|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Ông viết đủ mọi thể nhạc: trường ca, truyện ca, kháng chiến ca, bé ca, đạo ca, tục ca, t́nh ca... Nhưng căn bản, đầu tiên và cuối cùng, ông vẫn là một nhạc sĩ viết t́nh ca, trước sau vẫn chỉ như thế. Ông có thể được biết tới qua những loại nhạc khác, nhưng ông vẫn trung thành và thuỷ chung với nhạc t́nh hơn hết. Bản nhạc t́nh đầu tiên ông viết là bài Cô Hái Mơ, ca khúc ông đóng góp phần nhạc cho một bài thơ của Nguyễn Bính. Cô Hái Mơ ra đời năm 1942, như ông cho biết, là một trong những ca khúc cải cách sơ khởi của nền tân nhạc Việt. Bài hát này, cũng như tác phẩm của các nhạc sĩ tuổi tác trên dưới, cùng thời với ông, được viết để đáp ứng đ̣i hỏi của giới thanh niên thời đó, thế hệ chỉ được nghe các ca khúc Tây phương du nhập vào Việt Nam với những giọng ca của âm nhạc Pháp. Tuổi trẻ muốn có những ca khúc mà Lê Thương gọi là "bài hát ta, điệu Tây", những ca khúc viết về t́nh yêu sử dụng ngôn ngữ và nhịp điệu mới, tŕnh tấu bằng nhạc cụ Tây phương, đi ra khỏi những ḍng nhạc cổ truyền với nhịp xênh, tiếng phách không c̣n hấp dẫn giới nghe nhạc trẻ tuổi và Tây học nhiều nữa. Như thế, ông bước vào con đường sáng tác, khởi đầu bằng một t́nh khúc. Ông có thể không coi đó là một đóng góp hoàn toàn của riêng ông v́ phần lời ca vẫn là của một người khác. Bài Cô Hái Mơ được ông đem đi hát ở nhiều nơi trong nước, đem tới người nghe nhạc Việt, một sinh hoạt mới mẻ đầu thập niên 40, một ca khúc khác hẳn những ǵ người ta được nghe trước đó. Thành phần thính giả trẻ tuổi, Tây học ở các thành thị lúc ấy đang muốn có những đổi mới trong âm nhạc. Khởi đi bằng một t́nh khúc, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945 đă kéo Phạm Duy đi sang một hướng đi khác. Con đường kháng chiến chống Pháp mà ông và những người cùng tuổi ông từ bỏ cuộc sống ở các thành thị, một cuộc sống tương đối yên lành để dấn thân vào. Điều này thấy rơ qua tư tưởng trí thức thành thị, tiểu tư sản trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến. Cuộc kháng chiến, có cái lăng mạn và rất nhiều nét làm dáng tiểu tư sản mời gọi. Những thành phần này lần đầu tiên có được chuyến lên đường có một mục đích hẳn hoi, không chỉ là "rũ áo phong sương trên gác trọ", không chỉ để đi một chuyến, để có thể làm "người ấy bên sông đứng ngóng đ̣" nữa. Kháng chiến và cách mạng là những cái cớ rất thuận tiện cho trí thức trẻ để làm một chuyến lên đường mặc dầu không ai có thể phủ nhận ḷng yêu nước rất có thực của họ. Cái lăng mạn tiểu tư sản làm dáng đó khiến cho Phạm Duy bỏ thành phố đi kháng chiến, nhưng trong ba lô của ông vẫn là các t́nh khúc. Bài Chinh Phụ Ca viết năm 1945 của ông đầy những h́nh ảnh lăng mạn t́nh ái mượn từ những Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, từ tráng sĩ Tiêu Sơn. Đây là chàng:
C̣n đây là nàng:
Ở giữa những t́nh khúc lồng trong khung cảnh lăng mạn cổ điển, ông viết Xuất Quân (1945), Chiến Sĩ Vô Danh (1945), Thu Chiến Trường (1946), Nợ Xương Máu (1946)... Nhưng ông lại vẫn trở về với những ca khúc đẫm mùi lăng mạn. Như Cây Đàn Bỏ Quên (1945) hay Khối T́nh Trương Chi (1945). Làm thế nào chối bỏ được nét t́nh ái trong những câu:
mặc dù lời ca Cây Đàn Bỏ Quên c̣n giản dị đến hơi ngây ngô và thêm nét khờ dại ở trong? Bài Khối T́nh Trương Chi được viết ở một tŕnh độ cao hơn nhờ khung cảnh và cái gốc cổ tích của câu truyện. Phạm Duy đưa vào phần lời ca của bản nhạc những h́nh ảnh vô cùng lăng mạn:
Trở về Hà Nội năm 1946, cuộc t́nh với một vũ nữ đă trở thành cảm hứng cho bài t́nh ca mà ông cho là đích thực và đầu tiên của ông, bài T́nh Kỹ Nữ. Bài ca làm nhớ đến T́ Bà Hành của Bạch Cư Dị, cũng "cùng một lứa bên trời lận đận " tuy chiều dài của bài hát không thể so sánh được với bài trường thi kể chuyện người ca kỹ bến Tầm Dương:
Năm 1946, ông lại bỏ Hà Nội đi lên những tỉnh miền Bắc và khởi viết một loạt ca khúc mới, những bài mà ông gọi là Thanh Niên Ca để đáp lại nhu cầu trong giai đoạn này. Đó là các ca khúc Nhạc Tuổi Xanh, Về Đồng Hoang, Đường Về Quê, Thanh Niên Ca, Thanh Niên Quyết Tiến... Trong năm 1947, người ta ghi nhận ông viết khoảng 40 bài hùng ca, quân ca, kháng chiến ca như thế. Tuy đa số mang những h́nh ảnh, ca từ hùng tráng, nhưng thảng hoặc, vẫn có những ca khúc kháng chiến mang theo rất nhiều h́nh ảnh lăng mạn. Chính ông cũng nh́n nhận điều đó như ông viết trong hồi kư: "Những bản nhạc kháng chiến ngoài nhạc tính hào hùng, c̣n có thêm chất lăng mạn" (Hồi Kư Thời Cách Mạng Kháng Chiến trang 92). Giữa không khí nhạc hùng, nhạc kháng chiến như thế, ông cho ra đời, cũng ở Lào Kai năm 1947, một ca khúc rất tiểu tư sản, từ nhạc điệu đến lời ca. Phần nhạc, ông dùng Tango, loại nhạc lúc ấy đi liền với Ấu châu ăn chơi, với đèn mờ, tiếng phong cầm, tiếng chổi quét trên mặt trống. Lời ca ông viết là một bâng khuâng giữa cây cầu, nh́n xuống ḍng nước, một lựa chọn:
Bài Bên Cầu Biên Giới là một bản nhạc t́nh hiếm hoi vào thời đó nên được phổ biến rộng răi và nhanh chóng. Bài ca, cũng như hoàn cảnh chính trị lúc ấy bầy ra trước mặt Phạm Duy những lựa chọn: ở lại với kháng chiến với khung cảnh đă bắt đầu đổi khác hay đi theo t́nh cảm của ḿnh giữa lúc t́nh cảm cá nhân bắt đầu bị đem ra phê b́nh, chỉ trích là tiểu tư sản, không thích hợp với chủ trương của những người Cộng sản đang bắt đầu ló mặt. Hoàng Cầm, một nhà thơ rất thân với ông, đă phải cột dây vào bản kịch (bị phê b́nh là không thích hợp với đường lối văn nghệ kháng chiến) của ông và treo lên cột nhà, khai tử nó, như một dứt khoát, cắt ĺa với quá khứ trí thức tiểu tư sản thành thị mà ông mang theo. Nguyễn Xuân Khoát, một nhạc sĩ đàn anh rất gần gũi ông lúc đó cũng khuyên Phạm Duy nên từ bỏ tư tưởng tiểu tư sản và những sản phẩm của đầu óc lăng mạn thành thị mà tiêu biểu là bài Bên Cầu Biên Giới như Hoàng Cầm đă làm với kịch bản của ông. V́ thế, chính bài t́nh ca đầy nét lăng mạn tiểu tư sản xa hẳn không khí kháng chiến này đă đặt Phạm Duy trước những lựa chọn đi hay ở. Ông quyết định ở lại với nhạc t́nh. Ông chưa thể bỏ kháng chiến nhưng cũng không thể từ bỏ nhạc t́nh. Ông nhất định không làm như Hoàng Cầm, không giết chết bài Bên Cầu Biên Giới. Sau bài Bên Cầu Biên Giới, Phạm Duy viết một ca khúc khác cũng lăng mạn không kém. Bài Tiếng Đàn Tôi viết năm 1947 ở Chợ Đại, Cống Thần là một t́nh khúc cũng rất tiểu tư sản. Đường lối của Cộng sản càng ngày càng rơ mặt trong cuộc kháng chiến chống Pháp, và đường lối đó không thể cho đi chung những bài ca viết về t́nh cảm riêng tư, thành phố, trí thức, lăng mạn:
Ở thời điểm toàn dân đang ôm bom ba càng lao vào chiến xa, đem thân đi lấp chiến hào mà viết những ca khúc quá lăng mạn, thiếu hẳn tính Đảng như trong đề cương văn hoá của đảng Cộng Sản th́ Phạm Duy không thể tiếp tục ở với kháng chiến được. Phạm Duy có thể bỏ văn nghệ kháng chiến nhưng ông không thể bỏ t́nh ca. Những t́nh khúc lăng mạn ông viết trong những năm cuối của thập niên 40 đưa đến một quyết định dứt khoát: ở với t́nh ca chứ không ở với văn nghệ chỉ huy, văn chương khẩu hiệu, nghệ thuật có lănh đạo. Câu cuối của Tiếng Đàn Tôi là: Lạnh lùng em đă rời tôi. Ông rời kháng chiến có lẽ cũng lạnh lùng như thế. Ông bắt đầu sửa soạn cho chuyện về thành. Nhưng trước khi trở về Hà Nội, ông c̣n viết một hai bài t́nh ca cho một khúc quanh t́nh cảm quan trọng trong đời sống của ông. Bài Đêm Xuân viết ở Chợ Neo, Thanh Hoá năm 1948:
Đêm Xuân là bài hát ngợi ca hạnh phúc đầu tiên và lớn nhất của ông. Rồi bài Chú Cuội trong đó thấp thoáng t́nh yêu dành cho cô Hằng ông cũng viết trong năm 1948 tại Thanh Hoá. Phần lời ca của hai bài t́nh ca này cho thấy nhạc t́nh của Phạm Duy mang những nét cá nhân hơn, không c̣n là những ca khúc viết cho những mối t́nh mà chính ông gọi là vu vơ, tưởng tượng hay ở ngôi thứ ba nữa. Những bài ca trước đó, trong cái nh́n của Phạm Duy, không phải là những t́nh khúc viết cho ḿnh, cho chính ông, cho tác giả. Ngôn ngữ dùng để đặt lời cho hai ca khúc Đêm Xuân và Chú Cuội thoát ra khỏi những ước lệ của những bài hát đề cập đến t́nh yêu trước đó, khi ông c̣n phải mượn chút Chinh Phụ Ngâm, chút cổ tích. Ngôn ngữ giản dị, thân mật, gần gũi nhưng không phải là không lăng mạn và thiếu chất thơ:
Sau cuộc họp năm 1950 với giới lănh đạo trung ương và được nghe tận tai những chủ trương rơ ràng của người Cộng sản đằng sau kháng chiến, Phạm Duy trở lại Thanh Hóa để sửa soạn đưa gia đ́nh về Hà Nội. Bài Cành Hoa Trắng viết sau đó, năm 1950 ở Thanh Hoá nghe đầy không khí lăng mạn cổ tích kể chuyện nang tiên Giáng Hương bị đầy xuống trần chính là ẩn dụ của chuyến đi khỏi vùng kháng chiến của nhạc sĩ họ Phạm. Ông từ Thanh Hoá về Hà Nội và đi thẳng vào Sài G̣n giữa năm 1951. Cành Hoa Trắng với ca từ lăng mạn cũng là bài t́nh ca cuối cùng ông viết khi c̣n ở với kháng chiến. Thái độ dứt khoát nhạc khẩu hiệu để về lại với t́nh ca cũng được Phạm Duy khẳng định từ đó. Phạm Duy và gia đ́nh vào Sài G̣n định cư, nhưng qua những bản nhạc ông viết trong mấy năm sau đó, người ta thấy ông vẫn c̣n loay hoay với cuộc sống, với một khung cảnh sống mới mà những kỷ niệm về miền đất cũ, quê hương miền Bắc bỏ lại vẫn níu kéo những t́nh cảm của ông: con sông đào, ṿm tre non, khói ấm hương thôn, mảnh đời ngây thơ, tóc sương mẹ già, tiếng ru nỗi niềm thơ ấu, khói lam vương, tâm hồn ch́m xuống.... Ông viết T́nh Hoài Hương, Bà Mẹ Quê, Vợ Chồng Quê, Em Bé Quê... và một loạt những bài hát về miền đất dung thân mới như Tiếng Ḥ Miền Nam, T́nh Nghèo, Ḥ Lơ... Tiếp tục ḍng nhạc đó cho đến năm 1957. Nh́n lại, ông thấy là khoảng gần 10 năm, từ năm 1948 đến năm 1957 là những năm nhạc t́nh của ông đă ngủ một giấc khá dài. Ở trang 88 của cuốn Ngàn Lời Ca, Phạm Duy viết rằng trong những năm đó, ông đă không soạn một bản nhạc t́nh nào cho riêng ông. Ông nh́n nhận trong những năm đó, ông chỉ viết được những bài ca xưng tụng t́nh yêu của những đôi t́nh nhân khác ở thôn quê (Vợ Chồng Quê) hay ở thành thị (Phố Buồn)... Ông cũng đem một số thơ ra làm công việc phổ nhạc, cho chúng một đời sống âm thanh. Và vẫn là những bài thơ t́nh là những bài ông thành công nhất khi phổ nhạc, những thơ của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư... Nhưng thực ra, Phạm Duy không hề xa rời hẳn t́nh ca như ông nói v́ chính những bài ca ông nói là viết cho những cặp t́nh nhân, những đôi lứa khác như Vợ Chồng Quê hay Phố Buồn cũng là những t́nh ca, những ca khúc nói về t́nh yêu đôi lứa... Và luôn cả những bài mà ông cho là những bước đi vào với thiên nhiên như Hoa Xuân (1953), Xuân Th́ (1953), Tơ T́nh (1956), Dạ Lai Hương (1953)... chất t́nh ca vẫn thấy rất rơ cả trong lời ca cũng như thể nhạc dùng để chuyên chở. Nhưng năm 1957, ông lại trở về với việc viết t́nh ca. Và những bài t́nh ca viết trong giai đoạn sau 10 năm đă rất khác với những t́nh ca của những năm trước. Thuở " t́nh xanh khi chưa lo sợ" đă qua đi. Những bài T́m Nhau, Thương T́nh Ca... của gia đoạn này không c̣n là những bài ngợi ca t́nh yêu trong sáng như buổi sáng, như b́nh minh của mùa xuân hoa cỏ tốt tươi nữa:
Đó là những t́nh ca tan nát, bất hạnh, những bước d́u nhau sang bên kia thế giới, d́u nhau nương thân ven chín suối... đưa nhau vào ngàn thu. Và chính trong những năm từ giữa thập niên 50 đến đầu thập niên 60, Phạm Duy lại quay trở lại với việc phổ nhạc những bài thơ t́nh mỗi khi ông thấy "không đủ lời ca và có đủ tấm ḷng để nói lên tất cả những hoan lạc và khổ đau của cuộc t́nh" (Ngàn Lời Ca trang 110) trong đó có một số thơ của Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Bích Khê, Cung Trầm Tưởng, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên... Việc chọn những bài thơ của các nhà thơ vừa kể và phổ rất thành công những bài thơ t́nh đó cũng lần nữa cho thấy Phạm Duy là người viết nhạc t́nh và viết thành công nhất. Sự kiện các ca khúc phổ từ thơ được phổ biến rộng răi, đem tên tuổi của các nhà thơ này tới cho những người thông thường không đọc thơ hay rất ít khi đọc thơ cho thấy thành công của Phạm Duy. Phải có một hồn nhạc t́nh mới làm được công việc ông đă làm khi đem âm nhạc vào thơ. Điều đó cũng c̣n được thấy qua những đoạn ca dao được ông đem viết thành nhạc, phát triển thêm để thành những t́nh ca mới bằng cái nền dân ca. Chẳng hạn như Bài Ca Sao, Bài Ca Trăng, Đố Ai... Đem những đầu tư của ca dao, ông đưa vào các trường ca Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam để một số tiểu khúc có thể một ḿnh trở thành những t́nh ca ngắn mà Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi là một thí dụ. Những t́nh khúc kế tiếp như Ngày Đó Chúng Ḿnh (1959), Đừng Xa Nhau (1958), Mưa Rơi (1960), Đường Em Đi (1960), Mộng Du (1959), Nếu Một Mai Em Sẽ Qua Đời (1958), C̣n Ǵ Nữa Đâu (1960), Nước Mắt Rơi (1961), Tạ Ơn Đời (1959), Một Bàn Tay (1959) đều nói đến chia cách, ĺa xa, đứt đoạn, chết chóc của một hay những mối t́nh mà người trong những cuộc t́nh ấy, trong gặp gỡ đă có chấm dứt, biệt ly và tan vỡ. Người viết những nhạc khúc như thế không phải tự nhiên mà mượn ư của Hoài Trinh để viết Kiếp Nào Có Yêu Nhau năm 1958:
Trong khoảng một thập niên, nhạc t́nh của Phạm Duy, sau khi thức dậy từ giấc đông miên đằng đẵng, lại cất lên, nhưng bằng những khổ đau của cuộc t́nh không trọn vẹn, không thể đi lùi mà cũng không thể đi tới. Trong ca khúc Đừng Xa Nhau ông viết:
Trong Ngày Đó Chúng Ḿnh:
Và đây là mấy câu trong Nếu Một Mai Em Sẽ Qua Đời:
Dường như Phạm Duy, trong đời sống sáng tác của ông, cứ mỗi 10 năm, ông lại tự làm mới ḿnh. Thập niên 1947 đến 1957, rồi 1957 đến 1967. Nếu thập niên 1947 đến 1957 được đánh dấu bằng những t́nh ca tan nát khổ đau, th́ thập niên kế tiếp lại đem tới cho Phạm Duy, người viết nhạc những cảm hứng mới. Như bừng thức dậy, vùng lên, bước qua vùng bóng tối của những mối t́nh mang lại toàn thương tích, bất hạnh thương đau, Phạm Duy viết một loạt t́nh ca mà ông gọi là T́nh Ca Mùa Hạ, trong đó, mùa hạ bừng lên chói chan trước khi mùa thu của cuộc đời tràn tới. Ông viết Phượng Yêu, Hạ Hồng, Ngày Tháng Hạ, Gió Thoảng Đêm Hè trong mấy năm đầu của thập niên 70. Ngôn ngữ dùng để đặt lời cho những ca khúc này là những ngôn ngữ táo bạo, không c̣n mềm mại, tṛn trĩnh như trong Thương T́nh Ca, Ngày Đó Chúng Ḿnh, Nếu Một Mai Em Sẽ Qua Đời... nữa. Ngôn ngữ hừng hực, nóng bỏng, hối hả đầy dục tính như trong Hạ Hồng:
Khoảng mấy năm giữa cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, không biết v́ nguyên do ǵ, Phạm Duy một loạt ca khúc mà ông gọi là T́nh Ca Một Ḿnh. Khi xếp tựa của những bài ca này cạnh nhau, có thể phần nào người ta nh́n ra được những biến cố xẩy ra quanh đời sống t́nh cảm của ông: Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài (1969), Ngh́n Trùng Xa Cách (1969), Nha Trang Ngày Về (1969), Cỏ Hồng (1970), Mùa Thu Chết (1970), Giết Người Trong Mộng (1970) Trả Lại Em Yêu (1971)... Từ ngôn ngữ ẩn dụ của Cỏ Hồng thấp thoáng dục tính qua những đau đớn chia xa của Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài, Ngh́n Trùng Xa Cách tới vĩnh biệt đành đoạn Mùa Thu Chết, Giết Người Trong Mộng... người viết cho thấy ông đang từ từ dẫn người nghe nhạc của ông sang một khúc đời mới của những chuyện t́nh không có hạnh phúc ông gặp trên đường đi. Những sáng tác trong giai đoạn này có thể được coi là những bài nhạc t́nh hay nhất của ông. Đó là những chung khúc cho những mối t́nh ở hồi cuối với đoạn kết đớn đau phải tới. Cỏ Hồng về mặt nhạc ngữ xứng đáng được coi là một trong những t́nh khúc hay nhất của ông:
Năm 1975 Phạm Duy viết Chỉ Chừng Đó Thôi, bài t́nh ca ông nói là bài cuối cùng để sau đó không bao giờ réo gọi nhau nữa. Lời của bài hát như những đoạn ngũ ngôn buồn bă:
Ông muốn khép lại những chuyến đi của trái tim, cám ơn những người t́nh lần cuối nhưng rồi chu tŕnh sáng tác của Phạm Duy lại mở ra một thập niên mới. Bài t́nh ca đau đớn viết năm 1975 tưởng như đă chấm dứt cuộc đời sáng tác t́nh khúc th́ lại mở ra những không gian mới. Nhưng những t́nh khúc của ông trong những năm của thập niên trước đó vốn đă là những ca khúc đầy những tan nát, thương đau của những cuộc t́nh cuối cùng, th́ những bài ông viết sau năm 1975 lại càng đau xót, chập chùng khổ đau hơn:
Trong bài Chỉ C̣n Nhau (1978), cũng như những bài t́nh ca khác viết sau đó, người ta thấy luôn luôn là những ngoái nh́n lại, những mơ ước trở về, những hồi ức về những mối t́nh cũ, căn nhà xưa, nơi hẹn một thời:
Như trong bài Rồi Đây Anh Sẽ Đưa Em Về Nhà (1981) hay Ngh́n Năm Vẫn Chưa Quên (1983):
Trong bài tựa cho tập nhạc Ngày Đó Chúng Ḿnh Yêu Nhau xuất bản năm 1968, Phạm Duy coi ông là người bất hạnh v́ trong số bao nhiêu ca khúc đă viết, ông chỉ t́m được 14 bài hát dành cho đôi lứa mà trong đó, có 6 bài ông phải mượn ư và lời của các thi sĩ. Ông coi chuyện được người đời công nhận là một "ca nhân của ái t́nh" (chantre de l?amour) là một vinh dự lớn nhất của cuộc đời. Ông tiếc đă không làm được công việc đó và mong các nhạc sĩ trẻ khác sẽ biết dành cả đời ḿnh để ca tụng t́nh yêu vĩnh cửu. Nếu có thể nói được với Phạm Duy một điều, tôi tin là nhiều người sẽ nói rằng ông không nên nghĩ ông quá dại dột hay quá bất hạnh, nghĩ ḿnh đă không v́ những người nghe nhạc đều đă coi ông là một "ca nhân của ái t́nh". V́ những ca khúc ông để lại, ngay cả những bài ca ông không coi là t́nh ca, vẫn được người nghe coi đó là những t́nh khúc nói hộ cho hai ba thế hệ những điều khó nói nhất của những cặp t́nh nhân, an ủi những mối t́nh không may, vỗ về những đời sống bất hạnh. Ông đích thực là một "ca nhân của ái t́nh" theo những ư nghĩa đúng nhất và tốt đẹp nhất của những chữ này. Trong một tập nhạc khác in tại Sài G̣n năm 1970, Phạm Duy cho biết ông mơ ước " được suốt 4 mùa ca hát thương yêu vô tận vô biên". Có thể ông không biết, ông chỉ mơ ước được làm điều đó, nhưng đó chính lại là điều ông đă làm được trong gần hết đời sống ông đă sống. Ông là một nhạc sĩ viết nhạc t́nh và tên tuổi của ông sẽ c̣n ở lại măi chừng nào c̣n có những cặp t́nh nhân trong đời sống này hát cho nhau nghe những lời tỏ t́nh. BÙI BẢO TRÚC
|
|
|