳm trong đêm tối của người đàn bà, là cốt để t́m thấy đằng sau giá trị nghệ thuật thuần túy, c̣n có một thực chất nữ tính sâu xa trong tiềm thức của tác giả. Cái giá trị của thi ca không phải ở cái nội dung vô thức đó, nhưng sự thành thật sự chân chính sẽ bảo đảm cho giá trị vĩnh cửu trong ngôn ngữ của nàng. Những h́nh ảnh khác như khu vườn, người điên khua thanh la… đều rất phong phú. Chúng tôi chỉ xét qua vài h́nh ảnh mở rộng tâm hồn Nhă Ca. Như h́nh ảnh cây cối. Ba bài thơ đầu tiên đăng trên Hiện Đại, những bài thơ tiên khởi giới thiệu Nhă Ca, bắt đầu bằng những con đường râm mát. Đường xa sầu tiếp với cây chiều…
Cây tượng trưng cho t́nh mẫu tử, cho khả năng sinh sản. Trongtiếng La tinh hầu hết những danh từ chỉ cây cối đều là giống cái. Đọc thơ Nhă Ca luôn luôn bắt gặp h́nh ảnh của người mẹ, khi hiền từ, khi sôi nổi, khi đồng hóa với con người, khi lại tách rời. H́nh ảnh ấy linh động và cảm động, tạo sự tŕu mến quấn quít giữa các ḍng chữ. H́nh ảnh cây cối cũng có một địa vị đặc biệt trong thơ Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan. Cũng như những h́nh ảnh đèo, dốc. Xe đi hút lũng than đèo
Dốc trái với bằng, là độ nghiêng của nội giới, từ h́nh ảnh tới tâm linh, dốc là khuynh hướng: dốc đ̣i hỏi con người phải chọn lựa hoặc lên hoặc xuống không thể lưng chừng. Cả lên lẫn xuống đều khó khăn đối với người đàn bà, họa hoằn lắm mới có một Vơ Tắc Thiênhay một Quan Âm Thị Kính. Trong mỗi người đàn bà đều có một QuanÂm và một Vơ Hậu tương tranh, bước lên một bước là Thiên Thần- dù chỉ là thiên thần xó bếp, bước xuống một bước là cầm thú- dù là cầm thú chính chuyên. Đèo là điểm tương giao giữa hai chiều dốc, bên này là lên, bên kia là xuống: vị trí chọn lựa đó ngắn ngủi, và quyết định, không mấy khi dễ dàng. Một người đàn bà chỉ có hai quả hồng, hoặc ngọt hoặc chát; “quả ngọt phần chồng” là chính chuyên, ngược lại là bất chính. Và chọn lựa, nói là tự do, kỳ thật là nô lệ, nô lệ một nửa của ḿnh. Một khi lỡ chọn th́ “mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”. Nói là muốn trèo, kỳ thật là phải trèo, hoặc trèo lên, hoặc trèo xuống. Cái dốc đạo lư, cái dốc tâm lư, cái dốc sinh lư, lại bao nhiều đèo dọc đèo ngang, bao nhiêu thầm kín người đàn bà đều trải phơi ra đó. Đem những thầm kín linh cảm được trong thơ một người đàn bà mà giải thích, th́ những thầm kín không c̣n thầm kín kia sẽ mất hết nữ tính quyến rũ. Thực chất sống động của thơ Nhă Ca sẽ phải đứng yên như tượng; tiếng nói Nhă Ca có thể cứng lạnh v́ bị mất hết tương giao. Trong khi đó, thật ra, ngôn ngữ của nàng là một tiềm năng sung măn trườn ḿnh như rắn. Nói đến thơ, cuối cùng phải nói đến tiềm năng đó. V́ nghệ thuật không phải là cái mà nghệ thuật diễn tả hay có thể diễn tả. Thơ không phải là những ư tưởng cũng không phải những khuynh hướng trong tiềm thức. Thơ trước hết là thơ. Và thơ gọi được là thơ không c̣n là thơ nữa. Những cái không gọi được là thơ th́ không bao giờ có thể gọi được là thơ. Cái gọi được là thơ trong Nhă Ca, trước hết là một không gian Sân chiều chao nhẹ dăm tờ lá
Buổi chiều xa xưa ở đây không c̣n hiu hắt như trong Huy Cận hay đằm thắm như trong Xuân Diệu. Buổi chiều chao nhẹ, chao thật nhẹ như trong Nhất Linh. Những buổi chiều mịn màng, óng ả, mềm mại, d́u dặt đặc biệt trong thơ Nhă Ca mới có. Cũng như đêm của người đàn bà nồng thơm da thịt, chập chờn giữa êm dịu của hư vô và đê mê của cảm giác: Hơi thở mùi hương nụ cười bóng lá
Thơ Nhă Ca dày ải trần gian vào biên giới hư ảo của đê mê, thơ Nhă Ca là trầm luân trên từng sợi lông tơ, là thiên thu xóa nḥa trongchớp mắt. Đọc Nhă Ca là linh cảm cả hư không, trong từng thớ thịt, lẫn thể xác trong từng ư niệm vu vơ. Thơ Nhă Ca vừa mời gọi, vừa ôm ấp vừa quyến luyến. Thơ Nhă Ca là lối làm quen ở phút giă từ, là lúc vụt quên khi vừa sực nhớ. Vẻ đẹp Nhă Ca thật như một giấc chiêm bao, và giả như con sông Hoàng Hà từ trời xanh đổ về biển cả: Ai về đó mà thơm hồn lụa bạch
Thơ Nhă Ca sẽ dựng lên một thần thoại về người con gái Huế, vời vợi hương thơm và quấn quít tơ vàng. Đêm trần gian, Nhă Ca đă nối dài vào Thiên đường và Địa ngục. Ở một phút nào đó, thần thoại đă tự hủy. Nàng tiên vươn ḿnh lên khỏi mặt nước, để lộ nguyên h́nh nửa người nửa cá, nửa Thiên thần nửa Thú tính. Người đàn bà khắc khoải, bé mọn, đêm co người trăm năm. Co người để tạo một ảo giác, để che dấu một nhu cầu gần gũi, đó là lối gạt gẫm bản thân để dỗ ḿnh vào giấc ngủ. Simone de Beauvoir tâm sự: “Người ta không sinh ra là đàn bà, người ta trở thành đàn bà.” Trở thành hay không là nhờ, là do, là tại, là bởi, là v́ một người khác, một người khác phái: Rồi náo nức lăng quên vào kỷ niệm
Nằm một ḿnh mà vẫn đ̣i nằm sát. Nằm sát, dù chỉ nằm sát sự tối đen, vẫn c̣n hơn là nằm co. Một sự vong thân cần thiết: đàn bà có vong thân mới thành đàn bà, có tha hóa mới đạt tới yếu tính. Thúy Kiều có bán ḿnh mới thành được Thúy Kiều và nói như Nguyễn Văn Trung “đàn bà chỉ là đàn bà khi được người khác công nhận”. Người đàn bà đẹp đến đâu, dù đẹp đến cùng cũng là những “ả tố nga” đẹp bằng mặt trăng, “đẹp như trăng” nghĩa là đẹp nhờ ánh sáng của một tinh cầu khác. Người đàn bà, cái bản thể do ngoại, tại ngoại và hướng ngoại đó, cái être par autrui, en autrui, pour autrui đó, ư thức sự lệ thuộc của ḿnh. Khi được si mê th́ mang một thiên đường trên những ngón chân Ta gần em mê từng ngón bàn chân
và mang định mệnh nhân loại trong cái nh́n, nụ cười hay chiều cao của sống mũi như nàng Cléopâtre, hay từng nếp nhăn trên khuôn mặt như Tây Thi, định đoạt tính mệnh của một người bằng những cử chỉ vạn năng vô nghĩa Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt
Thực chất đàn bà là thế. Nhưng đàn bà thích sống trong huyền thoại nhiều hơn là thực chất: huyền thoại tâm hồn, trinh tiết, chung thủy v.v… để có cái ảo giác về giá trị và tự do. Kỳ thật, đó chỉ là những giá trị giả tạo do đàn ông bịa ra để bảo vệ quyền lợi ích kỷ của ḿnh. Chung thủy là chung thủy v́ một người đă qua, trinh tiết cho một người chưa đến. Người đàn bà vạn năng sẽ chỉ biết quyến rũ mà không biết si mê, chỉ có trong huyền thoại, v́ người đàn bà đó là người cá! Cái can đảm của Nhă Ca là biết phá tung những huyền thoại đó: Mùa mưa lũ với lời hứa của chàng
Người đàn bà bị bao vây muôn trùng v́ một lời hứa, người đàn bà vô nghĩa như một vết bẩn, biết rằng linh hồn ḿnh không quí bằng một ngón chân! Và người đàn bà đó can đảm hơn nữa khi chấp nhận những nhu cầu tầm thường của thể xác, can đảm trườn ḿnh như rắn: Và đôi mắt uống h́nh nhau đă chật
Thái độ nằm co, nằm sát, nằm chật để giết chết những đêm buồn, những giá lạnh, những xa xôi, lời th́ thầm đ̣i hỏi quấn quít, nâng em lên tạo nên cái thực chất đàn bà vừa sống sượng vừa cám dỗ, khiêm tốn một cách cao quí, tội lỗi một cách trong sạch, tầm thường đến cảm động. Thái độ của Nhă Ca là muốn im lặng ra ngoài huyền thoại để đi t́m thực chất. Ra ngoài cái thiên hạ nói về ḿnh, cái thiên hạ đồn đăi về ḿnh để nghe những lời tự thú của lương tri và tiềm thức. Nhă Ca tự thương lấy thân phận, thấy rơ giới hạn chật hẹp của tự do trong thân thể ḿnh, Nhă Ca bằng ḷng sống cam phận nhỏ, chấp nhận mùi vị của t́nh yêu ngọt ngào như một vết thương. Nhă Ca từ một cô gái thơ ngây, bé bỏng khi về tay nhỏ che trời rét cho đến người mẹ hiền muối mặt trong ăn năn, im lặng nghe buổi trưa của cuộc đời lăn chậm: Đă khô rồi nhựa trong cây
Nhă Ca từ cô gái đến người mẹ, vẫn dẫm lên lối đi tiền định của kiếp đàn bà. Lời tự t́nh nhẫn nhục đến thê thiết của Nhă Ca như buốt lạnh lương tâm người đọc. Qua một kỹ thuật ngôn ngữ già dặn, những cơ cấu âm thanh và h́nh ảnh vững chắc và uyển chuyển, người đọc c̣n t́m thấy thân phận chua chát, ê ẩm của người đàn bà, cái nguồn gốc tủi hờn của nhân loại. Tôi muốn kết thúc cuộc hành tŕnh vào tâm hồn người đàn bà bằng một h́nh ảnh mượn của Nhă Ca, h́nh ảnh một loài rong Em như loài rong
Tôi thấy trước mắt một thảm xanh hiền ḥa, tự tin và tự chủ. Niềm tin bé mọn, chua xót, vẫn c̣n chờ đợi, vẫn c̣n xanh mướt. Buổi Thanh-minh của nàng Thúy, cỏ non vẫn c̣n gợn đến chân trời. Em như loài rong
Tôi thấy cánh rong của tôi bị gịng nước cuốn đi. Cánh rong thụ động, mất hết tự chủ, cố cưỡng lại với cuồng lưu. Thụ động nhưng vẫn gắng gượng tự chủ: Phận bèo bao quản nước sa, nàng Thúy thở dài. Trôi và trôi măi. Trôi măi mười lăm năm mới đến Tiền-đường: Tôi như loài rong
Tôi không c̣n thấy loài rong của tôi nữa. Loài rong yếu đuối mong manh, đă thất bại, đă buông xuôi, đă nhắm mắt, đă thua, đă ch́m. Ngọn triều non bạc trùng trùng… Lịch sử, một cánh rong cũng là định mệnh của loài rong, đă xanh, đă trôi và đă ch́m. Con đường nàng Thúy đă đi qua là con đường thiên thu của người phụ nữ muôn đời. Từ kinh nghiệm bản thân, từ linh tính, từ suy gẫm, Nhă Ca đă dùng tương quan ngôn ngữ để hé mở chiều sâu thăm thẳm của thân phận đàn bà. Trong hành lang thăm thẳm đó, chúng ta đă bắt gặp khuôn mặt của người t́nh, người vợ và người mẹ. Từ một thân phận phôi pha con người sẽ chua xót nghĩ đến thân phận của chính ḿnh, của lứa đôi, và nghĩ đến h́nh ảnh của Thai Mẫu nhân loại, một Magna Dea thiên sứ nắm hết định mệnh loài người. ĐẶNG TIẾN (Đà Lạt, 10-5- 65) * trích báo VĂN số 35 ngày 1 tháng 6 năm 1965. |
|
|