|
||
|
"Nhà mẹ Lê là một gia đình một mẹ với mười một người con (…). Mười một đứa mà đứa lớn mới có mười bảy tuổi, đứa bé nhất hãy còn phải bế trên tay (…). Trong ngày hè nóng nực, con bác Lê đứa nào cũng lở đầu, nên bác lấy phẩm xanh bôi cho chúng nó. Trông mẹ con bác lại giống mẹ con một đàn gà, mà người ta bôi xanh lên đầu cho khỏi lẫn." Đàn gà bôi phẩm xanh ở đây không biết rõ là gà thật trong sân, hay cảnh Gà Đàn trong tranh dân gian. Nằm trên biên giới giữa văn học viết và truyền khẩu là câu thơ «gà» này: Phất phơ ngọn trúc, trăng tà
Nguyên là sáng tác của Dương Khuê (1839-1902), tả cảnh Hà Nội. Thọ Xương là tên huyện, khu thương mãi; kết hợp với huyện Vĩnh Thuận, phía Hồ Tây lập thành phủ Phụng Thiên, sau đổi là Hoài Đức, là thành phố Hà Nội bây giờ. Trấn Vũ là tên đền, còn gọi là Trấn Quốc hay Trấn Bắc, nằm trên một bán đảo nhỏ ven Hồ Tây. Câu thơ có âm vang dân giã nên được phổ biến, nhiều người nhầm với ca dao, và được lan truyền theo những ngọn gió la đà, vào tận Thiên Mụ, Thủ Thiêm. Nền văn chương quốc ngữ, nhất là phong trào Thơ Mới 1932-1945, hình thành song song với sự phát triển các đô thị. Thời ấy, những thành phố lớn vẫn còn âm vang thôn dã. Mà tiếng gà gáy là âm vang biên giới giữa nông thôn và thành thị – quá khứ và hiện tại. Do đó mà văn thơ eo óc tiếng gà, từ Lưu trọng Lư đến lời nhạc Trịnh Công Sơn sau này: Xao xác gà trưa gáy não nùng Nhiều người thuộc câu thơ thật hay này của Lưu trọng Lư. Chữ trưa đứng giữa câu như mặt trời đứng bóng, giữa hai âm g (gà – gáy) cân phân giữa hai cặp nguyên âm luyến láy khác: xao xác, não nùng; tất cả loang xa trong không gian bằng phụ âm a. Tế Hanh cũng đã tạo được tiếng gà não nùng như thế: Sang bờ tư tưởng ta lìa ta
Nguyên âm t luyến láy 7 lần trên 14, như tiếng gà xé rách nội tâm. Nhưng nhà thơ thân thiết nhất với loài gà có lẽ là Huy Cận, tác giả ngơ ngác tựa gà trống. Phải yêu tiếng gà sâu sắc mới làm được bài thơ này, trích trọn bài: Gà gáy đầu thôn, gáy giữa thôn,
Gà gáy trong mưa tiếng vẫn trong,
Núi Tản như con gà cổ đại
Bài thơ làm năm 1972, tác giả tự giải thích bằng một tựa đề dài: Gà gáy trên cánh đồng Ba Vì được mùa, dài dòng một cách không cần thiết; nó lại hiện thực hóa bài thơ, giới hạn khả năng truyền cảm của tiếng gà. Năm 1962, Huy Cận có bài Sớm mai gà gáy tả cảnh nông thôn, thơ súc tích, rạo rực, sâu lắng, riêng tư: Tiếng gà gáy ơi! gà gáy ơi!
Cha dậy đi cày trau kịp vụ,
Gà gáy nhà ta, gáy láng giềng,
Hàng cau mở ngọn đón ngày vào,
Gà gáy ơi! tiếng gà gáy ơi!
(gáy ran = gáy vang; ràn = chuồng trâu, bò (chính xác là phần trên của chuồng, nơi gác nông cụ); cày trau = cày vỡ, lật đất phơi cho ải, dễ tơi; nhút = dưa muối làm bằng xơ mít) Đời thực, cảnh thực, nhưng hiện thực đã nhập tâm, nhập thần, trở thành ma lực truyền cảm, yếu tính của nghệ thuật. Triền núi cao, đỏ như mào là cảnh thật, một rặng núi tên là Mồng Gà gần làng Ân Phú, quê hương của Huy Cận, một vùng cận sơn Hà Tĩnh. Huy Cận đã trải qua thời thơ ấu, lang thang, đùa chơi, chăn trâu, thả diều dưới chân núi; và có thể cái tên Mồng Gà, kết hợp với tiếng gà gáy, đã suốt đời ám ảnh nhà thơ. Khi anh tả núi Tản Viên «mào đỏ thắp bình minh» thì đã di chuyển tâm cảnh Mồng Gà từ ấu thời sang hiện thực, và từ hiện thực gợi lên huyền thoại. Thậm chí khi ra biển khơi, anh vẫn lắng nghe Tiếng Gà trên Biển: Tiếng gà trên biển hạ cung trầm,
Câu cuối súc tích, yêu cầu được hiểu theo nhiều giai tầng khác nhau trong địa chất của thi pháp Huy Cận. Năm 1967, Mỹ ném bom bắn phá dữ dội khu Tư. Huy Cận về sống tại vùng Thanh Hóa ba tháng dưới bom đạn; giữa những ầm vang long trời lở đất thì nhà thơ lắng tai nghe: Đây là giờ trưa. Những con gà cục tác. Bài Giờ Trưa làm tại Hàm Rồng bắt đầu như vậy. Và kết thúc: Buổi trưa ấm lại bốn bề tiếp tục,
Dụng ý nhà thơ là chọn một hình ảnh tầm thường để nói lên niềm tin bình tĩnh của người dân, ở cuộc sống, trước thảm họa chiến tranh. Nhưng biểu tượng cho chính luận được «năm châu chân lý đứng nhìn theo», sao lại là «con gà cục tác»?
Có chàng ngơ ngác tựa gà trống
Câu thơ không mấy duy lý: gà trống sao lại ngơ ngác, trẻ thơ? hình ảnh ngớ ngẩn, nhưng vẫn hay, thậm chí hay hơn nhiều câu duy lý khác về sau của Huy Cận, được nhiều người ca tụng. Trong Lửa Thiêng, Huy Cận có bài Em Về Nhà rười rượi, man mác: Tới ngã ba sông nước bốn bề,
Âm vang «gà lạ» ngân lên thê thiết. Xuân Diệu đã phê là «trìu mến, chứa cảnh, chứa hồn, chứa cả những gì không thể nói được; đây là Ngã Ba Tam Sa, trên sông Phố, tại Linh Cảm, ở quê Hà Tĩnh của Huy Cận, đã thấm vào chú học sinh từ mấy mươi năm trước.»1 Địa danh Xuân Diệu đưa ra, đã gây xúc động nơi Võ Phiến, trong một buổi «Đàm Thoại» với Nguyễn Xuân Hoàng, năm 1993 (không can dự gì đến tiểu sử Huy Cận). Linh Cảm là một làng nhỏ, cách Vinh 30 km về phía Tây Nam. Võ Phiến kể: "Địa danh ấy làm tôi liên tưởng đến mối tình đau đớn của người bạn lớn hơn tôi ba bốn tuổi… Người nữ sinh anh yêu chính ở Linh Cảm. Bấy giờ nào tôi biếât Linh Cảm là đâu, nhưng cái cách anh nói đến hai tiếng Linh Cảm trong những đêm tâm sự truyền cho nó bao nhiêu là thắm thiết, bi thương, quằn quại (…) Đang dạy học ở Huế, anh bạn bỏ dạy, hỏi đi đâu, bảo nghe mách có chỗ dạy ngoài Hà Tĩnh, muốn ra xem thử. Lại lần khác gặp biến cố lớn, gia đình chờ mãi bặt tin anh. Về sau anh về, bảo rằng, lúc ấy bị kẹt ở Linh Cảm, v.v. . Tôi lén lút nhìn anh, thương xót. Từ đó tiếng gà lạ gáy bên đê lại gợi lên trong trí tôi những liên hệ u uẩn, khổ đau, gợi một nét mặt đẹp dịu dàng, và buồn bã; cái ngã ba sông nước bốn bề tự dưng liên hệ với nỗi đau âm thầm một đời… »2. Dĩ nhiên, đây là cả một câu chuyện đầy tình tiết, tình cảm, tình bạn, tình yêu. Nhưng nhà văn cảm nhận cả khối «u uẩn» đó, vì câu thơ hay và anh đã yêu thích từ trước, thời anh chưa có kinh nghiệm văn học để «mình càng gần gũi lâu một ngôn ngữ, càng thấy nó chất chứa trong mỗi lời, mỗi tiếng lắm điều ngổn ngang. Hãy thư thả, thư thả. Để cho mỗi tiếng từ từ nhả ra hết cái chứa đựng tình cảm của nó.» (sđd). Góc bể chân trời, tuổi xế bảy mươi. Võ Phiến viết như vậy là đã tận tình với văn chương và tận nghĩa với cuộc đời. Nhưng tôi vẫn muốn đi xa hơn nữa với anh. Sở dĩ Võ Phiến «linh cảm» được với tiếng gà Ngã Ba Tam Sa trên sông Phố, là vì bản thân anh, cũng như Huy Cận đã bị tiếng gà ám chướng. Trong tập tùy bút Thư Nhà, 1962, Võ Phiến kể chuyện làng quê Bình Định trong chiến tranh. Năm Thiều, dân vệ xã, bị hạ sát; người cha là Thập Tam làm phó thôn trưởng nhận thư cảnh cáo, phải lánh vào Sài Gòn, sống nhờ người con gái; «tính ở đây luôn, vì ngán ngoài đó lắm». Chỉ được vài tháng, vào ngày áp Tết, lại bỏ về quê, vì một tiếng gà trái chứng. Người con gái kể lời cha, vào khoảng 9 giờ tối: "Hai ba đêm nay tao nghe con gà nòi nhà phía cuối đường cứ gáy vào giờ này. Sung sức quá rồi đó nghe. Gà của ai đó, phải nói với họ cho «xổ» đi. Xổ là cho gà nó đá nhau qua loa cho bớt sung sức. Nhà tôi cười: ai hơi sức đâu đi tìm chủ gà, ở thành phố này hơi nào để ý….Vậy mà rồi bữa sau, cậu tôi tìm tới ông cụ ở cuối đường làm quen, nói chuyện gà đó!» Vậy là ông cụ «nhớ làng xóm quá rồi… ở chốn thị tứ xe cộ ồn như vầy mà để lỗ tai lắng đón không sót một tiếng gà gáy…" "Thôi, thế là cuối năm, một người nữa lại quay về, gắn liền vận mệnh mình với số phận làng mạc." 3. Trên đời, không có Thập Tam nào trong thực tế, mà chỉ có tác giả mới là người để lỗ tai lắng đón không sót một tiếng gà gáy. Tuy nhiên, không giống nhân vật Thập Tam mình đã hư cấu, Võ Phiến dường như đã lỗi hẹn với một buổi cuối năm nào đó.
Ví dụ một trích đoạn chửi mất gà miền Núi Nùng Sông Nhị: "Thằng đứng chiếu ngang, thằng sang chiếu dọc, thằng đọc văn tế, thằng bế cái hài, thằng nhai thủ lợn. Con gà nó ở nhà tao nó là con gà, nó sang nhà mày nó là thần đanh đỏ mỏ… " Miệt Núi Ngự Sông Hương, lời chửi còn ngân nga hơn: "Hôm qua tau mất con gà mái dầu khoang cổ. Hôm ni tau mất con gà mái nổ khoang bông. Con mô bắt là gái trốn chúa lộn chồng. Thằng mô bắt là đàn ông ba đời đi ở đợ… Tụi Bay hãy vén mái tai, gài mái tóc, chống cửa ngõ cho cao, chặt hàng rào cho thấp mà nghe tao chửi… Bay ăn cho chồng bay sợ, cho vợ bay kinh, bay ăn cho ngã miếu sập đình, cho mồ cha bay chết hết, để một mình bay ăn." Và như thế người chửi cứ ca cẩm hằng giờ. Lời lẽ ở đây chủ yếu là vần vè, tầm thường, khuôn sáo, nhưng không phải là không có văn chương. Nhìn dưới góc đôï dân tộc học, nó cũng là một khía cạnh văn hóa. Thôi thì chuyện cà kê gà ngóe Tết Ất Dậu năm nay nên ngưng lại ở đây, nơi tiếng gà lạc loài, eo óc, não nùng này.
Chuyện gà ngày Tết, nói bao nhiêu cũng không hết những ý những tình mà Bàng Bá Lân đã diễn đạt trong một câu thơ ngắn gọn: Tết về nhớ bánh chưng xanh
ĐẶNG TIẾN
Chú thích: 1 Xuân Diệu, Thế Giới Thơ Huy Cận, tr. 54, nxb Trẻ, 1987, TPHCM. (Đoạn văn này Xuân Diệu viết năm 1984, không có trong bản biên tập lại tháng 11-1985, một tháng trước khi anh mất và sẽ được dùng làm Lời Giới Thiệu cho Tuyển Tập Huy Cận, 1986) 2 Võ Phiến, Viết, tr. 197, nxb Văn Nghệ, 1993, California, in lại trong Đàm Thoại, tr. 68-69, nxb Văn Mới, 2003, California. 3 Võ Phiến, Thư Nhà, tr. 152-154, nxb Thời Mới, Sài Gòn, 1962. |
|
|