|
||
|
Thế Kỷ thứ X: Khúc quanh Đất nước tự chủ Sau một ngh́n năm Bắc Thuộc và nhiều cuộc nổi dậy đấu tranh chống ngoại xâm, Ngô Quyền giành lại được chủ quyền cho dân tộc, mở đầu một thời kỳ tự chủ lâu dài cho một đất nước, một vương quốc hoàn toàn độc lập, đóng đô tại Cổ Loa, kinh đô cũ nước Âu Lạc ngàn xưa, tiếp tục truyền thống dựng nước và giữ nước từ thời An dương Vương. Sau đó Đinh Bộ Lĩnh đă củng cố quốc gia, thống nhất đất nước, năm 968, lên ngôi Hoàng Đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đặt niên hiệu là Thái B́nh, dời đô về Hoa Lư, xây dựng một chế độ trung ương tập quyền và một hệ thống chính quyền địa phương, ổn định. Triều đại sau, nhà Tiền Lê, với tư cách một quốc gia có quân đội, đă chận đứng cuộc xâm lược của nhà Tống năm 981. Ba triều đại: Ngô - Đinh - Lê với ba thành tích: giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, chiến thắng ngoại xâm trong thế kỷ thứ X, đă kiện toàn một tổ chức quốc gia độc lập và hùng mạnh, đồng thời xây dựng một nền văn hoá dân tộc có bản sắc riêng. Thế kỷ thứ X là một khúc quanh quyết định trong lịch sử Việt Nam mà hôm nay chúng ta chân thành kỷ niệm, trước thềm thiên niên kỷ mới. Ảnh hưởng Đạo Phật Văn hoá dân tộc thế kỷ X, là văn hoá dân gian, cổ truyền, theo tín ngưỡng thần linh, thờ cúng đất đai, tổ tiên. Văn nghệ dân gian gồm có ca hát, nhảy múa, cổ tích, huyền thoại. Những h́nh thức kịch hát đă phôi thai từ thời ấy. Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu thiên niên kỷ theo hai đường Trung Hoa và ấn Độ là tôn giáo chiếm ưu thế từ triều đ́nh đến làng mạc, bên cạnh Khổng giáo chủ yếu là một phương tiện chính trị của thời Hán thuộc và Đạo giáo chủ yếu là việc sùng bái dị đoan mê tín. Nhà nước, từ triều Đinh đă khuyến khích xây dựng Chùa chiền. Các nhà sư là tầng lớp có học thức có uy tín và ảnh hưởng ở nông thôn, có địa vị và quyền lực ở triều đ́nh. Các tác phẩm văn học bằng chữ Hán c̣n lại là của các nhà sư như Đỗ Thuận, Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh. Vào triều đại nhà Lư, ảnh hưởng Phật Giáo càng gia tăng, v́ vua Lư Thái Tổ là một tài năng quân sự, chính trị và văn hoá xuất thân từ cửa Phật. Sự nghiệp nhà Lư (1009-1225) Kinh Đô Rồng bay Lư Công Uẩn lên làm vua lập ra Triều Lư, năm 1010 đă dời đô từ Hoa Lư về Đại La đổi tên là Thăng Long, Hà Nội ngày nay, và giải thích quyết định dời đô bằng Chiếu dời Đô, một văn kiện chính trị có tính cách văn học, có thể xem như là tác phẩm văn học đầu tiên của nền văn chương Việt Hán. Thiên đô Chiếu chứng tỏ sự trưởng thành trong tư tưởng chính trị của dân tộc: Hoa Lư trước đấy chỉ là một địa thế chiến lược hiểm trở nhưng chật hẹp. Nhà Lư dời đô về thành Thăng Long, một vị trí không có giá trị chiến lược, giữa trung tâm đồng bằng một cái nôi kinh tế và văn hoá, chứng tỏ ḷng tự tin dân tộc, hướng về tương lai và không sợ giặc. Câu chuyện rồng bay trên thành Đại La để đón mừng Lư Thái Tổ chỉ là truyền thuyết có tính cách chiến tranh tâm lư. Sự thật cái tên Thăng Long là thành quả của tư duy huyền thoại và chính trị, phản ánh tham vọng chính trị, kinh tế và văn hoá của một triều đại và một dân tộc đang lớn mạnh. Văn hoá thời Lư Trong một chủ trương chính trị văn hoá có cân chắc, nhà Lư đă chọn lựa tiếp tục dùng chữ Hán làm văn tự chính thức, trong khi dân tộc đă có khả năng sáng tạo chũ Nôm. Một số chữ nôm trên chuông đồng chứng tỏ điều này. Chữ Hán thế kỷ trước, dưới các triều đại Ngô - Đinh - Lê là tàn dư thời Bắc thuộc. Chữ Hán thời Lư là một chính sách có định hướng. Các vua Lư cho người sang Trung quốc thỉnh Kinh Tam Tạng (1018), lập Quốc Tử Giám, tổ chức các kỳ thi để tuyển dụng quan lại (1075) hay chọn người vào Hàn Lâm Viện (1086). Chính sách này nhằm củng cố cơ cấu chính trị nhà nước về mặt lư thuyết và thực hành, bảo đảm việc nội trị lẫn ngoại giao với lân bang; Kết quả là đă định hướng văn hoá Đại Việt vào khu vực Hán hoá, cùng vời Triều Tiên, Nhật Bản. Nhưng tiếng Hán thời Lư được phát âm một cách khác và càng ngày càng xa tiếng Hán của Trung Quốc, tạo nên một nền văn chương Hán Việt phát triển cho đến đầu thế kỷ XX. Văn chương thời Lư, ngoài những chiếu chỉ, c̣n một số văn khắc trên bia, trên chuông, văn thơ nhà Chùa và đôi bài thơ như Nam Quốc Sơn Hà của Lư Thường Kiệt, một số tác phẩm khuyết danh hay đă thất lạc nhưng c̣n được nhắc lại trong những tác phẩm về sau. Nói chung th́ chưa phải là phong phú; Nhưng có nét đặc thù: nhà thơ Vương Hải Thiềm (1046-1100), nhà sư làm thơ chữ Hán đă mở đầu truyền thống gieo vần theo kiểu Việt Nam chứ không theo âm luật thơ Trung Quốc thời Đường Tống. Riêng về nghệ thuật tạo h́nh, hai thế kỷ XI - XII đă để lại nhiều nét độc đáo tạo nên nền Mỹ thuật thời Lư qua những chạm trổ trên đá, trên gốm khai quật được tại nền ngôi tháp Chùa « Phật Tích » (Bắc Ninh, 1057) hay những hoa văn ở Chùa Giam (Hà Bắc, 1094) chùa Đọi (Hà Nam, 1121), đă lưu dấu. Song song với nghệ thuật taọ h́nh dân gian, các ngành múa hát như hát chèo, mùa rối nước, dân ca quan họ, cũng phát sinh ở giai đoạn này. Vua Lư Nhân Tông đă từng sáng tác những làn điệu múa hát dân gian, như đă ghi trên văn bia Sùng Thiện diên Linh, núi Đọi, thế kỷ XII. Văn học thời Trần (1226 -1400) Ảnh hưởng Phật giáo Sự nghiệp nhà Lư được nhà Trần tiếp nối và phát uy thành một quy mô văn hoá lớn hơn, c̣n gọi là văn hoá Đông A - tên nhà Trần. Phật giáo vẫn gĩư vai tṛ chủ lưu trong một thời gian dài, từ làng xă đến triều chính: mấy ông vua đầu triều Trần đều là những thiền sư đắc đạo. Vua Trần nhân Tông là tổ sư môn phái Thiền Tôn Trúc Lâm, là vua trị nước tài ba và nhân hậu, một lănh tụ quân sự thao lược lại là một nhà thơ xuất sắc. Lịch sử nhân loại cũng hiếm thấy một nhân tài ở nhiều kích thước như vậy. Đây là một bài thơ của vua Nhân Tông tả cảnh thôn quê Việt Nam đậm nhạt đơn sơ, nửa hư nửa thực: Nguyên tác Cảnh chiều Thiên Trường Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên Trước xóm, sau thôn tựa khói lồng
Những câu thơ lơ lửng âm thanh, lung linh màu sắc và lâng lâng ánh sáng, d́u dặt nâng hồn người lên một không gian mênh mông vô định. Khó ngờ được đây là thơ một ông vua thời trung cổ thế kỷ 13. Thơ thời nhà Trần nghệ thuật điêu luyện, tư tưởng cao xa, nội dung da dạng, từ thơ Thiền đến thơ T́nh, từ thơ ca ngợi thiên nhiên đến thơ hô hào đánh giặc, từ Trần quang Khải đến Nguyễn trung Ngạn thường là thơ xuất sắc, so với thời Lư, là một bứơc tiến xa, một dấn thân vào trần thế. Từ chữ Hán sang chữ Nôm Mỗi vị vua nhà Trần đều có để lại thi tập. Các tác giả cũng đông đảo hơn trước, đa số là nho sĩ, thân vương, tướng lănh; tỷ lệ sư săi có phần co lại, v́ Phật giáo tuy vẫn giữ ảnh hưởng lớn trong dân gian, nhưng ở triều đ́nh đă dần dần mất quyền lực và dần dần nhường ưu thế cho Nho giáo. Giai cấp nho sĩ ngày một ngày hai đă thay chân giai cấp tăng sĩ trong đời sống triều chính, và từ đó đă chiếm lĩnh tư thế trong văn học. Triều Trần đă phát huy các thể văn xuôi bằng chữ Hán, trước hết là những tác phẩm Sử học như của Lê Văn Hưu; văn nghị luận như các sách Nhà Phật; văn truyện kư như Lĩnh Nam, Chích Quái. Nhiều tác phẩm biền văn, nhiều bài phú và văn tứ lục, nổi tiếng nhất là Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo. Nhưng điều quan trọng hơn cả, là song song với văn thơ chữ Hán càng ngày càng phong phú, đă thành h́nh nền văn học chữ Nôm, dù rằng một số chữ Nôm đă xuất hiện từ thời Lư, để ghi lại lời ăn tiếng nói hằng ngày của dân gian. Văn thơ chữ Nôm đời Trần phần nhiều đă thất lạc, như Văn Tế Cá Sấu của Nguyễn Thuyên. Ngày nay chỉ c̣n lại những bài phú, như của vua Nhân Tông và sư Huyền Quang nhờ được ǵn giữ và lưu hành trong nhà Chùa. Nhà Chùa ngày xưa là nơi ít bị chiến tranh tàn phá và lại có truyền thống khắc bản in từ thời Lư; nhờ đó sách nhà Chùa in nhiều bản, có nhiều khả năng bảo lưu hơn những tác phẩm khác, dù được truyền tụng nhưng chỉ chép tay nên dễ bị thất lạc. Việc sử dụng chữ Nôm thời Trần đă phổ biến, cho dù tác phẩm và tác gia c̣n ít ỏi, vẫn là một khúc quanh quan trọng v́ đă ghi lại lời ăn tiếng nói và đời sống của dân tộc qua văn thơ. Năm 1400, Hồ Quư Ly lật đổ nhà Trần, dựng nên nhà Hồ được bảy năm th́ bị quân Minh đánh bại. Quân Minh chiếm cứ đất nước ta và bẻ găy nhiều cuộc kháng chiến của con cháu nhà Trần. Trong thất bại, một thủ lănh kháng chiến là Đặng Dung đă để lại một bài thơ khí khái, u hoài và cay đắng: Cảm hoài Dịch nôm Thế sự du du nại lăo hà! Việc đời bối rối tuổi già vay,
Văn học nhà Lê: Thế Kỷ XV-XVII Văn học thế kỷ XV Lê Sơ Quân Minh trong mười năm đô hộ đă dụng công thiêu huỷ rất nhiều cơ sở văn hoá Việt Nam, lưu đày trí thức, nhưng vẫn không chận đứng được bước tiến hoá của dân tộc trong thế kỷ XV, mà sự nghiệp của Nguyễn Trăi và Lê Thánh Tông là những biểu tượng hùng vĩ. Sau khi đánh đuổi quân Minh năm 1428, Nguyễn Trăi đă viết B́nh Ngô đại Cáo và để lại một tác phẩm đồ sộ và quy mô, vừa bằng chữ Hán vừa bằng chữ Nôm. Quốc Âm Thi Tập là một tác phẩm gồm có trên 250 bài thơ bằng chữ Nôm, là chữ Việt Nam thời đó, mở đầu cho nền văn học Quốc Âm mỗi ngày một thịnh vượng. Thế kỷ XV đă phục hưng nền văn hoá dân tộc lần thứ hai, nâng cấp và phát huy tŕnh độ văn hoá đó, sau những thành tựu từ bốn thế kỷ trước. Lực lượng sáng tác văn học trong thế kỷ này phát triển hơn các thế kỷ khác rất nhiều, và số lượng thơ văn cũng vượt xa thời Lư Trần. Các tác gia là những nhà nho, làm thơ viết văn nói lên chí khí, ca ngợi đất nước và xây dựng chế độ phong kiến, tiêu biểu là hội Tao Đàn do Lê Thánh Tông chủ xướng, và chủ suư (1494). Ngoài thơ văn Nguyễn Trăi, Lê Thánh Tông, đáng kể nhất là những bộ sử của Phan Phu Tiên, Vũ Quỳnh, đặc biệt là bộ Đại Việt Sử Kư Toàn Thư (1479) của Ngô Sĩ Liên, tư liệu căn bản của ngành sử học Việt Nam hiện giờ. Triều đại 38 năm của Lê Thánh Tôn đưa biên giới Đại Việt về phía Nam đến Phú Yên, là cao điểm thịnh trị của nền phong kiến Việt Nam. Một nền thịnh trị mong manh dựa vào tài đức của vua Lê Thánh Tông. Chỉ mươi năm sau khi vua băng hà, chế độ phong kiến nhà Lê đă suy thoái nhanh chóng và tiếp tục tàn tạ và phân hoá trong hai thế kỷ XVII và XVIII. Nội biến và Văn học: Thế kỷ XVI-XVII Từ ngày Mạc đăng Dung tiếm ngôi, lập nên triều Mạc (1527-1592) đất nước lâm vào cảnh nội chiến triền miên. Từ chiến tranh Nam Triều Bắc Triều giữa họ Lê và họ Mạc đến giặc Nam Bắc phân tranh (1627-1672) giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn: mầm chia rẽ Bắc Nam nảy ra từ ấy. Đồng thời với nhiều tai trời ách nước: lũ lột, đói kém, dịch tể, sưu cao thuế nặng, nhiều cuộc nội loạn đă ṿ xé đất nước. Chính quyền phong kiến trung ương thoái hoá th́ tư tưởng chủ đạo là nho giáo cũng băng hoại. Trong cuộc nổi loạn của Lê duy Mật (1738), triều đ́nh bắt được Phạm công Thế và hỏi "ông là người khoa bảng sao lại theo nghịch?" Thế giương cổ ra chịu hành h́nh sau khi đáp lời: «Lâu nay danh phận không rơ, lấy ǵ phân thuận nghịch. » Một câu trả lời phản ánh t́nh trạng suy đồi của chế độ phong kiến Lê Trịnh, từ cơ cấu trung ương đến trật tự địa phương, đến tận cùng tư tưởng tôn quân của nho giáo. Một người sáng suốt như Nguyễn Bỉnh Khiêm, làm thầy cho nhiều phe phái chính trị, đă để lại một sự nghiệp thơ Nôm phong phú nhưng cũng không đóng góp được ǵ tích cực cho chính trường giai đoạn đó. May mắn thay, song song với một triều chính suy đồi, đời sống trí thức Đại Việt lại phát triển theo một chiều hướng khác. Một mặt kinh tế hàng hoá đă phổ biến ở các thành thị như Kẻ Chợ, Phố Hiến ở Đàng ngoài và Hội An, Phú Xuân, Gia Định ở Đàng Trong, dần dà tạo ra một tâm lư đô thị, một tư tưởng thị dân, dù c̣n giới hạn. Mặt khác đă thành h́nh một tầng lớp trí thức dân gian, những nhà nho không đỗ đạt, hay đỗ đạt nhưng không ra làm quan, mà điển h́nh là những Trạng Quỳnh, Trạng Lợn trong kho truyện dân gian. Tranh tượng dân gian c̣n lại trong các đ́nh chùa thời kỳ này đă thoát ly ra khỏi những khuôn mẫu phong kiến, ví dụ như con Rồng, chen lẫn với gà lợn hay ôm con cuộn tṛn trong rơm ổ, trong điêu khắc dân gian, không c̣n là một h́nh tượng cho quyền uy như con Rồng của triều đ́nh từ thời Lư. Chữ Nôm phát triển Một t́nh h́nh xă hội như vậy tạo ra thế đối lập giữa nhân dân và chính quyền, mà chúng ta chưa thấy ở các thời Lư Trần. Văn chương quốc âm thời đó không có văn xuôi, chỉ có thơ và một ít biền văn; và chủ yếu là văn vần, tức là thơ Nôm, đă thoát ly ra khỏi mực thước phong kiến. ở chừng mực nào đó chữ Nôm đă bị chính quyền nghi kỵ. Năm 1663, chúa Trịnh Tạc sai Phạm công Trứ soạn 47 điều giáo hoá, có đoạn ngăn cấm thơ truyện bằng ngôn ngữ dân tộc: Cùng là truyện cũ nôm na,
Chính sách bài trừ chữ Nôm này chứng tỏ nghề in ấn trên khắc ván đă phổ biến và đă có nhiều truyện nôm lưu hành trong dân gian dưới dạng sách in; v́ vậy sự nghi kỵ đó sẽ c̣n tiếp tục, sang thế kỷ XVIII với Trịnh Cương, và thành kiến « nôm na là cha mách qué. » Văn thơ nôm trong hai thế kỷ XVI và XVII không được dồi dào dù có tiến xa so với các thế kỷ trước và so với văn học chữ Hán. Đặc biệt, chúng ta đă thấy xuất hiện truyện nôm như Truyện Vương Tường, Lâm Tuyền Kỳ Ngộ bằng thơ bảy chữ và nhất là bước đầu của các thể thơ vần lưng (yêu vận) đặc sắc của dân tộc là lục bát và song thất lục bát, xây dựng trên tục ngữ ca dao. Bài đầu tiên là một bài hát cung đ́nh của Lê đức Mao làm khoảng 1504. Thể thơ lục bát, toàn vần bằng, sẽ phát triển trong những bài thơ dài hơi của Phùng khắc Khoan, Đào duy Từ và đạt tới đỉnh cao vào cuối thế kỷ XVII với Thiên Nam Ngữ Lục, một bộ quốc sử diễn ca dài 8136 câu lục bát, tác phẩm dài nhất trong kho tàng văn học chữ nôm, dài gấp 3 lần truyện Kiều, chủ yếu ghi lại lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng đến Hậu Trần. Nhưng phải đợi đến cuối thế kỷ XVIII câu thơ lục bát mới đạt đến một khả năng thẩm mỹ cao cấp và bền vững. Từ Lê sang Nguyễn: Văn học trưởng thành. Thế kỷ XVIII-nửa XIX Chủ nghĩa nhân đạo Bước sang thế kỷ XVIII truyện Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn Hữu Hào (-?-1713) có thể xem như là thành công buổi đầu của truyện nôm thành văn. Nhưng phải đợi đến nửa sau thế kỷ văn học mới có những văn bản giá trị, như những khúc ngâm trường thiên theo thể song thất lục bát, tiêu biểu là bản dịch Chinh Phụ Ngâm nguyên tác Đặng trần Côn, của bà Đoàn thị Điểm (1705-1748), sau này sẽ được Phan Huy ích dịch lại; và Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn gia Thiều (1741-1798). Ở đây các tác giả đă nêu lên thân phận con người qua số kiếp hẩm hiu của người phụ nữ, nạn nhân của phong kiến hay chiến tranh. H́nh ảnh người đàn bà sẽ tái hiện mỗi ngày một rơ nét qua truyện kể dân gian như Tống Trân Cúc Hoa hay Phạm Tải Ngọc Hoa hay về sau, qua truyện thành văn như Hoa Tiên, Truyện Kiều hay thơ Hồ xuân Hương vào đầu thế kỷ XIX. Qua h́nh ảnh người phụ nữ gian truân, « Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên », văn học thời kỳ này đă phát huy một chủ đề trung tâm là chủ nghĩa nhân đạo, lấy con người làm đối tượng. Con người bị đoạ đày trong xă hội, con người thường xuyên tranh đấu chống áp bức, con người mơ ước hạnh phúc và khao khát t́nh yêu. Dĩ nhiên chủ nghĩa nhân đạo không phải là đề tài thuần khiết và duy nhất nhưng là giá trị cơ bản, là nét khu biệt của nền văn học Việt Nam giữa hai thế kỷ XVIII và XIX. Không phải ngẫu nhiên mà người phụ nữ chiếm địa vị trung tâm của văn chương quốc âm ở một giai đoạn mà trật tự phong kiến đang bị lung lay. Người phụ nữ, từ nàng chinh phụ đến người cung nữ, đến cô gái giang hồ như Thuư Kiều hay người đàn bà chửa hoang trong thơ Hồ Xuân Hương, đều điển h́nh cho khát vọng tự do trong một xă hội từ nông thôn đang chuyển về thành thị. Nguyễn Du và Hồ xuân Hương là cặp t́nh nhân của thành phố, là đôi lứa tài tử giai nhân đă cùng bơi thuyền hái sen trên Hồ Tây những năm 1790, như Nguyễn Du đă nhắc lại trong một bài thơ chữ Hán: Mộng Đắc Thái Liên Mơ thấy hái sen Khẩn thúc giáp điệp quần, Xắn cao quần cánh bướm,
Thái thái Tây hồ liên, Hồ Tây hái hái sen,
Kim thần khứ thái liên, Rạng ngày đi hái sen,
Và Hồ Xuân Hương cũng có ghi lại trong bài thơ nôm gủi quan Đông các Nguyễn Hầu, giọng thắm thiết lẫn chút bùi ngùi: Dăm khách muôn ngh́n nỗi nhớ nhung
Chúng tôi ghi lại chuyện này, v́ là một cuộc t́nh hiếm hoi c̣n ghi lại trong văn bản là hai bài thơ hay; nó phản ánh đời sống t́nh cảm một thời, một t́nh yêu nằm ngoài khuôn khổ hôn nhân theo lễ giáo. Thế kỷ XVIII: Văn học chữ Hán Thế kỷ XVIII, văn học chữ Hán v́ g̣ bó trong mực thước phong kiến nên không có nét độc đáo, nhưng cũng đóng góp nhiều tư liệu quư giá, như những trước tác của Lê Quư Đôn (1726-1784) về rất nhiều địa hạt: Sử kư, địa lư, phong tục, sản vật. Ông là một trong những người đầu tiên khảo cứu, sưu tầm về văn học nước ta, đă ghi lại thơ văn từ thời Lư Trần, trong Toàn Việt Thi Lục. Và đây đó ông đă đưa ra những lư luận văn học sớm nhất. Lê Quư Đôn có lẽ là nhà bác học Việt Nam đầu tiên đă đọc sách Âu Tây qua bản dịch chữ Hán, đă nói chuyện năm châu bốn bể, đă tán thành thuyết quả đất tṛn của Copernic. Riêng với bộ Vân Đài Loại Ngữ ông đă trích dẫn 557 đầu sách, trong đó có những tác phẩm Âu Tây. Sang đầu thế kỷ XIX Phan Huy Chú (1782-1840) sẽ tiếp tục sự nghiệp bách khoa này với bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí 49 cuốn là một bộ bách khoa toàn thư, vượt cả Vân Đài Loại Ngữ về mặt phương pháp phân loại và hệ thống hoá. Những sưu tập thơ văn thời kỳ này rất quan trọng về mặt ǵn giữ văn bản, thiết lập thư tịch, tiếc rằng các tác gia như Lê Quư Đôn, Bùi huy Bích chỉ lưu tâm đến thơ chữ Hán mà không ghi lại thơ Nôm. Dĩ nhiên là thơ văn chữ Hán giai đoạn này vẫn là sáng tác chính thống của các nhà nho; đặc sắc nhất là kư sự lịch sử Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô gia văn Phái, do Ngô th́ Chí khởi thảo. Tác phẩm là một sử liệu có giá trị văn học cao, ghi lại những biến cố chính trị quân sự và phản ánh linh động xă hội cuối thế kỷ XVIII, thời kỳ suy thoái của lư tưởng Khổng Mạnh. Một nho sĩ đă trắng trợn trả lời thầy học là Lư trần Quán: « Sợ thầy không tày sợ giặc, yêu chúa mựa tựa yêu thân. » Sách cũng đă ghi lại chiến thắng hiển hách của Nguyễn Huệ với đạo quân Tây Sơn, mà sau này nhà Nguyễn Gia Long sẽ liệt vào hạng « nguỵ triều » và không cho nhắc nhở. Nhân vật truyện Hoàng Lê Nhất Thống Chí tuy chỉ là một kư sự lịch sử biên niên, nhưng có giá trị văn học cao v́ các tác giả chứng tỏ đă có một ư thức văn học rơ rệt, nghĩa là ư thức về chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ. Khi viết, th́ phải viết làm sao cho hay. Tạo một nhân vật, phải làm sao cho linh động, như những nhân vật Nguyễn Huệ, Nguyễn hữu Chỉnh. Ư thức văn học ấy đă phát huy thẩm mỹ câu thơ lục bát. Trước đó, câu thơ sáu-tám chủ yếu là vần vè, trong thế kỷ XVIII, đi kèm với cặp thơ song thất, câu thơ lục bát mỗi ngày một điêu luyện và đạt tới chức năng thi pháp cao; rồi dần đào tạo ra một thể loại văn học dân tộc là truyện nôm, bằng thơ lục bát, với một tuyến nhân vật đa diện. Nhân vật truyện, như Thuư Kiều, Kim Trọng chẳng hạn, dù vay mượn của Trung Quốc cũng là một khái niệm mới trong văn học Việt Nam thời đó, xuất hiện đồng thời ở truyện dân gian như Phạm Công Cúc Hoa và truyện thành văn như Hoa Tiên, Phan Trần, Nhị Độ Mai, và sau này là Lục Vân Tiên. Ngày xưa từ thời Lư Trần đến Lê Sơ văn học ta không có những nhân vật cá nhân hiện thực và súc tích như vậy. Từ thế kỷ XVIII tuyến nhân vật hư cấu này có tên có tuổi, có cuộc đời riêng, tâm sự riêng, có anh hùng như Từ Hải, có gian manh như Mă Giám Sinh, có những sầu t́nh khắc khoải « máu theo nước mắt hồn ĺa chiêm bao » như Kim Trọng. Và nói chung là có nhu cầu t́nh dục. Nhân vật truyện, những con người có cá tính phát triển thành hệ thống, chủ yếu là vào thế kỷ XVIII, khi con người ư thức được thân phận ḿnh và bắt đầu thắc mắc về quyền sống, quyền làm chủ số mệnh. Ôn Như Hầu, Nguyễn gia Thiều (1741-1798) là cháu ngoại chúa Trịnh Cương, 18 tuổi đă làm tướng, làm quan to, ngày ngày vào ra nơi cung cấm mà cũng đă than thở: Quyền hoạ phúc trời tranh mất cả
Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán
Câu ai oán của người cung nữ nói lên số kiếp phù sinh, mà con người thế kỷ XVIII bắt đầu nhận thức và bắt đầu phản khángá; hoặc trực tiếp qua những ngâm khúc hoặc gián tiếp qua số phận ch́m nổi của nhân vật tiểu thuyết. «Quyền hoạ phúc» nói là trời giành mất cả, nhưng kỳ thực là trong tay vua chúa, quan lại, cường hào ác bá hay có khi chỉ là mẹ cha, tộc họ Cha mẹ nói oan, quan nói hiếp
Xă hội phong kiến rệu ră, đời sống đô thị đang thành h́nh, phát huy ư thức cá nhân. Đồng thời kỹ thuật in sách đă phát triển. Thể thơ lục bát đang trở nên điêu luyện, truyện chữ Nôm cũng đang trưởng thành, trên cơ sở câu thơ lục bát; cùng một lúc, ngần ấy yếu tố kết hợp trong một hoàn cảnh lịch sử, đă thúc đẩy bộ môn tiểu thuyết, c̣n gọi là Truyện Nôm vơí một hệ thống nhân vật đặc sắc, đa dạng và linh động, mà trung tâm là nhân vật nữ: Đau đớn thay phận đàn bà
Lời chung, là chung cho mọi người. Không cứ ǵ là đàn bà. V́ không cứ ǵ là đàn bà mới đau đớn và bạc mệnh. Thuư Kiều chỉ là một biểu tượng, cho con người cá nhân khao khát tự do, t́nh yêu và hạnh phúc, nhưng bị dày ṿ trong xă hội. Không cứ ǵ là xă hội phong kiến. Hát Bội và Hát Nói Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX c̣n xuất hiện một tuyến nhân vật văn học khác, bước ra từ kịch hát, từ Sân Khấu Tuồng Chèo. Chèo là những hài kịch dân gian ra đời từ thời Lư, thịnh hành ở Đàng Ngoài, tiêu biểu là Quan Âm Thị Kính với nhân vật Thị Mầu. Tuồng Hái Bội ra đời từ thời Trần, nhưng không được thịnh hành. V́ trong một thời gian dài nghệ thuật sân khấu nói chung bị luật pháp nhà Lê giới hạn: một ông vua sáng suốt, như Lê Thánh Tông mà đă đuổi Tuồng Chèo ra khỏi cung đ́nh, bộ luật Hồng Đức kỳ thị giới nghệ nhân sân khấu: Con em đào kép không được đi thi, không được kết hôn với con quan... Đến thế kỷ XVIII ở Đàng Trong các chúa Nguyễn mới chấp nhận, rồi dần dần khuyến khích bộ môn Tuồng Hát Bội để truyền bá lập trường phong kiến và lư tưởng tôn quân, thờ vua đến chết. Hát Bội được quần chúng miền Nam hâm mộ v́ là một bộ môn giải trí giàu âm thanh, màu sắc, động tác và t́nh tiết. Các tuồng nổi tiếng như Sơn Hậu, Tam nữ Đồ Vương, hay những Tuồng Đồ như Trần Bồ, Nghêu Ṣ ốc Hến, hài kịch xă hội dân gian, tạo nên một sinh hoạt văn hoá cộng đồng rộn ră và lành mạnh. Nghệ thuật Hát Bội xây dựng sự đồng thuận xă hội trên một giang sơn mới, tạo gắn bó cho những thế hệ lưu dân sống rải rác và rời rạc.Kịch Hát này có chức năng bồi đắp tâm lư quần chúng, ư thức tập thể cho một xă hội mới, trên một vùng đất mới khai khẩn là Đàng Trong, tức là Miền Nam bây giờ. Các chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn về sau, vào thế kỷ XIX thấy rơ tiềm lực chính trị của Hát Bội, như qua các vở Đào Phi Phụng, Lư Thiên Luông, những bi hùng kịch hấp dẫn, nên đă khuyến khích bộ môn này bằng nhiều chính sách quy mô. Bản thân các vua Minh Mệnh, Tự Đức đứng ra lănh đạo việc chỉnh lư, sáng tác tuồng, nhờ đó mà bộ môn này được phát triển rộng răi, chủ yếu là ở miền Trung và miền Nam . Bên cạnh đó, đầu thế kỷ XIX, nghệ thuật ca xướng, như hát ả đào c̣n khai sinh ra một loại h́nh văn học mới là Hát Nói, một trong nhiều thể loại của Ca Trù cổ truyền. Hát nói là một bài thơ phổ theo nhịp phách để các đào nương ca xướng trong những nhà hát cô đầu thời trước. Có thể nghĩ rằng Hát Nói đối lập với Hát Bội: Hát Nói là môn tiêu khiển của thiểu số trưởng giả ở các thành thị miền Bắc, không vượt khỏi Đèo Ngang. Hát Bội là sở thích của quần chúng thuộc mọi tầng lớp, thịnh hành ở nông thôn miền Nam nhiều hơn miền Bắc. Hát Nói là một thể thơ phóng túng, không hạn chữ, định câu, ép vần: vần chân liên tiếp vần lưng, vừa bằng vừa trắc, miễn sao cho có nhạc điệu êm tai. Một thể thơ linh động, đạt tới đỉnh cao với tác phẩm Nguyễn Công Trứ, nội dung phong phú, vừa trữ t́nh vừa khẩu khí. Về sau các nhà thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà..... đều có sử dụng thể Hát Nói. Một thể loại văn học ngày nay đă mai một, dù cho nghệ thuật Ca Trù có được phục hưng. Nửa sau Thế Kỷ XIX Văn thơ yêu nước Từ giữa thế kỷ XIX hải quân Pháp đă tấn công vào địa phận Việt Nam, đánh vào Đà Nẵng (1847;1858) chiếm Gia Định (1859) miền Đông rồi miền Tây Nam kỳ (1862; 1867) và tấn công ra phía Bắc đánh vào Hà Nội (1873). Triều đ́nh Huế mất đất rồi mất toàn bộ chủ quyền (1883). Đă nhiều người quy kết trách nhiệm vào vua tôi nhà Nguyễn bất tài, không kịp thời canh tân xứ sở và bất lực trong việc bảo vệ đất nước. Đúng thôi. Nhưng cũng nên nhớ đến tương quan lực lượng trên thế giới lúc đó và ưu thế của nền văn minh Âu Mỹ, không phải chỉ nhờ vào súng đạn, mà c̣n dựa vào những định chế chính trị, kinh tế, khoa học hữu hiệu. Ví dụ Nhật Bản thời Minh Trị (từ 1867) là một biệt lệ, không có tính cách điển h́nh hay quy luật. Quy luật là mạnh được yếu thuaá: mạnh yếu trong lẽ tương đối của giai đoạn, tuỳ thuộc vào vũ khí, nhưng không chỉ là chuyện vũ khí. Trong giao động của một quốc gia đang mất dần lănh thổ và chủ quyền, ḍng văn học chủ lưu dĩ nhiên là văn thơ yêu nước, và chống ngoại xâm, cũng như bao nhiêu lần trước, khi tổ quốc lâm nguy. Lực lượng nhà văn, nhà thơ ái quốc rất đông đảo, từ Bắc vào Nam, bao gồm mọi thành phần xă hội, từ những lănh tụ chống Pháp như Nguyễn Quang Bích (1832-1889), Nguyễn xuân Ôn (1825-1889) đến những nhà thơ tật nguyền, sức yếu thế cô như Nguyễn đ́nh Chiểu (1822-1888) tác giả Lục Vân Tiên đă có nhiều tác phẩm yêu nước sôi nổi: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (1861) Văn Tế Nghĩa Sĩ Trận Vong Lục Tỉnh (1874) ngôn ngữ mộc mạc mà rắn chắc, sùng sục từ trái tim yêu đạo nghĩa và yêu đất nước. Đôi khi Đồ Chiểu diễn tả tâm sự lạc loài bi phẫn của người dân mất nước như bàiá: Chạy Giặc Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Trong ḍng văn học yêu nước, đời sau thường ca ngợi những bài thơ xướng hoạ của Phan văn Trị lên án gắt gao Tôn Thọ Tường và khuynh hướng hàng giặc, hợp tác với Pháp thời đó. Và ngược lại th́ khuynh hướng nô dịch không để lại tác phẩm văn học đáng kể. Người Pháp củng cố nền bảo hộ, đặt ra một trật tự xă hội mới, đặc biệt là phát triển các thành thị, những trung tâm trao đổi hàng hoá đồng thời là cơ sở hành chánh, địa bàn của chế độ thuộc địa. Những biến chuyển xă hội không thể không tạo ra một ḍng văn thơ phê phán dưới dạng trữ t́nh, hay trào phúng như ở Nguyễn Khuyến, hay như ở Trấn Tế Xương trong bài tả cảnh Nam Định sau đây: Có đất nào như đất ấy không
Đặc sắc đa dạng của thơ Nôm Nhà thơ Nguyễn Khuyến, bên cạnh những bài thơ phúng thế, phê phán cảnh đời lố lăng trong một xă hội giao thời, đă để lại một thi phẩm xuất sắc gồm có thơ vừa chữ Hán, vừa chữ Nôm và thơ chữ Hán tự ḿnh dịch ra Quốc âm. Chữ Nôm trong thơ Nguyễn Khuyến đă đạt đến sự toàn bích trong phẩm chất phong phú, tinh vi và uyển chuyển. Chữ nôm Nguyễn Khuyến bám sâu bâu chặt vào tục ngữ ca dao, vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của hàng xóm láng giềng và tận dụng nét trang nhă hào hoa của văn chương thông thái. Nhà thơ Nguyễn Khuyến là một tâm hồn sâu sắc, nhạy cảm, tài t́nh, đă để lại những bài thơ trác tuyệt gợi nên cảnh mùa thu trong làng mạc Việt Nam, hay những bài thơ t́nh bạn nhẹ nhàng, trong sáng, hóm hỉnh toàn bằng chữ Nôm: Đă bấy lâu nay bác tới nhà
Nguyễn Khuyến là nhà thơ xuất sắc của t́nh bạn ,với bài Khóc Dương Khuê. Dù rằng Dương Khuê không cùng đi một đường văn học. Thơ Dương Khuê theo khuynh hướng thoát ly và hưởng lạc như Dương Lâm hay Chu Mạnh Trinh. Đă có một thời lối thơ hành lạc bị lên án là tiêu cực thậm chí là đồi truỵ. Nhưng xét cho cùng th́ thú vui nhàn lạc cũng là nhu cầu b́nh thường của con người... Các tác giả này đều có đóng góp nét đẹp riêng cho Văn học. Nhưng dù sao, họ cũng là thế hệ Nho sĩ cuối cùng viết văn làm thơ. Sau đó, chính quyền bảo hộ đă áp đặt nền giáo dục mới với văn tự mới là chữ quốc ngữ theo mẫu tự la tinh. Lối chữ này có từ thế kỷ XVII qua tự điển Việt Bồ La (1656) của nhóm Linh Mục Alexandre de Rhodes, nhưng chỉ giới hạn trong giới truyền giáo, chỉ được phát triển sau này nhờ chính sách thuộc địa. Sang đầu thế kỷ XX, các cuộc thi chữ Hán lần lượt bị băi bỏ và nền Hán học dần dần tàn lụi. Một nền văn học mới sẽ thành h́nh và phát triển mau lẹ nhờ chữ quốc ngữ và khả năng truyền bá rộng răi của sách vở và báo chí. Chúng tôi sẽ đề cập đến những nét chính, những giai đoạn lớn của nền văn học quốc ngữ của thế kỷ XX trong một loạt bài khác, theo từng bộ môn, từng thời kỳ để cho lư luận được phân minh và chính xác. Tổng quan Qua mười thế kỷ, từ thế kỷ thứ X đến XIX, văn học Việt Nam từng bước từng bước đă lần theo tiến tŕnh của dân tộc, luôn luôn gắn bó với vận mệnh đất nước và phản ánh những khát vọng sâu sắc của nhân dân, nói chung là của con người trong nhân loại, trong từng hoàn cảnh lịch sử và địa lư riêng. Trong một thời gian dài, từ thế kỷ thứ X đến XIV, nét khu biệt của Văn học Việt Nam là khẳng định độc lập quốc gia về chính trị và văn hoá trước những lấn chiếm hay đe doạ đến từ phương Bắc. Sau đó là giai đoạn khẳng định giá trị phong kiến phát huy đến cao độ vào thời Lê Thánh Tông cuối thế kỷ XV và dần dần suy thoái. Từ thế kỷ XVIII đă phát sinh một trào lưu văn học mới, chủ yếu bằng chữ Nôm đă trưởng thànhá: ấy là chủ nghĩa nhân đạo mà tiêu biểu là Truyện Kiều của Nguyễn Du đầu thế kỷ XIX. Nửa sau thế kỷ XIX , đất nước dù mất chủ quyền, văn học Việt Nam, bằng chữ Nôm hay chữ Hán vẫn giữ trọn vẹn khí tiết và uy thế trong khuynh hướng yêu nước chống ngoại xâm hay yêu quê hương ngợi ca làng xóm. Con người Việt Nam đội trời đạp đất Việt Nam đă minh định vị trí của ḿnh bằng tiếng nói văn học giàu sang và trong sáng. Quá tŕnh dân tộc là một lịch sử truân chuyên, nhưng không ngừng tiến triển. Từ một bộ tộc nhỏ ven sông Hồng, bị ngàn năm đô hộ mà đă vùng lên giành lại chủ quyền. Rồi một mặt pḥng ngự phương Bắc, một mặt phát triển về phương Nam trù phú. Vừa giữ nước, vừa dựng nước vừa mở mang bờ cơi, thật là dũng cảm. Nói là anh hùng cũng không quá đáng. Trong quá tŕnh đó, văn học đă đóng đúng vai tṛ của ḿnh, từ khi phôi thai đến lúc trưởng thành. Văn học lănh nhiệm vụ chỉ đạo hay phê phán hay phản ảnh đời sống dân tộc trong vinh quang và cơ cực và lúc nào cũng tỏ ra xứng đáng. Văn thơ đồi truỵ hay phản dân hại nước dường như không có chỗ đứng trong lịch sử văn học. Quá tŕnh văn học đă là vậy. Nhiệm vụ hiện tại và tương lai của văn học là góp phần xây dựng tự do và hạnh phúc con người trong một xă hội tiên tiến và dân chủ bằng cách thẳng thắn phê phán những tệ đoan của xă hội, những tác hại của cường quyền và bạo lực. Văn thơ xu phụ quyền thế chưa bao giờ sáng giá. Văn thơ của hội Tao Đàn thời Lê Thánh Tông và Triều Thần Thiệu trị Tự Đức chứng tỏ điều đó. Chúng tôi khỏi cần nêu lên những ví dụ gần hơn hay thời sự mà nhiều người đă biết. Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước văn học đă có những đóng góp kịp thời và xứng đáng trong quá khứ. Nhiệm vụ mới của văn học là phát huy một xă hội tiến bộ, cởi mở, tự do, dân chủ, nâng cao phẩm chất con người và giúp con người Viềt Nam, đầu niên kỷ mới này, hoà nhập và hoà hợp với một thế giới tiên tiến. Một thế giới với những phương tiện truyền thông mới, đang biến thành một cái làng nhỏ như làng Yên Đổ của Cụ Nguyễn Khuyến. Văn học phải bảo đảm tính dân tộc nhưng đồng thời phát huy tính nhân loại, mà ba nét chính hiện nay là tự do, dân chủ và yêu chuộng hoà b́nh. Chúng tôi cầu chúc cho Văn học Việt Nam sớm đạt được những yêu cầu đó mặc dù điều kiện sáng tạo và phổ biến tác phẩm c̣n khó khăn, tự do phát biểu c̣n bị giới hạn. ĐẶNG TIẾN
|
|
|